Bat_dau_hoc_PhatD1ö D1ö BOOKMOBI ( <=*>:?J@ZAjBzCŠD šE ȘF șG ÊH ÚIêJúK LM*N:OJPZQjRzSŠTšUȘVșWÊXÚYêZú\  ]!^"*_#:`$Ja%Zb&jc'ze(Šf)šg*Șh+și,Êj-Úk.êl/úm0 n1o2*p3:q4Jr5Zs6jt7zu8Šv9šw:Șx;șy<Êz=Ú{>ê|?ú}@ ~AB*€C:DJ‚EZƒFj„Gz…HІIš‡JȘˆKș‰LʊMڋNêŒOúP ŽQR*S:‘TJ’UZ“Vj”Wz•XŠ–Yš—ZȘ˜[ș™\ʚ]ڛ^êœ_ú` žaŸb* c:ĄdJąeZŁfj€gz„hЧiššjȘ©kș«lÊŹmÚ­nêźoúŻp ±qłr*Žs:”tJ¶uZ·vjžwzčxŠșyš»zȘŒ{șœ|ÊŸ}Úż~êÀúÁ€ Â*ă:ƄJƅZdžjȇzɈŠÊ‰šËŠȘ̋ș͌Ê΍ÚώêЏúѐ ґ Ӓ *ԓ :Ք J֕ ZŚ– jۗ z٘ ŠÚ™ šÛš Șܛ șƜ ÊȚ Úߞ êàŸ úá  âĄ ăą *äŁ :〠Jæ„ ZçŠ jè§ zêš Šë© šìȘ Șí« șîŹ Êï­ Úđź êńŻ úò° ó± ôČ *őł :öŽ Jś” Zű¶ jù· zúž Šûč šüș Șę» șțŒ Êÿœ ÛŸ ëż ûÀ Á  +Ă ;Ä KĆ [Æ k Ç { È ‹ É › Ê « Ë »Ì ËÍ ÛÎ ëÏ ûĐ Ń Ò +Ó ;Ô KŐ [Ö kŚ {Ű ‹Ù ›Ú «Û »Ü ËĘ Û Ț ë!ß û"à #á$â+%ă;&äK'ć[(æk)ç{+è‹,é›-ê«.ë»/ìË0íÛ1îë2ïû3đ 4ń5ò+6ó;7ôK8ő[9ök:ś{;ű‹<ù›=ú«>û»?üË@ęÛAțëBÿûC DE+F;GKH[IkJ{K‹L ›M «N »O ËP ÛQëRûS TU+V;WKX[YkZuhuŒužj MOBIđęéIÆeUÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿ ÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿÿBat dau hoc PhatBat dau hoc Phaten-us7A9719F294

Bước Đầu Học Phật

THÍCH THANH TỪ

NXB. TÔN GIÁO - 2005

LỜI ĐẦU SÁCH

ĐẠO PHẬT

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- LÝ THUYẾT

IV.- THỰC HÀNH

V.- TRUYỀN BÁ

VI.- KẾT LUẬN

TAM QUI

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀI

IV.- QUI Y TAM BẢO TỰ TÂM

V.- NGHI THỨC QUI Y

VI.- KHẲNG ĐỊNH LẬP TRƯỜNG

VII.- KẾT LUẬN

NGŨ GIỚI

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- LỢI ÍCH BẢN THÂN

IV.- LỢI ÍCH GIA ĐÌNH XÃ HỘI

V.- KẾT LUẬN

ĐI CHÙA LỄ PHẬT

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐI CHÙA

III.- LỄ PHẬT

VI.- KẾT LUẬN

SÁM HỐI

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- HÌNH THỨC SÁM HỐI

IV.- TINH THẦN SÁM HỐI

V.- LỢI ÍCH SÁM HỐI

VI.- KẾT LUẬN

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- CÚNG DƯỜNG SAI LẠC

IV.- CÚNG DƯỜNG ĐÚNG PHÁP

V.- LỢI ÍCH CÚNG DƯỜNG

VI.- KẾT LUẬN

PHẬT GIÁO ĐỘ SANH

I. MỞ ĐỀ

II. GIẢNG DẠY

III.- DỊCH KINH VIẾT SÁCH

IV. THỌ CÚNG DƯỜNG

V.- DĨ HUYỄN ĐỘ CHÂN

VI. KẾT LUẬN

LUÂN HỒI

I.- MỞ ĐỀ

II. ĐỊNH NGHĨA

III. LUÂN HỒI  LÀ SỰ THẬT

IV.- ĐỘNG CƠ LUÂN HỒI

V.- TẤT YẾU CỦA LUÂN HỒI

VI. THOÁT LY LUÂN HỒI

VII.-  KẾT LUẬN

TAM ĐỘC

I.- MỞ ĐỀ

II. HÌNH TƯỚNG TAM ĐỘC

III.- TRỪ TAM ĐỘC

IV.- KẾT LUẬN

TỪ BI

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- MỚI TẬP TỪ BI

IV.- ĐÃ TẬP TỪ BI

V.- CỨU KÍNH TỪ BI

VI.- KẾT LUẬN

MÊ TÍN CHÁNH TÍN

I.- MỞ ĐỀ

II.- MÊ TÍN

III.- TAI HẠI MÊ TÍN

IV.- CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN ?

V.- CHÁNH TÍN

VI.- LỢI ÍCH CHÁNH TÍN

VII.- KẾT LUẬN

TỘI PHƯỚC

I.- MỞ ĐỀ

II.- THẾ NÀO LÀ TỘI ?

III.- THẾ NÀO LÀ PHƯỚC ?

IV.- CẦN TRÁNH TỘI LÀM PHƯỚC

V.- KẾT LUẬN

NGHIỆP  BÁO

I.- MỞ ĐỀ

II.- ĐỊNH NGHĨA

III.- TỪ ĐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP ?

IV.- TỪ ĐÂU CÓ BÁO ỨNG ?

V.-NGHIỆP BÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

VI.- LÀM SAO HẾT NGHIỆP

VII.- KẾT LUẬN

GIÁC NGỘ PHÁP GÌ

ỨNG DỤNG TU NGŨ THỪA PHẬT GIÁO

I.- MỞ ĐỀ

II.- GIÁC NGỘ LÝ NHÂN QUẢ, LUÂN HỒI ỨNG DỤNG TU NHÂN THỪA, THIÊN THỪA

III. GIÁC NGỘ LÝ VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, ỨNG DỤNG TU THANH VĂN THỪA.

IV.- GIÁC NGỘ LÝ NHÂN DUYÊN ỨNG DỤNG TU DUYÊN GIÁC THỪA

V.- GIÁC NGỘ LÝ DUYÊN KHỞI TÁNH KHÔNG, TU BỒ-TÁT THỪA

TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ĐẠO PHẬT QUA NGÀY  LỄ  VU-LAN

PHÁP TU CĂN BẢN CỦA PHẬT TỬ (PHẬT PHÁP HÓA NHÂN GIAN)

PHÁP  TU  CĂN  BẢN

QUAN  NIỆM  SAI  LẦM

TU  LÀ  TUYÊN  CHIẾN  VỚI  MA  QUÂN

CỤ  THỂ  HÓA  PHÁP  TU  CĂN  BẢN

TU  CHUYỂN   BA  NGHIỆP  LÀ  CĂN BẢN  PHẬT  PHÁP

TU TRONG MỌI HOÀN CẢNH

TU TRONG CẢNH BẬN RỘN

TU TRONG CẢNH NGHÈO KHÓ

TU TRONG CẢNH BỆNH HOẠN

TU TRONG CẢNH TẠI GIA

CHỨNG MINH MỌI HOÀN CẢNH ĐỀU TU ĐƯỢC

HOA SEN TRONG BÙN

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA (Siddharta) SỐNG TRONG HOÀNG CUNG

THÁI TỬ ĐI TU VÀ THÀNH PHẬT

PHẬT NGỒI TRÊN ĐÀI SEN

CÁ NHẢY KHỎI LƯỚI

XUẤT TRẦN

TRẦN NHÂN TÔNG ÔNG VUA, TU SĨ

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG

BỒ-TÁT SỢ NHÂN CHÚNG SANH SỢ QUẢ

NGHĨA BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH

BỒ-TÁT SỢ NHÂN

CHÚNG SANH SỢ QUẢ

BỒ-TÁT TẠO NHÂN

CHÚNG SANH CẦU QUẢ

SỰ SAI BIỆT GIỮA BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH

CHẤP LÀ GỐC ĐẤU TRANH LÀ NGUỒN ĐAU KHỔ

ĐẠI Ý KINH PHÚ-LÂU-NA

GIẢI RỘNG PHÁP TU

LÝ DO NÀO NGÀI TU CHỨNG NHANH CHÓNG

KINH PHẠM VÕNG CŨNG ĐỒNG Ý TRÊN

KINH KIM CANG BÁT-NHÃ TINH THẦN CŨNG TƯƠNG TỢ

KINH LĂNG NGHIÊM CŨNG ĐỒNG TINH THẦN NÀY

CHẤP  LÀ  SI  MÊ

CỐT LÕI ĐẠO PHẬT

GIÁC NGỘ ĐAU KHỔ

GIÁC NGỘ LÝ NGHIỆP DẪN

GIÁC NGỘ TU NGHIỆP THIỆN

GIÁC NGỘ DỨT NGHIỆP

THIỀN TIỆM THỨ

THIỀN ĐỐN NGỘ

GIÁC NGỘ PHÁP THÂN

THẦM NGỘ LÀ ĐỦ LÒNG TIN

KẾT THÚC

CHỮ “TỨC” TRONG  PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

SẮC TỨC LÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC

PHIỀN NÃO TỨC BỒ-ĐỀ

SANH TỬ TỨC NIẾT-BÀN

THIỆN TỨC ÁC, ÁC TỨC THIỆN, PHẢI TỨC QUẤY, QUẤY TỨC PHẢI

CHỮ TỨC ĐỐI TRONG VẠN VẬ;T

HIỆU DỤNG CHỮ TỨC TRONG SỰ TU HÀNH

THẤY THÂN GIẢ DỐI CÓ PHẢI QUAN NIỆM CHÁN ĐỜI CHĂNG?

THẤY THÂN HUYỄN HÓA LÀ ĐÚNG LẼ THẬT

THẤY THÂN HUYỄN HÓA ĐỂ TRỪ TAM ĐỘC

THẤY THÂN HUYỄN HÓA ĐẠT ĐẾN KHÔNG HUYỄN HÓA

BI TRÍ TRÒN ĐỦ

KẺ SI MÊ NGƯỜI TRÍ TUỆ CAN ĐẢM HY SINH

KẾT THÚC

SỐ MẠNG NGHIỆP BÁO ĐỒNG HAY KHÁC?

ĐỒNG

KHÁC

PHÊ BÌNH

NGHIỆP BÁO KHÔNG THẬT

PHẬT  LÀ  GÌ ?

THẾ NÀO LÀ PHẬT PHÁP?

CHÂN LÝ PHỔ BIẾN

II. DuyĂȘn sanh:

CHÂN LÝ TƯƠNG ĐỐI

CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI

HỌC PHẬT BẰNG CÁCH NÀO?

LÀM SAO TU THEO PHẬT?

KẾT LUẬN


LỜI ĐẦU SÁCH

ChĂșng tĂŽi viết quyển sĂĄch nĂ y cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song khĂŽng kĂ©m phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khĂł mĂ  đĂșng được. Người học Phật khi mới vĂ o đạo khĂŽng hiểu đĂșng tinh thần Phật giĂĄo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu. Người cĂł trĂĄch nhiệm hướng dẫn khĂŽng thể xem thường kẻ mới học, cần phải xĂąy dựng cĂł một căn bản vững chắc, đi đĂșng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giĂĄo một cĂĄch đĂșng đắn, mới mong thĂ nh một Phật tử chĂąn chĂĄnh.

VĂŹ muốn chỉ lẽ chĂĄnh tĂ  để người mới vĂ o đạo khỏi lầm lẫn, nĂȘn chĂșng tĂŽi mạnh dạn chỉ thẳng những điều sai lầm hiện cĂł trong Phật giĂĄo. LĂ m như thế, khĂŽng cĂł nghĩa chĂșng tĂŽi muốn vạch lưng chỉ thẹo cho kẻ khĂĄc thấy, mĂ  cốt yếu muốn gầy dựng lại một nếp sống Phật giĂĄo phĂč hợp với hiện tại vĂ  mai sau. ChĂșng ta sống trong thời khoa học, cần phải truyền bĂĄ Phật giĂĄo thĂ­ch ứng với chĂąn lĂœ gần với sự thật. Bản chất của Phật giĂĄo đĂŁ lĂ  chĂąn lĂœ, lĂ  sự thật, chĂșng ta đừng lĂ m mĂ©o mĂł khiến kẻ bĂ ng quan hiểu lầm Phật giĂĄo. Với nhiệt tĂŹnh, chĂșng tĂŽi một b&#7873; đả phĂĄ những mĂȘ tĂ­n đang ẩn nĂĄu trong Phật giĂĄo, để cho bộ mặt Phật giĂĄo trắng sạch hơn, khĂŽng cĂČn những thứ lọ nhơ lĂ m lem luốc. Tinh thần tồi tĂ  phụ chĂĄnh, chĂșng tĂŽi chịu trĂĄch nhiệm những gĂŹ chĂșng tĂŽi đĂŁ nĂłi vĂ  hoĂ n toĂ n chịu trĂĄch nhiệm với những ai khĂŽng hĂ i lĂČng phiền trĂĄch chĂșng tĂŽi.

KĂ­nh ghi

ThĂ­ch Thanh Từ


ĐẠO PHẬT

I.- M ĐỀ

ChĂșng sanh đang chĂŹm đắm trong biển khổ sanh tử, dong thuyền ra cứu vớt họ lĂ  sự ra đời của đạo Phật. ĐĂȘm tối vĂŽ minh che phủ tất cả chĂșng sanh, cầm đuốc sĂĄng soi đường cho họ lĂ  trĂĄch nhiệm của đạo Phật. Đạo Phật đến với chĂșng sanh trong một niềm khĂĄt vọng vĂŽ biĂȘn, một sự trĂŽng chờ tột độ. Nhưng, con thuyền cĂł giĂĄ trị cứu mạng khi nĂ o người sắp chết chĂŹm biết bĂĄm lấy nĂł. Ngọn đuốc lĂ  một cứu tinh, khi nĂ o những kẻ lạc đường trong đĂȘm tối khao khĂĄt muốn ra. Con thuyền vĂ  ngọn đuốc sẽ vĂŽ bổ, nếu những kẻ sắp chết chĂŹm vĂ  người lạc trong đĂȘm tối chấp nhận cĂĄi gĂŹ mĂŹnh đang chịu. Cũng thế, đạo Phật sẽ vĂŽ Ă­ch với những chĂșng sanh chấp nhận sanh tử vĂ  an phận trong vĂŽ minh. VĂŹ thế, đạo Phật cĂł mặt trĂȘn thế giới nĂ y đĂŁ hơn hai ngĂ n năm trăm năm, cĂČn biết bao nhiĂȘu người nhĂŹn nĂł với cặp mắt xa lạ. Song những kẻ đĂŁ nếm được phĂĄp vị, thấy cĂŽng đức của đạo Phật đối với mĂŹnh vĂŽ vĂ n khĂŽng sao kể hết. Thật đĂșng với cĂąu “Phật hĂła hữu duyĂȘn nhĂąn”.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Đứng về hĂ nh động, đạo Phật lĂ  con đường đưa người trở về cố hương giĂĄc ngộ. Hoặc đạo Phật lĂ  phương phĂĄp giĂșp người tiến tu đến giĂĄc ngộ. Đứng về thực thể, đạo Phật lĂ  tĂĄnh giĂĄc sẵn cĂł của tất cả chĂșng sanh.

Những kẻ phiĂȘu lưu ở tha phương viễn xứ ước mơ khao khĂĄt trở về cố hương, đạo Phật lĂ  tấm bản đồ vẽ rĂ” con đường trở về cố hương, do bĂ n tay của người đồng cảnh ngộ đĂŁ trở về đến tận quĂȘ nhĂ , đức ThĂ­ch-ca MĂąu-ni. Nếu Ăœ thức được cảnh khổ của người xa quĂȘ, một lĂČng quyết chĂ­ trở về cố hương được người trao tay cho tấm bản đồ, biết rĂ” con đường về quĂȘ thĂŹ cĂČn sung sướng nĂ o hơn. KhĂŽng cam chĂŹm sĂąu trong đĂȘm tối vĂŽ minh, người cương quyết tiến lĂȘn con đường giĂĄc ngộ, nắm vững những phương tiện tiến tu, chắc chắn sớm chiều sẽ được mĂŁn nguyện.

Đứng trĂȘn bờ biển thấy toĂ n biển đều lĂ  sĂłng, bởi cơn giĂł mạnh, người ta ngơ ngĂĄc khĂŽng biết lĂ m sao tĂŹm ra nước biển. Nếu đĂąy lĂ  sĂłng thĂŹ nước biển ở đĂąu ? Những lượn sĂłng đuổi nhau lặn hụp hĂČ hĂ©t ầm ĂŹ, mặt biển lĂ  những cĂĄi biến động ấy sao? Người sĂĄng suốt nghe thế, bảo họ rằng: “ChĂ­nh sĂłng ấy tức lĂ  nước”, “cĂĄi biến động kia chỉ lĂ  hiện tượng của mặt biển tĩnh lặng”. HĂŁy ngay nơi sĂłng, chĂșng ta nhận ra nước, trĂȘn cĂĄi biến động biết được thể tịnh. Hiện tướng vĂŽ minh vĂ  tĂĄnh giĂĄc cũng thế.

Tất cả những vọng tưởng điĂȘn đảo lĂ  hiện tướng vĂŽ minh, vọng tưởng lặng lẽ lĂ  tĂĄnh giĂĄc thanh tịnh.

Tuy hai tĂȘn hai tướng khĂĄc nhau, song khĂŽng thể rời vĂŽ minh tĂŹm được tĂĄnh giĂĄc, như sĂłng với nước. TĂĄnh giĂĄc lĂ  cĂĄi thể chẳng sanh chẳng diệt của mỗi con người chĂșng ta, hằng tĂ ng ẩn trong con người vĂŽ thường sanh diệt nĂ y, như thể tĩnh lặng của mặt biển sẵn cĂł trĂȘn tướng biến động ầm ĂŹ. Bởi chĂșng sanh sẵn cĂł tĂĄnh giĂĄc mĂ  quĂȘn, nĂȘn đức ThĂ­ch-ca thương xĂłt giĂĄo hĂła chỉ dạy cho thức tỉnh, đĂł lĂ  đạo Phật.

Chủ yếu của đạo Phật lĂ  giĂĄc ngộ, nĂȘn được biểu trưng bằng phĂłng quang, ngọc minh chĂąu, cĂąy đuốc, ngọn đĂšn. NĂłi đến đạo Phật lĂ  nĂłi đến giĂĄc ngộ; mọi hĂŹnh thức mĂȘ tĂ­n hiện cĂł trong đạo Phật, do người sau ứng dụng sai lầm, chớ khĂŽng phải thực chất của đạo Phật.

III.- LÝ THUYT

Phần lĂœ thuyết của đạo Phật rất phong phĂș, nĂłi chung lĂ  Tam Tạng giĂĄo điển, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật vĂ  Tạng Luận. Tam Tạng nĂ y hiện ấn hĂ nh cĂł hai văn hệ: Bali Tạng, HĂĄn Tạng. Bali Tạng thuộc Nam truyền Phật giĂĄo, HĂĄn Tạng thuộc Bắc truyền Phật giĂĄo. Ở đĂąy, chĂșng tĂŽi nĂłi về hệ thống HĂĄn Tạng. Bộ HĂĄn Tạng hiện do Nhật Bản vĂ  ĐĂ i Loan ấn hĂ nh gồm trĂȘn năm ngĂ n quyển. Thật lĂ  một kho tĂ ng văn hĂła dồi dĂ o, chĂ­nh những người tu sĩ Phật giĂĄo cũng chưa chắc đĂŁ đọc hết. Trong ba Tạng, quan trọng nhất lĂ  tạng Kinh, vĂŹ tạng Luận lĂ  giải thĂ­ch lại tạng Kinh, cĂČn tạng Luật nĂłi rĂ” về nghi thức luật lệ của người tu. Trong tạng Kinh tổng quĂĄt chia lĂ m ba phần : hệ thống A-hĂ m, hệ thống BĂĄt-nhĂŁ, hệ thống PhĂĄp Hoa, Niết-bĂ n, Hoa NghiĂȘm. Hệ thống A-hĂ m giải thĂ­ch về triết lĂœ vĂŽ thường, khổ, khĂŽng, vĂŽ ngĂŁ. Hệ thống BĂĄt-nhĂŁ giải thĂ­ch tự tĂĄnh cĂĄc phĂĄp lĂ  KhĂŽng, chỗ tĂĄnh KhĂŽng ấy lĂ  tướng chĂąn thật. Hệ thống PhĂĄp Hoa, Niết-bĂ n, Hoa NghiĂȘm giải thĂ­ch chĂșng sanh sẵn cĂł tĂĄnh giĂĄc gọi lĂ  TrĂ­ tuệ Phật, Tri kiến Phật, Niết-bĂ n.

Tuy nhiĂȘn, vĂŹ truyền bĂĄ lĂąu xa khĂł trĂĄnh khỏi những tư tưởng tập tục sai lầm chen lẫn trong chĂĄnh phĂĄp. ChĂșng ta muốn phĂĄn định chĂĄnh tĂ , trong kinh cĂł dạy dĂčng Tứ phĂĄp ấn, Tam phĂĄp ấn, Đệ nhất phĂĄp ấn để ấn định đĂșng sai. Tứ phĂĄp ấn lĂ  vĂŽ thường, khổ, khĂŽng, vĂŽ ngĂŁ. Tất cả những kinh thuộc hệ thống A-hĂ m nĂłi khĂŽng ngoĂ i bốn lĂœ nĂ y, nếu nĂłi khĂĄc bốn lĂœ nĂ y lĂ  tĂ  thuyết. Tam phĂĄp ấn lĂ  chư hạnh vĂŽ thường, chư phĂĄp vĂŽ ngĂŁ, Niết-bĂ n tịch tịnh. ĐĂąy lĂ  trĂčm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều nằm gọn trong ấy. Đ&#7879; nhất phĂĄp ấn lĂ  Nhất tĂąm chĂąn như. Phần nĂ y chỉ riĂȘng hệ thống PhĂĄp Hoa..., khĂŽng can hệ đến hai hệ thống kia. Nắm được cĂĄi căn bản nĂ y, chĂșng ta tạm biết cương yếu học Phật.

Phần lĂœ thuyết của đạo Phật khĂĄc hẳn với thuyết lĂœ của những triết gia, học giả khĂĄc. Bởi vĂŹ họ dĂčng suy tư nghĩ tưởng biện thuyết, cĂČn đĂąy do đức Phật sau khi giĂĄc ngộ thấy lẽ thật như thế, tĂčy hoĂ n cảnh trường hợp đem ra chỉ dạy cho người. Người khĂ©o ứng dụng lời Phật dạy vĂ o cuộc sống sẽ được kết quả tốt đẹp, hoĂ n toĂ n khĂŽng họa hại. Cho nĂȘn, trong kinh nĂłi “lời Phật nĂłi trước, giữa, sau đều thiện”.

IV.- THỰC HÀNH

Ứng dụng phần lĂœ thuyết trĂȘn vĂ o cuộc sống hiện tại, sẽ được kết quả tĂčy theo khả năng phương phĂĄp mĂŹnh thực hĂ nh. Sự thực hĂ nh cĂł chia nhiều thứ bậc: Ngũ thừa, Tam thừa, Nhất thừa. Chữ thừa ở đĂąy vĂ­ dụ cỗ xe chở người đi. Từ vị trĂ­ con người chở đến con người lĂ  NhĂąn thừa. Từ vị trĂ­ con người chở đến quả vị chư thiĂȘn gọi lĂ  ThiĂȘn thừa. Từ vị trĂ­ con người chở đến quả vị Thanh văn gọi lĂ  Thanh văn thừa. Từ vị trĂ­ con người chở đến quả vị DuyĂȘn giĂĄc gọi lĂ  DuyĂȘn giĂĄc thừa. Từ vị trĂ­ con người chở đến quả vị Bồ-tĂĄt gọi lĂ  Bồ-tĂĄt thừa. ĐĂł gọi lĂ  Ngũ thừa. Bỏ hai phần NhĂąn thừa vĂ  ThiĂȘn thừa cĂČn lại ba thừa sau gọi lĂ  Tam thừa. Từ vị trĂ­ con người phĂ m phu chở thẳng đến quả vị Phật gọi lĂ  Phật thừa hay Nhất thừa.

Từ vị trĂ­ con người đến vị trĂ­ con người mai hậu lĂ , ứng dụng tu hĂ nh Tam qui Ngũ giới vĂ  những nề nếp sống hiền lĂ nh chĂąn thật của con người. Từ vị trĂ­ con người đến quả vị chư ThiĂȘn, ứng dụng phĂĄp Thập Thiện vĂ o đời sống tu hĂ nh vĂ  Thiền định từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Từ vị trĂ­ con người đến quả vị Thanh văn, ứng dụng phĂĄp Tứ đế để tu hĂ nh. Từ vị trĂ­ con người đến quả v883; DuyĂȘn giĂĄc ứng dụng phĂĄp Thập nhị nhĂąn duyĂȘn tu hĂ nh. Từ vị trĂ­ con người đến quả vị Bồ-tĂĄt ứng dụng phĂĄp Lục độ tu hĂ nh. Từ vị trĂ­ con người phĂ m phu thẳng đến quả vị Phật ứng dụng phương phĂĄp “tức tĂąm lĂ  Phật” tu hĂ nh. VĂ­ như chĂșng ta muốn đi đến vị trĂ­ nĂ o, khi ra bến xe liền tĂŹm xe đi về vị trĂ­ ấy leo lĂȘn, sẽ đưa chĂșng ta đi đến đĂ­ch như chỗ mong muốn. Đạo Phật cũng thế, tĂčy theo sở thĂ­ch của người mĂ  lập nhiều phĂĄp mĂŽn, ưng phĂĄp mĂŽn nĂ o ứng dụng tu hĂ nh đều kết quả đĂșng như sở nguyện. ĐĂł lĂ  phương tiện tĂčy cơ của đức Phật trĂȘn phương phĂĄp giĂĄo hĂła chĂșng sanh. Nếu nĂłi thẳng bản hoĂ i của NgĂ i, chỉ muốn chĂșng sanh thĂ nh Phật lĂ  mục tiĂȘu duy nhất.

Đao Phật truyền sang Trung Quốc lại chia thĂ nh nhiều tĂŽng phĂĄi, mỗi tĂŽng phĂĄi y cứ trĂȘn những bộ Kinh hay Luận lĂ m chủ yếu cho sự tu hĂ nh. Nếu nĂłi rộng cĂł cả thảy mười tĂŽng, nĂłi hẹp theo sự truyền bĂĄ hiện tại cĂł bốn tĂŽng. Hiện nay cĂČn bốn tĂŽng đang lưu hĂ nh lĂ  ThiĂȘn Thai tĂŽng, Thiền tĂŽng, Mật tĂŽng, Tịnh Độ tĂŽng. Phật giĂĄo Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giĂĄo Trung Quốc, sự lưu hĂ nh cĂĄc tĂŽng phĂĄi cũng tương tợ Trung Quốc.

V.- TRUYỀN BÁ

Ở đĂąy nĂłi truyền bĂĄ lĂ  đi thẳng vĂ o phương phĂĄp, khĂŽng căn cứ trĂȘn lịch sử. Những lời dạy của đức Phật được gọi lĂ  Kinh, bởi hai lĂœ do: hợp lĂœ vĂ  hợp cơ. Một chĂąn lĂœ dĂč cao siĂȘu đến đĂąu, nếu khĂŽng ứng dụng được vĂ o cuộc đời, chĂąn lĂœ ấy trở thĂ nh khĂŽng nền tảng, chỉ lơ lửng trĂȘn khĂŽng trung. ChĂąn lĂœ khĂŽng ĂĄp dụng được cho người sẽ lĂ  vĂŽ Ă­ch. Truyền bĂĄ sự vĂŽ Ă­ch thật lĂ  lĂ m một điều vĂŽ nghĩa. Lời Phật dạy đĂșng chĂąn lĂœ gọi lĂ  hợp lĂœ, song lời dạy ấy cũng phải hợp căn cơ trĂŹnh độ của con người đương thời thĂŹ họ ứng dụng mới được. Hợp lĂœ hợp cơ lĂ  hai điều kiện khĂŽng thể thiếu trĂȘn phương diện truyền bĂĄ. Nếu chỉ dạy thĂ­ch hợp sự ưa thĂ­ch của người mĂ  khĂŽng cĂł chĂąn lĂœ sẽ đưa đến mĂȘ tĂ­n vĂ  tội lỗi. Một trọng trĂĄch của người truyền bĂĄ, phải nh&#7853;n định sĂĄng suốt, để khĂŽng bị lỗi thời hay sai chĂąn lĂœ. ChĂ­nh đĂąy lĂ  Ăœ nghĩa “tĂčy duyĂȘn mĂ  bất biến” của tinh thần Đại thừa. Bất biến lĂ  hợp lĂœ, tĂčy duyĂȘn lĂ  hợp cơ. Thật lĂ  một hĂŹnh ảnh linh động đi vĂ o cuộc đời của chĂĄnh phĂĄp. Người truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp lĂșc nĂ o cũng linh động mĂ  khĂŽng sai chĂąn lĂœ. Bởi cuộc đời lĂ  một dĂČng biến thiĂȘn, mỗi thời đều mỗi khĂĄc, chĂșng ta khĂŽng thể mang hĂŹnh thức cổ lỗ đi vĂ o thời đại văn minh. LĂ m thế, chỉ chuốc sự chĂĄn chĂȘ của thiĂȘn hạ, khĂŽng lợi gĂŹ cho mĂŹnh, cho chĂĄnh phĂĄp cả. Cũng khĂŽng thể mang hĂŹnh thức rất hợp thời trang, mĂ  bỏ mất chĂąn lĂœ. TĂčy duyĂȘn mĂ  bất biến, quả lĂ  chĂąn lĂœ ngĂ n đời của người đi ra giĂĄo hĂła.

Lại nữa, con người sống lĂșc nĂ o cũng dung hĂČa giữa tĂŹnh cảm vĂ  lĂœ trĂ­. TĂŹnh cảm lĂ  quả tim, lĂœ trĂ­ lĂ  khối Ăłc. Quả tim vĂ  khối Ăłc phải nhịp nhĂ ng hĂČa điệu thĂŹ con người mới thanh thản an vui. NghiĂȘng một bĂȘn nĂ o cũng lĂ m mất thăng bằng, khiến con người dễ mất bĂŹnh thường. Đạo Phật muốn cĂČn mĂŁi trĂȘn nhĂąn gian với con người, sự truyền bĂĄ cũng phải lĂ m thỏa mĂŁn hai phần ấy. Để thỏa mĂŁn phần khối Ăłc, người truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp phải thường giảng dạy Kinh Luận cho Phật tử nghe. Thấm nhuần triết lĂœ cao siĂȘu của Phật giĂĄo, người Phật tử mới khỏi nghi ngờ khi nghe một lĂœ thuyết khĂĄc. Sự tu hĂ nh vững chĂŁi, cũng nhờ hiểu thấu giĂĄo lĂœ siĂȘu thoĂĄt của Phật dạy. GiĂĄo lĂœ lĂ  ngọn đuốc sĂĄng đưa người ra khỏi rừng vĂŽ minh u tối. CĂł sẵn trong tay ngọn đuốc sĂĄng, người Phật tử chắc chắn sẽ thoĂĄt khỏi rừng mĂȘ. Để thỏa mĂŁn con tim, những hĂŹnh thức nghi lễ tĂĄn tụng ở nhĂ  chĂča, giĂșp người Phật tử niềm tin được sung mĂŁn. Những buổi lễ tại chĂča đều cĂł mang tĂ­nh chất tĂ­n ngưỡng, phổ nhạc trong những lời tụng tĂĄn đều lĂ  đi thẳng vĂ o tĂŹnh cảm của con người. Tuy chưa hiểu gĂŹ về Phật phĂĄp, chỉ đến chĂča tụng một thời kinh, người ta cũng thấy lĂČng được nhẹ nhĂ ng lĂąng lĂąng. Hoặc những đĂȘm khuya tĩnh mịch, những lời tụng tĂĄn thĂąm trầm hĂČa với tiếng khĂĄnh tiếng mĂ” nhịp nhĂ ng, khiến người nghe tĂąm hồn dường như bay bổng trĂȘn khĂŽng trung. Tuy nhiĂȘn như thế, hai phần lĂœ trĂ­ vĂ  tĂŹnh cảm đều phải quĂąn bĂŹnh nhau, lệch một bĂȘn đều lĂ  khuyết điểm lớn. Nếu chỉ cĂł lĂœ trĂ­ mĂ  thiếu tĂŹnh cảm trở thĂ nh khĂŽ khan. Nếu chỉ cĂł tĂŹnh cảm mĂ  thiếu lĂœ trĂ­ trở thĂ nh mĂȘ tĂ­n. Người truyền giĂĄo phải khĂ©o lĂ©o quĂąn bĂŹnh hai điều nĂ y.

VI.- KẾT LUẬN

Đạo Phật cĂł mặt ở thế giới nĂ y đĂŁ trĂȘn hai mươi lăm thế kỷ, sự truyền bĂĄ nĂ y quả thật lĂąu dĂ i. Sở dĩ được như thế, do Phật giĂĄo lĂ  chĂąn lĂœ khĂŽng lĂœ thuyết nĂ o bẻ gĂŁy nổi, người tu hĂ nh theo Phật giĂĄo được kết quả lợi Ă­ch thiết thực khĂŽng nghi ngờ, phương phĂĄp truyền bĂĄ của Phật giĂĄo rất linh động. ChĂșng ta hữu duyĂȘn hữu phước mới được gội nhuần chĂĄnh phĂĄp,  đừng cĂŽ phụ phước duyĂȘn của mĂŹnh, mỗi chĂșng ta phải nỗ lực tiến tu. CĂł thưởng thức được phĂĄp vị rồi, chĂșng ta mới tĂčy duyĂȘn lợi Ă­ch kẻ sau. LĂ m thế nĂ o cho ngọn đĂšn chĂĄnh phĂĄp nối tiếp mĂŁi khĂŽng tắt trĂȘn cĂ”i thế gian nĂ y. Đền ơn Phật Tổ khĂŽng gĂŹ hơn cứu độ chĂșng sanh. Sự cứu độ thực tế nhất, phải ngay cĂ”i đời nĂ y, với những người cĂł mặt hiện nay, khiến họ chuyển mọi khổ đau trở thĂ nh an lạc. Phật giĂĄo khĂŽng phải cĂĄi gĂŹ xa vời, khĂŽng phải sự ước mơ viển vĂŽng, mĂ  hiện tại thực tế. Nhận định như thế, mới cĂł thể đem đạo Phật vĂ o cuộc đời một cĂĄch hữu hiệu.

TAM QUI

I.- MỞ ĐỀ

Sống trong cuộc đời muĂŽn mặt, người muốn chọn lấy một lối đi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ Ăœ nghĩa vĂ  an lĂ nh, thật khĂŽng phải lĂ  việc dễ. ChĂșng ta lĂ  khĂĄch lữ hĂ nh đang đứng trước ngĂŁ tư ngĂŁ năm, mĂ  chưa biết cuối cĂčng cĂĄc con đường ấy sẽ đưa đến đĂąu? Chọn lấy một con đường để đi đến suốt đời, phải khĂŽn ngoan sĂĄng suốt lắm mới khỏi hối hận về mai sau. Nhưng mĂ  bắt buộc chĂșng ta phải chọn lấy, đừng nhờ nhĂ”i, đừng nghe lời xĂși giục, vĂŹ đĂąy lĂ  con đường tự ta đi khĂŽng ai thế ta được. Chọn kỹ rồi sẽ đi, lĂ  thĂĄi độ của kẻ khĂŽn ngoan; nhắm mắt đi cĂ n phĂł mặc đến đĂąu hay đến đĂł, lĂ  kẻ khờ dại, mang cả cuộc đời lĂ m một trĂČ chơi. Người trĂ­ phải nhĂŹn kỹ, phải xem xĂ©t tường tận trước khi mĂŹnh cất bước đi trĂȘn một con đường nĂ o. Qui y Tam Bảo quả lĂ  đĂŁ đặt mĂŹnh trĂȘn một con đường đi đến tận cĂčng. Đến tận đầu đường lĂ  suốt cuộc đời của chĂșng ta. Việc lĂ m nĂ y cần phải hiểu biết rĂ”, nhận thức tường tận, mới phĂĄt tĂąm Qui y. PhĂĄt nguyện Qui y lĂ  chĂșng ta đĂŁ đặt định hướng cho cả cuộc đời. Nếu khĂŽng hiểu biết gĂŹ thĂŹ việc Qui y mất hết Ăœ nghĩa của nĂł.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Tam qui nĂłi đủ lĂ  Qui y Tam Bảo. Tam Bảo lĂ  Phật bảo, PhĂĄp bảo vĂ  Tăng bảo. Phật lĂ  chỉ đức Phật ThĂ­ch-ca MĂąu-ni, do trước kia NgĂ i tu hĂ nh giĂĄc ngộ thĂ nh Phật. PhĂĄp bảo lĂ  giĂĄo phĂĄp do đức Phật nĂłi ra chỉ dạy đường lối tu hĂ nh. Tăng bảo lĂ  những vị tu hĂ nh theo giới luật vĂ  chĂĄnh phĂĄp của đức Phật.

Tại sao gọi lĂ  Phật bảo?

- Từ một kẻ phĂ m phu như chĂșng ta tu hĂ nh thĂ nh Phật thật lĂ  chuyện Ă­t cĂł trĂȘn nhĂąn gian nĂ y. Thế nĂȘn trong kinh thường nĂłi Phật ra đời khĂł gặp, như hoa Ưu-đĂ m một ngĂ n năm mới trổ một lần. Bởi Ă­t cĂł khĂł gặp nĂȘn nĂłi lĂ  bĂĄu. Hơn nữa, giĂĄc ngộ thĂ nh Phật tự bản thĂąn NgĂ i đĂŁ thoĂĄt khỏi sanh tử luĂąn hồi, đem chỗ giĂĄc ngộ ấy dạy lại cho người cĂčng ra khỏi sanh tử, lĂ  điều cao cả nhất trần gian nĂȘn gọi lĂ  bĂĄu.

Thế nĂ o gọi lĂ  PhĂĄp bảo?

- ChĂĄnh phĂĄp xuất thế hi hữu do đức Phật dạy lại, người nghe rất khĂł hiểu khĂł thấu đĂĄo được. Nhưng một khi đĂŁ hiểu, ứng dụng tu hĂ nh cĂł thể chuyển đời phĂ m phu trở thĂ nh thĂĄnh nhĂąn, phĂĄp như vậy cĂČn gĂŹ quĂ­ bĂĄu bằng. PhĂĄp của Phật dạy lĂ  chĂąn lĂœ, dĂč trải thời gian bao lĂąu chĂąn lĂœ ấy vẫn rạng ngời như hĂČn ngọc bĂĄu. Những kẻ đang lạc lối trong đĂȘm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quĂ­ tiếc thế nĂ o, người học đạo gặp được chĂĄnh phĂĄp cũng như thế. Người đang bị chĂŹm đắm ngoĂ i bể cả, trĂŽng thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quĂ­ mến thế nĂ o, người học đạo gặp được chĂĄnh phĂĄp cũng như thế. Cho nĂȘn nĂłi “trăm ngĂ n muĂŽn kiếp khĂł tĂŹm gặp”.

Thế nĂ o gọi lĂ  Tăng bảo?

- Tăng lĂ  chỉ cho một nhĂłm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đĂșng tinh thần Lục hĂČa. Sống đĂșng tinh thần Lục hĂČa lĂ  việc Ă­t cĂł trĂȘn nhĂąn gian nĂ y. Bởi vĂŹ người thế gian sống đua đĂČi giĂ nh giật hơn thua với nhau, khĂŽng bao giờ họ sống hĂČa thuận như thế được. Lục hĂČa lĂ : thĂąn hĂČa chung ơ,Ă» miệng hĂČa khĂŽng tranh cĂŁi, Ăœ hĂČa đồng vui, giới luật hĂČa cĂčng giữ, hiểu biết hĂČa cĂčng giải, lợi hĂČa chia đồng. SĂĄu điều nĂ y lĂ  tinh thần của Tăng. Nếu cĂł người đầu trĂČn ĂĄo vuĂŽng mĂ  khĂŽng sống theo tinh thần Lục hĂČa cũng khĂŽng gọi lĂ  Tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lĂȘn, hằng hĂČa thuận chung sống đĂșng tinh thần Lục hĂČa, việc nĂ y rất khĂł lĂ m đối với người thế gian. VĂŹ thế, tu sĩ sống khuĂŽn theo tinh thần Lục hĂČa, thật lĂ  một điều quĂ­ bĂĄu ở trĂȘn nhĂąn gian. Vả lại, trĂȘn sự tu hĂ nh, cĂĄc vị ấy tự mĂŹnh đĂŁ vơi cạn phiền nĂŁo, cĂČn dạy bảo kẻ khĂĄc dẹp bỏ phiền nĂŁo. ChĂ­nh những vị ấy đĂŁ được phần nĂ o an ổn thanh tịnh, lại hướng dẫn người đến chỗ an ổn thanh tịnh. Bởi lẽ ấy, gọi cĂĄc ngĂ i lĂ  Tăng bảo.

Thế nĂ o lĂ  Qui y?

- Qui lĂ  trở về, y lĂ  nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, PhĂĄp vĂ  Tăng gọi lĂ  Qui y Tam Bảo. Từ lĂąu, chĂșng ta mĂŁi chạy theo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tĂąm thức tỉnh quyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Tam Bảo lĂ  chỗ cứu kĂ­nh để cho đời chĂșng ta nương tựa, khĂŽng cĂČn tạo nghiệp đau khổ, mĂ  thường đem sự an lạc lại cho chĂșng ta. ĐĂąy lĂ  sự hồi tĂąm tỉnh giĂĄc phĂĄt nguyện trở về của chĂșng ta. Sự tỉnh giĂĄc nĂ y lĂ  nền tảng của lĂąu đĂ i trĂ­ tuệ, nĂł lĂ  bước 3;ầu trĂȘn con đường về quĂȘ hương giĂĄc ngộ. Đặt nền tảng nĂ y vững chắc thĂŹ lĂąu đĂ i trĂ­ tuệ mới được lĂąu dĂ i. ĐĂł lĂ  sự hệ trọng của tinh thần Qui y.

III.- QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀI

Phật PhĂĄp Tăng lĂ  đối tượng để chĂșng ta Qui y. Nguyện noi theo con đường đức Phật đĂŁ đi lĂ  Qui y Phật. Quyết thực hĂ nh những lời chỉ dạy của NgĂ i cĂČn ghi trong kinh điển lĂ  Qui y PhĂĄp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hĂ nh của chĂșng Tăng lĂ  Qui y Tăng. Từ đĂąy bước đi, cuộc sống của chĂșng ta lấy Tam Bảo lĂ m mẫu mực, nhắm thẳng theo đĂł mĂ  tiến tới, khỏi phải nghi ngờ dĂČ dẫm như thuở nĂ o. ChĂșng ta lĂ  hoa tiĂȘu, Tam Bảo lĂ  ngọn hải đăng. Cứ nhắm theo hải đăng mĂ  lĂĄi con thuyền thĂąn mạng của chĂșng ta cho đến đĂ­ch. Song Phật phĂĄp, người Phật tử quyết định tin theo khĂŽng cĂČn chĂșt do dự, cĂČn Tăng thĂŹ phải cẩn thận để khỏi nhận lầm. Tăng lĂ  tập đoĂ n Tăng lữ sống đĂșng tinh thần Lục hĂČa, khĂŽng phải tĂ­nh cĂĄch cĂĄ nhĂąn. Nếu một vị sư đứng ra lĂ m lễ Qui y cho Phật tử, chĂ­nh vị ấy đại diện cho tập đoĂ n. Qui y Tăng lĂ  qui y với những vị sư sống đĂșng tinh thần Lục hĂČa, khĂŽng phải cuộc hạn riĂȘng vị sư truyền tam qui ngũ giới cho mĂŹnh. Nếu vị đại diện truyền qui giới ấy cĂł tu được hay khĂŽng tu được, người thọ phĂĄp qui giới vẫn đĂŁ Qui y Tăng rồi. Khi qui y một vị Tăng tức lĂ  đĂŁ qui y tất cả chư Tăng, nếu vị nĂ o sống đĂșng tinh thần hĂČa hợp. Phật tử cĂł quyền học hỏi tất cả Tăng chĂșng, khĂŽng nĂȘn hạn hẹp nơi ĂŽng thầy của mĂŹnh. Được vậy mới đĂșng tinh thần Qui y Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i.

IV.- QUI Y TAM BẢO TỰ TÂM

Phật phĂĄp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i lĂ  đối tượng, Tam Bảo tự tĂąm lĂ  bản chất. Nương Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i, chĂșng ta phĂĄt triển Tam Bảo của tự tĂąm. Trong ngoĂ i hỗ tương để viĂȘn mĂŁn cĂŽng phu tu hĂ nh, lĂ  mục tiĂȘu chĂĄnh yếu của đạo Phật.

Thế nĂ o lĂ  Tam Bảo tự tĂąm?

TĂĄnh giĂĄc sẵn cĂł nơi chĂșng ta lĂ  Phật bảo. LĂČng từ bi thương xĂłt cứu giĂșp chĂșng sanh lĂ  PhĂĄp bảo. TĂąm hĂČa hợp thảo thuận với mọi người lĂ  Tăng bảo. Nhờ Phật bảo bĂȘn ngoĂ i, chĂșng ta đĂĄnh thức tĂĄnh giĂĄc của mĂŹnh, trở về nương tựa tĂĄnh giĂĄc của mĂŹnh lĂ  Qui y Phật. Nhờ PhĂĄp bảo bĂȘn ngoĂ i, chĂșng ta dấy khởi lĂČng từ bi đối với chĂșng sanh, trở về nương tựa với lĂČng từ bi của mĂŹnh lĂ  Qui y PhĂĄp. Do chư Tăng bĂȘn ngoĂ i gợi lại cho chĂșng ta cĂł tinh thần hĂČa hợp thuận thảo, trở về nương tựa với tinh thần hĂČa hợp thuận thảo của mĂŹnh lĂ  Qui y Tăng. Phật PhĂĄp Tăng bĂȘn ngoĂ i lĂ  trợ duyĂȘn giĂșp chĂșng ta phĂĄt khởi Phật PhĂĄp Tăng của tự tĂąm. VĂ­ như ĂŽng thầy giĂĄo lĂ m trợ duyĂȘn cho đứa học trĂČ mởĂž mang kiến thức của nĂł. CĂł ĂŽng thầy giĂĄo cần cĂč, mĂ  đứa học trĂČ lười biếng khĂŽng chịu học, ĂŽng thầy cũng trở thĂ nh vĂŽ Ă­ch. Cũng thế, cĂł Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i, người Phật tử khĂŽng cố gắng đĂĄnh thức Tam Bảo của chĂ­nh mĂŹnh, Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i cũng thĂ nh vĂŽ nghĩa. Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i lĂ  điều kiện tối thiết yếu với người Phật tử, nhưng cĂł được giĂĄc ngộ giải thoĂĄt chĂ­nh lĂ  khả năng của Tam Bảo tự tĂąm. Chỉ biết cĂł Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i lĂ  chấp sự bỏ lĂœ. Một bề tin vĂ o Tam Bảo của tự tĂąm khĂŽng cần biết đến Tam Bảo bĂȘn ngoĂ i, lĂ  chấp lĂœ bỏ sự. Người Phật tử chĂąn chĂĄnh phải viĂȘn dung sự lĂœ mới khỏi trở ngại trĂȘn đường tu.

V.- NGHI THỨC QUI Y

Trọng tĂąm chủ yếu trong buổi lễ Qui y, chĂ­nh lĂșc Phật tử quĂŹ trước Tam Bảo, ba lần phĂĄt nguyện: “Đệ tử... xin suốt đời qui y Phật, qui y PhĂĄp, qui y Tăng.” CĂąu phĂĄt nguyện nĂ y tự đĂĄy lĂČng Phật tử phĂĄt xuất, khĂŽng do sự Ă©p buộc xĂși giục nĂ o. Ba lần phĂĄt nguyện như vậy lĂ  gieo hạt giống vĂ o sĂąu trong tĂ ng thức, khiến đời đời khĂŽng quĂȘn. ĐĂąy lĂ  tinh thần tự giĂĄc tự nguyện. HĂŹnh thức nghi lễ chỉ giĂșp thĂȘm ấn tượng quan trọng cho giờ phĂșt phĂĄt nguyện ấy thĂŽi. Khi chĂșng ta tỉnh giĂĄc nguyện theo Tam Bảo thĂŹ đời ta được lợi Ă­ch. Nếu trĂȘn đường tu cĂł lĂșc nĂ o bị vĂŽ minh che đậy khĂŽng nhớ Tam Bảo, chĂșng ta tự chịu thiệt thĂČi. NhĂ  Phật khĂŽng bắt buộc chĂșng ta thệ những gĂŹ nặng nề để khĂŽng bỏ đạo. Của bĂĄu cho người nếu ưng nhận lời thĂŹ được lợi Ă­ch, khĂŽng ưng nhận thĂŹ thĂŽi, bắt buộc lĂ m gĂŹ. Trừ ra cĂł hậu Ăœ gĂŹ, mới bắt buộc những cĂąu thề nặng để khĂŽng dĂĄm bỏ. Người hiểu được chỗ nĂ y mới thấy giĂĄ trị chĂąn thật của đạo Phật. Tất cả sự dụ dỗ Ă©p buộc để theo đạo, nhĂ  Phật hoĂ n toĂ n phản đối. Mỗi người tự nhận thức rĂ” rĂ ng về đạo Phật rồi phĂĄt tĂąm đến với đạo, mới đĂșng tinh thần Phật tử. Hiểu rồi mới theo lĂ  hĂ nh động đĂșng với tinh thần giĂĄc ngộ. DĂčng thuật hay, phĂ©p lạ để dẫn người vĂ o đạo, đĂł lĂ  mĂȘ tĂ­n. DĂčng mọi quyền lợi để dụ người ta vĂ o đạo, đĂł lĂ  cĂĄm dỗ kẻ ngu si, khĂŽng phĂč hợp với tinh thần giĂĄc ngộ. ChĂșng ta cĂł bổn phận giải thĂ­ch để người khĂĄc hiểu phĂĄt tĂąm qui y lĂ , người truyền đạo chĂąn chĂĄnh. Nghi thức trịnh trọng trong buổi lễ qui y, chỉ lĂ  trợ duyĂȘn cho lời phĂĄt nguyện của chĂșng ta được thĂ nh tựu viĂȘn mĂŁn. Nghi lễ nĂ y khĂŽng cĂł nghĩa lĂ  Phật sẽ ban ơn cho chĂșng ta trọn đời được an lĂ nh.

VI.- KHẲNG ĐỊNH LẬP TRƯỜNG

Sau khi qui y Tam Bảo, chĂșng ta khẳng định lập trường một cĂĄch tỏ rĂ”: “Qui y Phật khĂŽng qui y thiĂȘn, thần, quỉ, vật.” ChĂșng ta đĂŁ nhận định kỹ cĂ ng quyết chĂ­ theo Phật lĂ  đấng giĂĄc ngộ, khĂŽng lĂœ do gĂŹ lại theo thiĂȘn, thần, quỉ, vật. Bởi vĂŹ thiĂȘn, thần, quỉ, vật vẫn chưa giĂĄc ngộ, cĂČn bị luĂąn hồi như chĂșng ta. Song cũng cĂł một số Phật tử đĂŁ qui y Phật, mĂ  vẫn chạy theo quỉ thần. Những người nĂ y vĂŹ tham lợi lộc, vĂŹ thĂ­ch mầu nhiệm, nĂȘn đĂŁ đi sai đường Phật phĂĄp. Thậm chĂ­ vĂŹ sự mĂȘ tĂ­n của họ, họ trở lại kĂ­nh trọng quỉ thần hơn Phật. ĐĂąy lĂ  hiện tượng xấu xa để khĂĄch bĂ ng quang phĂȘ bĂŹnh Phật giĂĄo.

“Qui y PhĂĄp khĂŽng qui y ngoại đạo tĂ  giĂĄo.” ChĂĄnh phĂĄp của Phật lĂ  chĂąn lĂœ, cứu giĂșp chĂșng sanh một cĂĄch thiết thực, như ĂŽng thầy thuốc đối với bệnh nhĂąn. Hiểu được lẽ chĂąn thực nĂ y, cĂČn lĂœ do gĂŹ chĂșng ta chạy theo ngoại đạo tĂ  giĂĄo. ChĂșng ta tự nhận mĂŹnh yĂȘu chuộng chĂąn lĂœ, cầu mong sự thoĂĄt khổ thiết thực, ngoại đạo tĂ  giĂĄo cĂČn gĂŹ hấp dẫn được chĂșng ta. Chỉ cĂł những kẻ ba phải nghe đĂąu chĂșc đĂł, mới cĂł những hĂ nh động đổi thay vĂŽ lĂœ như vậy. DĂč cĂł những phĂ©p tĂ  ngoại linh thiĂȘng muốn gĂŹ được nấy, chĂșng ta cũng khĂŽng khởi lĂČng tham theo họ. Hoặc họ cĂł những phương thuốc linh mầu nhiệm bệnh  gĂŹ cũng cứu khỏi, lĂ  Phật tử chĂąn chĂĄnh thĂ  chịu chết chớ khĂŽng cầu xin. ThĂąn nĂ y cĂł giữ gĂŹn khĂ©o mấy, cuối cĂčng cũng tan hoại, lạc vĂ o đường tĂ  kiếp kiếp khĂł ra khỏi.

“Qui y Tăng khĂŽng qui y bạn dữ nhĂłm ĂĄc.” ChĂșng ta đĂŁ chọn lựa những vị hiền đức nương theo, khiến đời mĂŹnh về gần với đức hạnh. Bạn dữ nhĂłm ĂĄc đối với người biết đạo cần phải trĂĄnh xa. Bởi vĂŹ “gần mực thĂŹ đen gần đĂšn thĂŹ sĂĄng”, hay “gần đồ tanh hĂŽi mĂŹnh bị hĂŽi lĂąy, gần vật thơm tho mĂŹnh được thơm lĂąy”. VĂŹ thế, chĂșng ta phải can đảm đi đĂșng đường của mĂŹnh đĂŁ chọn, dĂč cĂł bị  khinh khi mạ lỵ, ta cũng cứ thế mĂ  đi. Bởi vĂŹ chĂșng ta đĂąu phải lĂ  kẻ mĂč quĂĄng, mĂ  đĂ nh bỏ cĂĄi tốt gần cĂĄi xấu. Khẳng định lập trường rĂ” rĂ ng lĂ  người cĂł Ăœ chĂ­ cương quyết. Nếu người tu hĂ nh mĂ  thiếu Ăœ chĂ­ nĂ y, dễ bị giĂł lung lay.

VII.- KẾT LUẬN

Qui y Tam Bảo lĂ  nền mĂłng tĂČa nhĂ  giĂĄc ngộ, lĂ  nấc đầu trĂȘn cĂąy thang giải thoĂĄt, lĂ  những bước đầu trĂȘn con đường về quĂȘ hương vĂŽ sanh. Muốn tĂČa nhĂ  vững chắc, cần phải cĂł nền mĂłng kiĂȘn cố. Cần vượt tột cĂąy thang giải thoĂĄt, nấc đầu phải bước cho vững. ThĂ­ch sự an lĂ nh ở quĂȘ hương vĂŽ sanh, những bước đầu trĂȘn con đường trở về phải đi cho đĂșng. Thiếu nền mĂłng Tam Qui thĂŹ tĂČa nhĂ  giĂĄc ngộ khĂŽng sao xĂąy cất được. KhĂŽng cĂł nấc đầu, khĂł ai cĂł thể leo tận cĂąy thang giải thoĂĄt. Những bước đầu trĂȘn con đường về quĂȘ đĂŁ sai, trăm ngĂ n bước sau cho đến cĂ ng đi cĂ ng sai. VĂŹ thế, Qui y Tam Bảo cĂł tầm quan trọng vĂŽ cĂčng. Mỗi người muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y mĂ  vĂ o, khĂŽng như thế thĂŹ học Phật mất căn bản. Bởi nĂł đĂłng một vai trĂČ quan trọng như vậy, nĂȘn người Phật tử phải thận trọng trong việc phĂĄt nguyện Qui y. Đừng vĂŹ lĂ  Qui y cho cĂł phước, cho khỏi bệnh hoạn, cho Phật gia hộ qua tai ĂĄch..., đều lĂ  lĂœ do mĂȘ tĂ­n trĂĄi với tinh thần tự giĂĄc tự nguyện của Đạo Phật.

NGŨ GIỚI

I.- MỞ ĐỀ

Con người lĂ  đối tượng của đạo Phật, bao nhiĂȘu luật, bao nhiĂȘu phĂĄp mĂŽn, đức Phật đều vĂŹ con người lập bĂ y. Đem lại sự an vui hạnh phĂșc cho con người, lĂ  mục tiĂȘu chĂĄnh yếu của đạo Phật. Song quan niệm đạo Phật, khĂŽng phải được nhiều của cải, nhiều tĂŹnh yĂȘu v.v... lĂ  con người cĂł hạnh phĂșc. Hạnh phĂșc lĂ  người sống biết tiết chế, biết tĂŽn trọng hạnh phĂșc của mọi người, biết thĂ nh thật thương mến nhau. Một dĂąn tộc văn minh lĂ  biết tĂŽn trọng sanh mạng của nhau, tĂŽn trọng những quyền tự do căn bản của con người. VĂŹ thế, ngũ giới lĂ  nền tảng căn bản đem lại hạnh phĂșc cho con người, xĂąy dựng con người sống đĂșng Ăœ nghĩa văn minh của nhĂąn loại. Ngũ giới lĂ  cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chĂąn trĂȘn con đường giĂĄc ngộ giải thoĂĄt. Thiếu căn bản đạo đức nĂ y, dĂč chĂșng ta cĂł nĂłi đạo đức cao siĂȘu đến đĂąu cũng lĂ  lối nĂłi rỗng. Sự tu hĂ nh thiết thực phải gầĂąy dựng cơ bản trước, sau mới tiến lĂȘn những bậc cao siĂȘu. ĐĂł lĂ  tầm quan trọng của ngũ giới.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Ngũ giới lĂ  năm điều ngăn cấm do đức Phật chế ra, bảo cĂĄc Phật tử phải tuĂąn hĂ nh theo. Sau khi qui y người ấy đĂŁ tự nhận lĂ  đệ tử Phật, để đủ tư cĂĄch một Phật tử cần phải gĂŹn giữ năm giới. Năm điều răn cấm nĂ y, Phật vĂŹ thương xĂłt chĂșng sanh mĂ  chế ra, cốt khiến đời sống họ được an lĂ nh hạnh phĂșc. GĂŹn giữ năm giới nĂ y lĂ  vĂŹ mĂŹnh, khĂŽng phải vĂŹ Phật. HĂŹnh thức năm giới:

1. KhĂŽng sĂĄt sanh: KhĂŽng sĂĄt sanh nghĩa lĂ  khĂŽng &#273;ược giết hại mạng sống của con người. ChĂșng ta tự quĂ­ sanh mạng của mĂŹnh, vĂŽ lĂœ lại sĂĄt hại sanh mạng kẻ khĂĄc. TrĂȘn lẽ cĂŽng bằng nhĂąn đạo khĂŽng cho phĂ©p chĂșng ta lĂ m việĂŻc ấy. Nếu lĂ m, chĂșng ta đĂŁ trĂĄi lẽ cĂŽng bằng thiếu lĂČng nhĂąn đạo, đĂąu cĂČn xứng đĂĄng lĂ  đệ tử Phật. Giết hại mạng sống người cĂł ba: trực tiếp giết, xĂși bảo người giết, tĂčy hỉ trong việc giết hại. Phật tử khĂŽng tự tay mĂŹnh giết mạng người, khĂŽng dĂčng miệng xĂși bảo đốc thĂșc kẻ khĂĄc giết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xĂłt khĂŽng nĂȘn vui thĂ­ch. ĐĂł lĂ  giữ giới khĂŽng sĂĄt sanh. Nhưng suy luận rộng ra, chĂșng ta quĂ­ trọng mạng sống, những con vật cũng quĂ­ trọng mạng sống, để lĂČng cĂŽng bằng trĂ n đến cĂĄc loĂ i vật, nếu khĂŽng cần thiết, chĂșng ta cũng giảm bớt giết hại sanh mạng của chĂșng.

2. KhĂŽng trộm cướp: Của cải tĂ i sản của chĂșng ta, khĂŽng muốn ai xĂąm phạm đến, của cải tĂ i sản của người, chĂșng ta cũng khĂŽng được giựt lấy hay lĂ©n lấy. Bởi cướp giựt hay lĂ©n lấy của người lĂ  hĂ nh động trĂĄi nhĂąn đạo, phạm luật phĂĄp chĂĄnh quyền, phải bị trừng phạt. Trộm cướp lĂ  do lĂČng tham lam ĂĄc độc, chỉ nghĩ lợi mĂŹnh, quĂȘn nỗi đau khổ của người, mất cả cĂŽng bằng vĂ  nhĂąn đạo, người Phật tử quyết định khĂŽng được lĂ m.

3. KhĂŽng tĂ  dĂąm: Người Phật tử cĂł vợ chồng đĂŽi bạn như mọi người thế gian khĂĄc. Khi cĂł đĂŽi bạn rồi tuyệt đối khĂŽng phạm đến sự trinh bạch của kẻ khĂĄc. Nếu phạm thĂŹ mắc tội tĂ  dĂąm. Bởi vĂŹ đĂąy lĂ  hĂ nh động lĂ m đau khổ cho gia đĂŹnh mĂŹnh vĂ  gia đĂŹnh người, tạo thĂ nh nguy cơ tĂĄn gia bại sản. Do một chĂșt tĂŹnh cảm riĂȘng tư của mĂŹnh, khiến nhiều người khổ đau liĂȘn lụy, quả lĂ  thiếu lĂČng nhĂąn. Để bảo đảm sự an ổn của gia đĂŹnh mĂŹnh vĂ  hạnh phĂșc của gia đĂŹnh người, Phật tử nhất định khĂŽng phạm tĂ  dĂąm.

4. KhĂŽng nĂłi dối: NĂłi lời trĂĄi với sự thật để mưu cầu lợi mĂŹnh, hoặc hại người lĂ  nĂłi dối. Do động cơ tham lam ĂĄc độc, sự kiện xảy ra thế nĂ y lại nĂłi thế khĂĄc, sửa trĂĄi lĂ m mặt, đổi phải thĂ nh quấy, khiến người mắc họa. Người nĂłi như thế trĂĄi với đạo đức, mất cả lĂČng nhĂąn, khĂŽng xứng đĂĄng lĂ  một Phật tử. Phật tử lĂ  người đạo đức nĂȘn ăn nĂłi cĂł mẫu mực, thấy biết thế nĂ o nĂłi thẳng thế ấy, khĂŽng điĂȘu xảo dối trĂĄ. Trừ trường hợp vĂŹ lợi người lợi vật, khĂŽng nỡ nĂłi thật để người bị hại hoặc khổ đau, do lĂČng nhĂąn cứu người cứu vật nĂłi sai sự thật mĂ  khĂŽng phạm. KhĂŽng nĂłi dối lĂ  giữ lĂČng tin đối với mọi người chung quanh.

5. KhĂŽng uống rượu: Đạo Phật chủ trương giĂĄc ngộ, muốn được giĂĄc ngộ trước phải điềm đạm tỉnh sĂĄng, uống rượu vĂ o gan ruột nĂłng bức, tĂąm trĂ­ quay cuồng, mất hết bĂŹnh tĩnh khĂŽng cĂČn sĂĄng suốt, trĂĄi hẳn mục đĂ­ch giĂĄc ngộ. ChĂ­nh vĂŹ nĂłng bức cuồng loạn, cĂł những người khi say sưa tội lỗi họ cũng dĂĄm lĂ m, xấu xa gĂŹ họ cũng khĂŽng sợ, mất hết lương tri. VĂŹ thế, người biết đạo đức phải trĂĄnh xa khĂŽng uống rượu. Uống rượu chẳng những lĂ m mất trĂ­ khĂŽn, lại gĂąy nĂȘn bệnh hoạn cho thĂąn thể, cĂČn di hại cho con cĂĄi sau nĂ y đần độn. Quả lĂ  một họa hại cho cĂĄ nhĂąn vĂ  xĂŁ hội. Người Phật tử vĂŹ sự nghiệp giĂĄc ngộ, vĂŹ lợi Ă­ch cho mĂŹnh cho người quyết hẳn khĂŽng uống rượu. Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dĂčng rượu hĂČa thuốc uống mới lĂ nh, Phật tử được uống thuốc rượu đến khi lĂ nh bệnh thĂŹ chấm dứt, cần phải trĂŹnh cho chư Tăng biết trước khi uống.

III.- LỢI ÍCH BẢN THÂN

Người biết giữ gĂŹn năm giới đĂŁ tạo thĂ nh căn bản đạo đức vĂ  sự an lĂ nh cho bản thĂąn. KhĂŽng sĂĄt sanh, bản thĂąn ta khĂŽng bị người giết, hoặc tĂč tội về giết người, cũng khĂŽng cĂł thĂč hận về nợ mĂĄu với nhau. Thế lĂ  sống chĂșng ta khĂŽng kinh hoĂ ng sợ hĂŁi do thĂč hằn gĂąy nĂȘn. KhĂŽng trộm cướp, bản thĂąn ta khĂŽng mắc tội tĂč về trộm cướp, ở đĂąu hay đi đến chỗ nĂ o khỏi sợ người theo dĂ”i nghi ngờ. Tới lui tự do, đến đi an ổn, khĂŽng phải hạnh phĂșc lĂ  gĂŹ? KhĂŽng tĂ  dĂąm, bản thĂąn ta khỏi phải lao thần tổn trĂ­, khỏi sợ ai bĂ n tĂĄn dở hay, mọi người đều tĂ­n nhiệm vĂ  tin cậy ta. Bản thĂąn ta trinh bạch, khiến người tự quĂ­ mến. Tự mĂŹnh an ổn, gia đĂŹnh cũng an ổn. KhĂŽng nĂłi dối, chĂ­nh ta khĂŽng phải hối hận, lời nĂłi tự cĂł giĂĄ trị, gĂąy được niềm tin của mọi người. Người hay nĂłi dối sẽ bị xĂŁ hội đĂĄnh giĂĄ thấp, đề xướng điều gĂŹ đều bị nghi ngờ, lĂ m việc gĂŹ Ă­t ai tĂĄn trợ. KhĂŽng uống rượu, chĂ­nh ta khỏi bị cĂĄi tệ điĂȘn cuồng mất trĂ­, khỏi gĂąy cho cơ thể bệnh hoạn suy yếu, khỏi bị người khinh thường trong lĂșc say sưa. TrĂĄi lại, bản thĂąn ta điềm đạm bĂŹnh tĩnh, thĂąn thể khỏe mạnh, đối với mọi người đều được quĂ­ kĂ­nh, sanh con cũng thĂŽng minh sĂĄng suốt. ĐĂł lĂ  lợi Ă­ch bản thĂąn ngay trong hiện tại. Nếu về mai sau, khĂŽng sĂĄt sanh thĂąn trĂĄng kiện sống lĂąu; khĂŽng trộm cướp, được tĂ i sản sung tĂșc; khĂŽng tĂ  dĂąm, thĂąn thể đẹp đẽ; khĂŽng nĂłi dối, ăn nĂłi khĂŽn ngoan mọi người yĂȘu chuộng; khĂŽng uống rượu, trĂ­ tuệ sĂĄng suốt.

IV.- LỢI ÍCH GIA ĐÌNH XÃ HỘI

Mọi người trong nhĂąn loại đều tự nhận sanh mạng lĂ  tối thượng. Biết tĂŽn trọng sanh mạng lĂ  nếp sống văn minh, chĂ  đạp trĂȘn sanh mạng lĂ  con người dĂŁ man. Biết giữ năm giới lĂ  nguồn hạnh phĂșc của gia đĂŹnh, lĂ  nếp sống văn minh của xĂŁ hội. Đức Phật nhĂŹn thẳng vĂ o con người, đem lại cho con người một đời sống an lĂ nh, một gia đĂŹnh hạnh phĂșc, một xĂŁ hội văn minh, NgĂ i chế ra năm giới.

Sanh mạng lĂ  giĂĄ trị tối thượng của con người mọi người đều phải tĂŽn trọng, vĂŹ tĂŽn trọng sanh mạng con người, Phật cấm Phật tử khĂŽng được sĂĄt sanh. Sanh mạng con người được tồn tại vững bền, nhờ tĂ i sản nuĂŽi dưỡng, vĂŹ tĂŽn trọng tĂ i sản của người, Phật cấm Phật tử khĂŽng được trộm cướp. Sự sống của con người cần cĂł gia đĂŹnh, gia đĂŹnh lĂ  tổ ấm của nhĂąn loại, tổ ấm ấy bị lung lay lĂ  mất hạnh phĂșc, vĂŹ tĂŽn trọng hạnh phĂșc của gia đĂŹnh, Phật cấm Phật tử khĂŽng được tĂ  dĂąm. Sự sống chung đụng trong gia đĂŹnh vĂ  ngoĂ i xĂŁ hội cần phải tin tưởng nhau, thiếu lĂČng tin thĂŹ khĂŽng thể thĂŽŽng cảm thĂąn yĂȘu, vĂŹ đem sự tin yĂȘu lại cho mọi người, Phật cấm khĂŽng được nĂłi dối. Trật tự của gia đĂŹnh vĂ  xĂŁ hội lĂ  sự an ổn, một duyĂȘn cớ gĂąy xĂĄo trộn trong gia đĂŹnh vĂ  ngoĂ i xĂŁ hội lĂ  lĂ m mất trật tự chung, vĂŹ tĂŽn trọng trật tự của gia đĂŹnh vĂ  xĂŁ hội, Phật cấm Phật tử khĂŽng được uống rượu.

Chỉ trong năm giới thĂŽi, nếu gia đĂŹnh nĂ o gĂŹn giữ trọn vẹn lĂ  gia đĂŹnh ấy cĂł hạnh phĂșc, trĂȘn thuận dưới hĂČa, tin yĂȘu thuần cẩn. Nếu mọi người trong xĂŁ hội ứng dụng triệt để lĂ  một xĂŁ hội văn minh, chan hĂČa sự cảm thĂŽng vĂ  thương mến. ChĂșng ta vĂŹ lợi Ă­ch bản thĂąn, vĂŹ hạnh phĂșc của gia đĂŹnh, vĂŹ sự an lạc của xĂŁ hội, nỗ lực gĂŹn giữ năm giới. GĂŹn giữ năm giới lĂ  tĂŽn trọng nhĂąn bản, lĂ  nếp sống văn minh, lĂ  nền tảng đạo đức vậy.

V.- KẾT LUẬN

Sự khổ đau tột độ của con người khĂŽng gĂŹ hơn, khi họ nghĩ đến sanh mạng họ bị đe dọa, tiền của họ bị mất mĂĄt, người yĂȘu họ bị xĂąm phạm. ChĂ­nh đĂąy lĂ  nỗi thống khổ khắc nghiệt nhất của con người. VĂŹ cứu khổ đem vui lại cho con người, Phật cấm người Phật tử khĂŽng được lĂ m ba điều ấy. TĂŹnh thương vĩnh viễn khĂŽng cĂł, nếu con người khĂŽng tin tưởng vĂ  cảm thĂŽng nhau. Điều nĂ y cũng lĂ  nỗi đau khổ thứ yếu của con người. Bởi vĂŹ trong cuộc sống mĂ  khĂŽng cĂł tĂŹnh thương, lĂ  loĂ i người đang lạc loĂ i ở giữa bĂŁi sa mạc hay chốn rừng hoang, cĂČn đĂąu sự đĂčm bọc thĂąn yĂȘu chia sớt cay đắng ngọt bĂči. Muốn đem tĂŹnh thương cho nhĂąn loại, trước tiĂȘn phải cĂł tin tưởng thĂŽng cảm nhau, nĂȘn Phật cấm người Phật tử khĂŽng được nĂłi dối. ChĂ­nh bao nhiĂȘu đĂł, chĂșng ta đĂŁ thấy lĂČng từ bi lĂȘnh lĂĄng của đức Phật. Tinh thần cứu khổ ban vui của đạo Phật đĂŁ thể hiện rĂ” rĂ ng trong năm giới nĂ y. VĂŹ thương mĂŹnh thương người, Phật tử chĂșng ta phải cố gắng gĂŹn giữ vĂ  khuyĂȘn người gĂŹn giữ. ĐĂł lĂ  căn bản của Đạo lĂ m người hiện tại vĂ  mai sau.

ĐI CHÙA LỄ PHẬT

I.- MỞ ĐỀ

Người xưa nĂłi “lĂ m việc cĂł nghĩa do tĂąm tỉnh ngộ, lĂ m việc vĂŽ nghĩa do tĂąm mĂȘ mờ”. ChĂșng ta thao thức ước mơ cĂł thĂŹ giờ rảnh đi chĂča để được nghe những lời chỉ dạy đạo lĂœ của Tăng, Ni. Quả lĂ  do tĂąm tỉnh ngộ lĂ m động cơ thĂșc đẩy chĂșng ta. Nếu chĂșng ta mong cĂł lĂșc rảnh để đến hĂ­ trường, lại tửu điếm, chĂ­nh do tĂąm mĂȘ mờ lĂ m động cơ thĂșc đẩy chĂșng ta. Chọn lấy một hĂ nh động cĂł nghĩa lĂ  để lĂ m theo, đĂ­ch thực lĂ  người trĂ­. Chạy theo những hĂ nh động vĂŽ nghĩa hư hĂšn, quả lĂ  kẻ ngu. ĐĂŁ cĂł mặt trĂȘn cĂ”i đời, chĂșng ta phải chọn lấy một lối đi để đưa đời mĂŹnh đến chỗ rạng ngời tươi đẹp. VĂŽ lĂœ, chĂșng ta mĂŁi đua đĂČi theo sự ăn mặc vui đĂča, đến một ngĂ y kia thĂąn nĂ y sắp hoại, tự ta nghĩ sao về thĂąn phận mĂŹnh? VĂŹ thế, sự đi chĂča lễ Phật lĂ  một việc lĂ m do động cơ tỉnh ngộ thĂșc đẩy, với một tinh thần cố gắng vươn lĂȘn, gầy dựng cho mĂŹnh một ngĂ y mai sĂĄng đẹp.

II.- ĐI CHÙA

Mục đĂ­ch đi chĂča khĂŽng phải lĂ  để cĂșng lạy, mĂ  vĂŹ học hỏi chĂĄnh phĂĄp, tập tu đức hạnh. Người Phật tử mới đến với đạo chưa thấm nhuần Phật phĂĄp, nếu khĂŽng được sự chỉ dạy của Tăng Ni thĂŹ lĂ m sao hiểu đạo tu hĂ nh. Muốn hiểu đạo lĂœ, Phật tử tới lui Tự viện để thưa hỏi học tập lĂ  sự đương nhiĂȘn khĂŽng thể thiếu. VĂŹ sự sống bận rộn ngoĂ i xĂŁ hội, Phật tử đĂąu đủ thĂŹ giờ nghiĂȘn cứu giĂĄo lĂœ, chỉ gặp Tăng, Ni trong nửa giờ, một giờ, Phật tử cĂł thể học được nhiều điều trước kia chưa biết. VĂŹ thế, đến chĂča để gặp Tăng, Ni lĂ  điều thiết yếu khĂŽng thể thiếu, đối với mỗi Phật tử tại gia. Đi chĂča cĂł hai trường hợp, đi chĂča ngĂ y thường vĂ  đi chĂča ngĂ y lễ vĂ­a.

Đi chĂča ngĂ y thường: Bất cứ ngĂ y nĂ o thấy rảnh việc nhĂ , người Phật t&#7917; cĂł thể đi chĂča. Khi đi chĂča, Phật tử phải nhắm thẳng mục đĂ­ch thưa hỏi đạo lĂœ. VĂŹ hỏi đạo lĂœ, Phật tử phải ghi lại những điều gĂŹ mĂŹnh chưa hiểu để đem ra hỏi. Mỗi lần đến chĂča, Phật tử phải cĂł Ă­t nhất đĂŽi ba vấn đề thưa hỏi Tăng, Ni. Những vấn đề ấy, hoặc do thấy nếp sống sanh hoạt nhĂ  chĂča chưa hiểu đem ra hỏi, hoặc đọc trong kinh sĂĄch chỗ nĂ o khĂŽng biết đem ra hỏi. Biết thưa hỏi như vậy, người Phật tử học đạo rất chĂłng tiến. Đi chĂča hỏi đạo lĂ  đĂșng tinh thần học vấn của người Phật tử.

Nhưng cũng cĂł những khi khĂŽng vĂŹ hỏi đạo mĂ  vẫn đi chĂča. ĐĂąy lĂ  trường hợp vĂŹ đua chen trong cuộc sống, người Phật tử thần kinh bị căng thẳng, vội vĂ ng bỏ việc đến chĂča. Đến đĂąy để ngồi yĂȘn trĂȘn tảng đĂĄ dưới bĂłng mĂĄt tĂ n cĂąy, nghe tiếng giĂł thĂŹ thĂ o trĂȘn ngọn cĂąy, giọng chim lĂ­u lo trong cĂ nh rĂąm, khung cảnh tịch mịch của nhĂ  chĂča, khiến tĂąm hồn lắng xuống thần kinh dịu lại. KhĂŽng cần gặp ai, chẳng mĂ ng thưa hỏi, chỉ cần mắt ngắm mấy cội tĂčng xanh, mũi ngửi mĂči hương nhẹ của hoa lan, hoa nguyệt quới, ngồi đặt lưng tựa bĂȘn vĂĄch chĂča, chĂșng ta cảm nghe lĂČng nhẹ nhĂ ng khoan khoĂĄi, những giờ phĂșt nĂ y gĂĄnh nợ đời oằn oại đĂŽi vai bỗng dưng như quẳng mất. ChĂ­nh cảnh cĂŽ liĂȘu tịch mịch của nhĂ  chĂča đĂŁ giải tỏa xoa dịu phần nĂ o nỗi bực dọc nĂŁo phiền của Phật tử.

Đến chĂča ngĂ y lễ vĂ­a: CĂčng Phật tử với nhau như con một cha, những ngĂ y lễ vĂ­a lĂ  ngĂ y huynh đệ sum họp. NgĂ y thường mỗi Phật tử cĂł hoĂ n cảnh riĂȘng gia đĂŹnh riĂȘng, Ă­t khi gặp được nhau để thăm hỏi sự tu hĂ nh, nhắc nhở nhau về đức hạnh. NhĂąn ngĂ y lễ vĂ­a ở chĂča, toĂ n thể Phật tử tụ hội về cĂčng thăm hỏi nhau trong tĂŹnh đạo bạn, cĂčng giĂŁi bĂ y nhau về kinh nghiệm tu hĂ nh, thật lĂ  một cơ hội quĂ­ bĂĄu. ChĂșng ta đĂąu khĂŽng nghe ĂŽng cha chĂșng ta đĂŁ nĂłi “ăn cơm cĂł canh, tu hĂ nh cĂł bạn”. ĐoĂ n tụ dưới mĂĄi chĂča, huynh đệ ngồi gần nhau đĂ m đạo mật thiết thĂąn tĂŹnh, đĂąy lĂ  một niềm vui để dắt dĂŹu nhau trĂȘn con đường đạo đức. Mến thương nhau, đoĂ n kết nhau, khĂ­ch lệ nhau, cĂčng nỗ lực leo lĂȘn cho đến tận đỉnh ngọn giĂĄc ngộ.

CĂ ng cao cả hơn, khi chĂșng ta nghe Tăng, Ni kể lại hĂ nh trang nhuộm mĂči từ bi đượm mĂ u giĂĄc ngộ của chư Phật, Bồ-tĂĄt, hoặc nghe giải thĂ­ch giĂĄo lĂœ cao siĂȘu thoĂĄt tục của Phật dạy, lĂ m sĂĄng tỏ thĂȘm đường lối tu hĂ nh. Thật lĂ  những cơ hội hiếm cĂł để Phật tử thấm nhuần chĂĄnh phĂĄp. Vắng mặt trong những ngĂ y lễ vĂ­a, lĂ  một thiệt thĂČi đĂĄng kể của người Phật tử. CĂł nghe giĂĄo lĂœ, cĂł học cĂŽng hạnh của Phật, Bồ-tĂĄt, Phật tử mới biết phương hướng tu hĂ nh, mới thấy những gương sĂĄng ngời để noi theo. DĂč đĂŁ qui y mấy mươi năm, khĂŽng chịu học hỏi giĂĄo lĂœ, khĂŽng siĂȘng nghe giảng dạy, Phật tử nĂ y vẫn mờ mịt khĂŽng hiểu gĂŹ về đạo Phật. LĂ  Phật tử phải tỏ ra xứng đĂĄng với danh nghĩa của mĂŹnh, nghĩa lĂ  học vĂ  hĂ nh đĂșng với đường lối Phật dạy. VĂŹ thế, đi chĂča nghe giảng lĂ  điều tối cần thiết của người Phật tử.

III.- LỄ PHẬT

Lạy Phật khĂŽng vĂŹ van xin tha tội, khĂŽng vĂŹ cầu mong ban Ăąn, chỉ vĂŹ quĂ­ kĂ­nh một đấng lĂČng từ bi trĂ n trề, trĂ­ giĂĄc ngộ viĂȘn mĂŁn. VĂŹ quĂ­ kĂ­nh cĂŽng đức trĂ­ tuệ của Phật nĂȘn chĂșng ta lạy NgĂ i. Lạy Phật để thấy mĂŹnh cĂČn thấp thỏi ti tiện, bỏ hết những thĂłi ngạo mạn cống cao. QuĂ­ kĂ­nh gương cao cả của Phật để mĂŹnh noi theo. Phước đức lạy Phật lĂ  tại chỗ đĂł.

Lễ Phật vĂŹ dẹp ngĂŁ mạn - Bản chất con người chĂșng ta lĂșc nĂ o cũng tự cao tự đắc, vĂȘnh vĂĄo nghĂȘnh ngang. ĐĂł lĂ  tĂĄnh xấu khiến mọi người chĂĄn ghĂ©t, tiĂȘu mĂČn cĂŽng đức. Phật tử biết được cĂĄi dở nĂ y, kĂ­nh lạy Phật, Bồ-tĂĄt, cĂĄc bậc tĂŽn tĂșc, để diệt trừ tĂąm ngĂŁ mạn của mĂŹnh. KĂ­nh lạy cĂĄc ngĂ i lĂ  tự mĂŹnh thấy khĂŽng bĂŹ kịp cĂĄc ngĂ i, biết mĂŹnh thấp thĂŹ tĂĄnh ngạo mạn từ từ biến mất. Khi lạy cĂĄc ngĂ i khĂŽng mong một Ăąn sủng nĂ o, chỉ vĂŹ một lĂČng kĂ­nh trọng đức hạnh của cĂĄc ngĂ i, tự thấy mĂŹnh hĂšn hạ thấp thỏi, thế lĂ  mọi cĂŽng đức từ đĂł phĂĄt sanh. Bởi đứa ăn trộm thĂŹ phục kẻ ăn trộm giỏi, chĂ ng vĂ” sĩ thĂŹ nể tay vĂŽ địch, kĂ­nh trọng Phật, Bồ-tĂĄt, cĂĄc bậc tĂŽn tĂșc tự nhiĂȘn chĂșng ta cĂł dự phần trong ấy rồi. Quả như cĂąu nĂłi “kĂ­nh thầy mới được lĂ m thầy”. ChĂșng ta muốn dẹp bỏ những tĂĄnh xấu, tập tĂ nh đức hạnh, kĂ­nh lễ những bậc đức hạnh lĂ  điều cần thiết vậy.

Lễ Phật vĂŹ noi gương - KĂ­nh lạy Phật, chĂ­nh vĂŹ chĂșng ta muốn học đĂČi noi theo gương của NgĂ i. Tại sao chĂșng ta phải học đĂČi theo gương đức Phật? Bởi vĂŹ, Phật đĂŁ đầy đủ mọi cĂŽng đức, trĂ­ tuệ từ bi viĂȘn mĂŁn, nĂȘn chĂșng ta phải học theo. ĐĂąy chĂșng tĂŽi đơn cử một cĂŽng hạnh nhỏ xĂ­u của NgĂ i, thử xem chĂșng ta cĂł theo kịp khĂŽng?

Một hĂŽm, đức Phật một mĂŹnh mang bĂŹnh bĂĄt vĂ o thĂŽn xĂłm khất thực, bỗng cĂł một người ngoại đạo biết NgĂ i vĂ  biết rĂ” Phật đi đến đĂąu ắt đệ tử của chĂșng đều bỏ đạo qui kĂ­nh Phật. Nổi tức, ĂŽng đi theo sau lưng Phật mạ lỵ đủ điều, Phật vẫn chậm rĂŁi tiến bước đều đều khĂŽng một lời đối đĂĄp. Đến đầu đường, ĂŽng ta chạy đĂłn trước mặt Phật, chặn lại hỏi: CĂč-đĂ m thua ta chưa? Phật ung dung trải tọa cụ xuống đất, ngồi kiết giĂ  đọc bĂ i kệ:

Kẻ hơn thĂŹ thĂȘm oĂĄn

Người thua ngủ chẳng yĂȘn

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

(Kinh Trung A-hĂ m)

Ngoại đạo hối lỗi ăn năn lễ tạ.

Thử hỏi hĂ nh động nĂ y của đức Phật, chĂșng ta cĂł ai dĂĄm tự hĂ o cho mĂŹnh lĂ m được. Nếu đem danh vọng giĂĄ trị so sĂĄnh, đức Phật lĂ  một vị giĂĄo chủ trong tĂŽn giĂĄo, một vị ThĂĄi tử ở thế gian, chĂșng ta hiện nay lĂ  một tĂ­n đồ trong tĂŽn giĂĄo, một kẻ tay trắ;ng ở thế gian, đức Phật bị mạ lỵ mĂ  khĂŽng tức giận, chĂșng ta bị mạ lỵ cĂł tức giận chăng? Nếu chĂșng ta khĂŽng tức giận cũng chưa dĂĄm bĂŹ với đức Phật, vĂŹ giĂĄ trị danh vọng của chĂșng ta cĂł ra quĂĄi gĂŹ. Huống lĂ , bị mạ lỵ chĂșng ta liền nổi giận ầm ầm. NhĂŹn lại đức Phật thử xem chĂșng ta cĂĄch NgĂ i bao xa? Thế thĂŹ lạy NgĂ i bao nhiĂȘu mới xứng đĂĄng trong việc noi gương theo NgĂ i? Đến như tĂąm từ bi, trĂ­ giĂĄc ngộ của Phật, sĂĄnh với chĂșng ta thật lĂ  trời cao vực thẳm. Đời đời kĂ­nh lễ NgĂ i, cũng lĂ  cĂĄi hĂŁnh diện của chĂșng ta, biết kĂ­nh người đĂĄng kĂ­nh. Thế mĂ , cĂł một Ă­t người thấy chĂșng ta lạy Phật, họ tỏ vẻ ngạo nghễ. HĂŁy nghe cĂąu chuyện đối đĂĄp nĂ y:

Một em gĂĄi đi chĂča lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sĂąn chĂča, gặp một quĂąn nhĂąn đứng ngắm cảnh. Thấy em, quĂąn nhĂąn liền hỏi: Em đi đĂąu thế? BĂ© gĂĄi đĂĄp: Em đi chĂča lễ Phật. QuĂąn nhĂąn hỏi: Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cĂĄi gĂŹ? BĂ© gĂĄi hỏi lại: Ở doanh trại anh mỗi sĂĄng cĂł chĂ o cờ khĂŽng? QuĂąn nhĂąn đĂĄp: SĂĄng nĂ o cũng chĂ o cờ. BĂ© gĂĄi hỏi: Cờ bằng vải bằng mĂ u, tại sao phải nghiĂȘm trang chĂ o? QuĂąn nhĂąn đĂĄp: ChĂ o tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lĂĄ cờ, chớ khĂŽng phải chĂ o vải mĂ u. BĂ© gĂĄi nĂłi: Cũng thế, em lạy tinh thần từ bi giĂĄc ngộ của Phật được tượng trưng qua hĂŹnh tượng chớ khĂŽng phải lạy gỗ lạy xi măng. QuĂąn nhĂąn đĂ nh thĂŽi.

VI.- KẾT LUẬN

Chọn một hĂ nh động cĂł Ăœ nghĩa lĂ  con người tỉnh sĂĄng. Khi đĂŁ nhận định kỹ việc lĂ m của mĂŹnh, dĂč cĂł bị chĂȘ khen, chĂșng ta vẫn an ổn thực hĂ nh. Chỉ cĂł những kẻ xu thời, thấy ai khen cĂĄi gĂŹ chạy theo cĂĄi nấy, mới bĂ ng hoĂ ng khi bị ai phĂȘ bĂŹnh hĂ nh động của mĂŹnh. Đi chĂča lạy Phật đĂŁ mang sẵn những Ăœ nghĩa của nĂł, dĂč cĂł ai chĂȘ lĂ  mĂȘ tĂ­n..., ta vẫn an nhiĂȘn. Đạo đức cĂł hay khĂŽng, do lĂČng ta biết kĂ­nh trọng người đạo đức hay khĂŽng. Do lĂČng kĂ­nh trọng mới thĂșc đẩy chĂșng ta học đĂČi vĂ  bắt chước theo người đức hạnh. Lạy Phật lĂ  động cơ đẩy mạnh chĂșng ta tiến mĂŁi trĂȘn đường giĂĄc ngộ.

SÁM HỐI

I.- MỞ ĐỀ

Mắc bệnh ung nhọt lĂ m mủ trong thĂąn, người bệnh cần phải gan dạ mời giải phẫu sư mổ ra vĂ  cạo rửa mủ mĂĄu cho sạch, cĂł thế thĂŹ bệnh chĂłng lĂ nh. Nếu bệnh nhĂąn hĂšn nhĂĄt khĂŽng dĂĄm cho mổ, để ấp ủ lĂąu ngĂ y, ung nhọt cĂł thể lĂ m nguy hiểm đến tĂĄnh mạng. Cũng như thế, người tu lỡ phạm những điều tội lỗi, gan dạ đến những bậc đức hạnh thĂ nh tĂąm phĂĄt lồ sĂĄm hối thĂŹ tội lỗi chĂłng sạch. Ngược lại, kẻ ấy hĂšn nhĂĄt cứ một bề che giấu, tội lỗi cĂ ng ngĂ y cĂ ng trầm trọng, đến mai kia cĂł thể sa đọa khĂŽng thể cứu. ChĂșng ta lĂ  phĂ m phu, lĂ  kẻ đang tập tu, khĂŽng sao trĂĄnh khỏi những điều sai lầm tội lỗi, chỉ quĂ­ ở chỗ cĂł lỗi biết thĂ nh tĂąm sĂĄm hối, khĂŽng dĂĄm tĂĄi phạm, khiến tội lỗi sạch dần cho đến ngĂ y nĂ o đĂł hoĂ n toĂ n thanh tịnh. HĂšn nhĂĄt khĂŽng chịu sĂĄm hối lĂ  kẻ chấp nhận sự lui sụt của mĂŹnh, tự hủy bỏ đời sống tu hĂ nh của chĂ­nh mĂŹnh. SĂĄm hối lĂ  phương phĂĄp sĂĄch tiến mạnh mẽ nhất, đối với người chĂąn thật tu hĂ nh, bỏ sĂĄm hối khĂł ai từ phĂ m phu tiến lĂȘn thĂĄnh được.

II.- ĐỊNH NGHĨA

SĂĄm hối lĂ  ăn năn hối cải. Những tội lỗi đĂŁ lĂ m, chĂșng ta hổ thẹn, ăn năn khĂŽng dĂĄm tĂĄi phạm; những tội lỗi đang lĂ m vĂ  sẽ lĂ m, chĂșng ta hứa sửa đổi khĂŽng lĂ m. KhĂŽng phạm tội cũ, khĂŽng tạo lỗi mới, lĂ  chủ yếu của phĂĄp sĂĄm hối. SĂĄm hối cũng nĂłi lĂ  phĂĄt lồ sĂĄm hối. PhĂĄt lồ lĂ  vạch trần những tội lỗi mĂŹnh đĂŁ lĂ m phơi bĂ y trước bậc đức hạnh để thĂ nh tĂąm sĂĄm hối. LĂ m thế, do tĂąm hổ thẹn, cầu tiến mới dĂĄm gan dạ đến trước bậc đức hạnh phơi bĂ y hết tội lỗi của mĂŹnh cầu xin sĂĄm hối. GiĂĄ trị căn bản nhất lĂ , hổ thẹn vĂ  cầu tiến, hai tĂąm nĂ y lĂ  động cơ chĂ­nh yếu trong việc sĂĄm hối. VĂŹ hổ thẹn vĂ  cầu tiến chĂșng ta mới sĂĄm hối, sau khi sĂĄm hối dứt khoĂĄt khĂŽng tĂĄi phạm gĂąy tạo nữa. Trọng tĂąm của sĂĄm hối lĂ  ở chỗ nĂ y.

<font size="3" face=""Times New Roman"" color="olive">III.- HÌNH THỨC SÁM HỐI

SĂĄm hối tương tợ nghĩa xin lỗi của người thế gian. Người thế gian lỡ phạm lầm lỗi với ai khiến họ phiền muộn, biết mĂŹnh cĂł lỗi gan dạ đến xin lỗi, lỗi lầm ấy liền được tha thứ, nếu người rộng lượng, hoặc giảm bớt buồn phiền, nếu người cố chấp. Biết nhận lỗi mĂŹnh vĂ  gan dạ đi xin lỗi, quả lĂ  người tiến bộ đĂĄng khen. Người tu cũng thế, nếu vĂŹ ba nghiệp khĂŽng khĂ©o gĂŹn giữ, cĂł ngĂŽn ngữ hĂ nh động lĂ m cho người chung quanh mĂŹnh phiền nĂŁo, nhận rĂ” lỗi mĂŹnh, gan dạ đến ngay đương sự thĂ nh tĂąm sĂĄm hối. Nếu người thật tu hĂ nh, khĂŽng ai chẳng tha thứ cho người đĂŁ biết lỗi sĂĄm hối. Thế lĂ  tội lỗi liền đĂł dứt sạch.

Nếu người tu vĂŹ si mĂȘ che đậy lỡ phạm những giới của mĂŹnh đĂŁ thọ, cần phải hổ thẹn gan dạ đến trước những vị đức hạnh phĂĄt lồ sĂĄm hối. Do lĂČng thĂ nh của mĂŹnh vĂ  nhờ sự chứng minh của bậc trưởng thượng, chĂșng ta nỗ lực cố gắng khĂŽng tĂĄi phạm những lỗi lầm cũ vĂ  khĂŽng tạo tội lỗi mới. CĂĄc bậc đức hạnh khĂŽng thể tha tội lỗi cho chĂșng ta, song nhờ cĂĄc ngĂ i lĂ m đối tượng cao quĂ­ khiến những lời hứa nguyện của chĂșng ta cĂł thĂȘm sức mạnh, cho đến cả đời khĂŽng quĂȘn. Biết ăn năn lỗi cũ, khĂŽng tạo tội mới, đĂąy lĂ  lĂœ do hết tội của người sĂĄm hối.

TrĂȘn đường tu hĂ nh, chĂșng ta thấy chướng nhiều thuận Ă­t, hoặc trong khi phĂĄt nguyện tu hĂ nh gặp toĂ n những trở ngại, hoặc thĂąn thể bệnh hoạn ngăn trở sự tu, hoặc tĂșc nghiệp ĂĄc duyĂȘn khiến mờ mịt ngu tối... gặp hoĂ n cảnh nĂ y, chĂșng ta nĂȘn đến trước hĂŹnh tượng Phật, Bồ-tĂĄt thĂ nh tĂąm sĂĄm hối. Bởi những nghiệp duyĂȘn đời trước, hiện nay chĂșng ta khĂŽng nhớ khĂŽng biết, chỉ thấy những hiện tượng bất tường, nhận ra mĂŹnh cĂČn nhiều ĂĄc chướng, đến trước Phật, Bồ-tĂĄt thĂ nh tĂąm sĂĄm hối. Với lĂČng thiết tha tĂąm chĂąn thĂ nh, chĂșng ta đảnh lễ Phật, Bồ-tĂĄt, quĂŹ gối chĂ­ thĂ nh phĂĄt lĂȘn những lời chĂ­ thiết sĂĄm hối vĂ  hứa nguyện, cầu Phật, Bồ-tĂĄt chứng minh. Bởi lĂČČng thĂ nh khẩn thiết tha nĂ y, nĂȘn sĂĄm hối tội lỗi chĂłng sạch. Lời văn sĂĄm hối những nghiệp chướng cũ thu gọn trong bốn cĂąu nĂ y:

Xưa con đĂŁ tạo bao ĂĄc nghiệp

Đều bởi muĂŽn thuở tham sĂąn si

Từ thĂąn miệng Ăœ mĂ  phĂĄt sanh

Tất cả, nay con xin sĂĄm hối.

IV.- TINH THẦN SÁM HỐI

SĂĄm hối đĂșng Ăœ nghĩa của nĂł phải cĂł đủ tĂąm hổ thẹn vĂ  cầu tiến. VĂŹ hổ thẹn, chĂșng ta khĂŽng thể chứa chấp tội lỗi mĂŁi, cần thĂ nh tĂąm sĂĄm hối rồi mới an ổn. Với tinh thần cầu tiến chĂșng ta phải dứt khoĂĄt những lỗi lầm đĂŁ qua bằng cĂĄch sĂĄm hối, để vui vẻ tiến lĂȘn con đường đạo đức. CĂł thế, sự tu hĂ nh tinh tấn khĂŽng bị chướng ngại. Bởi hổ thẹn vĂ  mong mỏi vươn lĂȘn, sau khi sĂĄm hối, chĂșng ta tuyệt đối khĂŽng để tĂĄi phạm những lỗi cũ. ChĂ­nh khi sĂĄm hối khĂŽng phải bị ai bắt buộc, chỉ do tĂąm hổ thẹn thĂșc đẩy, chĂ­ thĂ nh tha thiết sĂĄm hối. LĂČng chĂ­ thĂ nh tha thiết sẽ giĂșp chĂșng ta sạch hết mọi tội lỗi.

Tuy nhiĂȘn, đĂŁ thĂ nh tĂąm sĂĄm hối lĂœ đĂĄng khĂŽng được tĂĄi phạm lỗi ấy nữa, song vĂŹ hoĂ n cảnh bất khả khĂĄng, hoặc vĂŹ tĂąm yếu mềm chống chọi khĂŽng lại, rồi  dẫm lại vết xưa. Thế đĂŁ dở lắm rồi, nhưng chĂșng ta cũng thĂ nh tĂąm sĂĄm hối đừng nản. CĂČn biết sĂĄm hối, chĂșng ta cĂČn thấy đĂł lĂ  tội lỗi, nếu buĂŽng xuĂŽi luĂŽn, tội lỗi cĂ ng ngập đầu. VĂŹ thế, cĂł khi một lỗi phạm đến đĂŽi ba lần, lần nĂ o chĂșng ta cũng vẫn mạnh dạn sĂĄm hối, đừng vĂŹ tự ĂĄi khĂŽng dĂĄm sĂĄm hối những lỗi đĂŁ tĂĄi phạm, tự ĂĄi nĂ y lĂ  gốc khiến ta buĂŽng lung tột độ.

Tinh thần sĂĄm hối buộc chĂșng ta phải thĂ nh khẩn thiết tha, hổ thẹn cầu tiến, vạch trần những lỗi lầm đĂŁ lĂ m, cầu xin sĂĄm hối. VĂŹ v&#7853;y, khi sĂĄm hối đương sự phải cần cầu tha thiết, lời lẽ trĂŹnh bĂ y chĂąn thĂ nh rĂ nh rĂ” thiết yếu, phĂĄt nguyện chừa cải một cĂĄch mạnh dạn, mới đĂșng Ăœ nghĩa sĂĄm hối. Nhưng gần đĂąy cĂĄc chĂča cứ theo lệ xưa, chiều mười bốn vĂ  chiều ba mươi tổ chức lạy sĂĄm hối Hồng Danh, sau khi lạy quĂŹ xuống tụng nguyĂȘn bản văn dịch Ăąm chữ HĂĄn, Phật tử đọc thuộc lĂČng mĂ  khĂŽng hiểu  biết gĂŹ hết. Như thế, cứ lạy tụng xong gọi lĂ  xong thời sĂĄm hối. SĂĄm hối như thế mất hết tinh thần cao cả, Ăœ nghĩa thĂąm sĂąu của nĂł. Hằng ngĂ y Phật tử lĂ m những tội lỗi gĂŹ cũng được, miễn đến ngĂ y mười bốn vĂ  ba mươi đi sĂĄm hối một thời lĂ  sạch. Quả lĂ  một việc lĂ m lấy lệ khĂŽng đĂșng tinh thần đạo Phật.

V.- LỢI ÍCH SÁM HỐI

Nếu người phạm tội một lĂČng thĂ nh khẩn thiết tha sĂĄm hối, sau khi sĂĄm hối tuyệt đối khĂŽng tĂĄi phạm, người nĂ y chưa phải lĂ  thĂĄnh, nhưng đĂŁ lĂ  bậc hiền. Bởi vĂŹ tất cả thế gian nĂ y cĂł ai khĂŽng cĂł tội lỗi, chỉ khĂĄc nhau nhiều hay Ă­t, biết chừa cải hay khĂŽng biết chừa cải ấy thĂŽi. ĐĂŁ cĂł tội lỗi mĂ  biết ăn năn hối cải, tội lỗi ấy sẽ giảm xuống dần dần, cho đến hết, người như thế khĂŽng phải bậc hiền lĂ  gĂŹ? Cho nĂȘn trong cuộc sống nĂ y, chĂșng ta đừng đĂČi hỏi mĂŹnh hay mọi người khĂŽng cĂł tội lỗi, chỉ cần khi lỡ phạm tội lỗi mĂŹnh cũng như mọi người phải hổ thẹn ăn năn thĂ nh tĂąm sĂĄm hối, nguyện chừa cải hẳn sau nĂ y. Được thế, chĂșng ta đều lĂ  con người tiến bộ, lĂ  kẻ sẽ vươn lĂȘn bậc Hiền ThĂĄnh ở mai kia. SĂĄm hối muốn hết tội  phải nhắm thẳng động cơ chĂĄnh yếu của nĂł. Như bĂ i kệ nĂ y:

TĂĄnh tội vốn khĂŽng do tĂąm tạo

TĂąm nếu diệt rồi tội sạch trong

Tội trong tĂąm diệt cả hai khĂŽng

Thế ấy mới lĂ  chĂąn sĂĄm hối.

HĂ nh động ăn cướp ăn trộm, tự nĂł khĂŽng thể thĂ nh nghiệp phải do lĂČng tham thĂșc đẩy. LĂČng tham lĂ  động cơ chĂĄnh yếu của hĂ nh động trộm cướp. Thế nĂȘn nĂłi “tĂĄnh tội vốn khĂŽng do tĂąm tạo”. LĂČng tham dứt rồi thĂŹ hĂ nh động trộm cướp lĂ m gĂŹ cĂČn. Quả lĂ  cả tĂąm cả tội đều sạch, sự sĂĄm hối nĂ y mới lĂ  chĂąn chĂĄnh sĂĄm hối. ChĂąn chĂĄnh sĂĄm hối thĂŹ tội lỗi nĂ o mĂ  chẳng sạch.

Hoặc khi sĂĄm hối thĂŹ thĂ nh khẩn tha thiết, song sau đĂł lại mau quĂȘn thỉnh thoảng lại tĂĄi phạm. TĂĄi phạm lại sĂĄm hối, năm lần mười lượt như vậy, tuy tội khĂŽng sạch được, mĂ  do bền chĂ­ sĂĄm hối nĂł cũng mĂČn dần. ĐĂąy cĂł thể lĂ  trường hợp của hạng trung bĂŹnh chĂșng ta. ChĂșng ta chưa được một lần sĂĄm hối lĂ  dứt khoĂĄt khĂŽng phạm, mĂ  lĂąu lĂąu lại tĂĄi phạm tội cũ. Đừng thối chĂ­ đừng nản lĂČng, chĂșng ta lại dập đầu sĂĄm hối nữa. Biết như thế lĂ  dở, song dở phải chịu dở chớ sao; biết dở chịu dở cĂČn hơn người khĂŽng biết khĂŽng chịu.

CĂł sĂĄm hối lĂ  cĂł suy giảm tiĂȘu mĂČn, chĂșng ta hằng ngĂ y mang tĂąm hổ thẹn, lĂČng thiết tha sĂĄm hối mĂŁi. Nhắc đi lập lại đĂŽi ba mươi lần, nĂł cũng cĂł sức mạnh, đĂąy lĂ  hĂ nh động thấp mĂŹnh khiến tĂąm ngạo mạn tiĂȘu mất, lĂąu ngĂ y cĂŽng đức cũng được đầy đủ. DĂĄm sĂĄm hối cũng lĂ  một việc lĂ m can đảm, nĂł lĂ  sức mạnh đẩy chĂșng ta tiến lĂȘn. Tu mĂ  khĂŽng gan dạ sĂĄm hối, quả lĂ  người hĂšn nhĂĄt che dấu khĂŽng thể nĂ o tiến lĂȘn được.

VI.- KẾT LUẬN

Người đời đa số cĂł tội lỗi tĂŹm mọi cĂĄch khĂ©o lĂ©o che giấu đắp điếm cho người khĂĄc đừng thấy lỗi mĂŹnh, chĂșng ta cĂł lỗi can đảm nhận chịu vĂ  can đảm phơi bĂ y cho người khĂĄc biết để sĂĄm hối. Thế đĂŁ vượt hơn người đời một bậc đĂĄng kể rồi. Huống lĂ , biết lỗi rồi ăn năn hổ thẹn quyết tĂąm chừa cải để khỏi phạm lại lần thứ hai, người nĂ y hẳn đĂŁ đi theo bước đường của Hiền ThĂĄnh. C9;n bản của sự tu hĂ nh lĂ  sửa đổi những điều dở, nếu chĂșng ta khĂŽng cĂČn dở thĂŹ ai cần tu. Sửa đổi những điều dở, sĂĄm hối lĂ  thượng sĂĄch. Người biết sĂĄm hối, lĂ  biết tu, ngược lại cĂł lỗi mĂ  khĂŽng biết sĂĄm hối, dĂč cĂł mang hĂŹnh thức nhĂ  tu kẻ ấy cũng chưa biết tu. SĂĄm hối với một tĂąm chĂ­ thĂ nh, với một lĂČng tha thiết, xấu hổ những lỗi đĂŁ lĂ m, quả quyết khĂŽng tĂĄi phạm, người nĂ y khĂŽng cĂČn tội lỗi nĂ o mĂ  chẳng sạch. DĂč cĂł tạo tội bao nhiĂȘu, họ vẫn lĂ  người tốt ở mai sau.

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

I.- MỞ ĐỀ

Thấy người lĂ m việc lĂ nh việc phải, mĂŹnh tĂĄn thĂĄn bằng lời, hoặc gĂłp một phần cĂŽng, giĂșp một phần của để thĂ nh tựu cĂŽng việc lĂ nh ấy. Quả lĂ  người nĂ y đĂŁ cĂł lĂČng lĂ nh đĂĄng quĂ­ đĂĄng mến. Huống nữa, Tam Bảo lĂ  cĂąy cầu đưa chĂșng sanh từ bến mĂȘ qua bờ giĂĄc, Tam Bảo lĂ  con thuyền cứu vớt chĂșng sanh đang chĂŹm trong bể khổ đưa đến bờ Niết-bĂ n, Tam Bảo lĂ  ngọn đĂšn sĂĄng soi đường cho chĂșng sanh khỏi lạc trong rừng tối vĂŽ minh. Người phĂĄt tĂąm tĂĄn trợ bồi bổ tĂŽ đắp cho Tam Bảo thường cĂČn ở thế gian thĂŹ cĂŽng đức biết bao kể xiết. VĂŹ Tam Bảo thường cĂČn ở thế gian, chĂșng ta phĂĄt tĂąm cĂșng dường, quả lĂ  việc lĂ m tự lợi lợi tha đầy đủ.

II.- ĐỊNH NGHĨA

CĂșng dường lĂ  nuĂŽi dưỡng khiến Tam Bảo hằng cĂČn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giĂșp đỡ gĂŹn giữ để Tam Bảo thường cĂČn đều gọi lĂ  cĂșng dường. Tam Bảo lĂ  Phật, PhĂĄp vĂ  Tăng. Phật đĂŁ quĂĄ khứ, chỉ cĂČn lại hĂŹnh tượng. PhĂĄp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ HĂĄn cĂČn nằm sẵn trong kho tĂ ng nhĂ  chĂča. Tăng lĂ  những tu sĩ tu theo Phật học chĂĄnh phĂĄp. ChĂ­nh những vị nĂ y cĂł bổn phận gĂŹn giữ hĂŹnh tượng Phật cĂČn, phiĂȘn dịch giảng giải chĂĄnh phĂĄp. Tam Bảo đều quĂ­ kĂ­nh, song hệ trọng nhất lĂ  Tăng. Nếu khĂŽng cĂł Tăng ai gĂŹn giữ chĂča chiền, ai giảng dạy chĂĄnh phĂĄp? Thế nĂȘn, cĂșng dường Tam Bảo lĂ  nĂłi chung, mĂ  hệ trọng lĂ  Tăng. Tăng chĂșng cĂČn lĂ  Tam Bảo cĂČn, Tăng chĂșng mất thĂŹ Tam Bảo cũng vắng bĂłng. VĂŹ thế mọi sự cĂșng dường đều đặt nặng vĂ o Tăng, với mục đĂ­ch Tam Bảo tồn tại ở nhĂąn gian.

III.- CÚNG DƯỜNG SAI LẠC

Thế mĂ  cĂł những người cĂșng dường một cĂĄch lệch lạc mất hết Ăœ nghĩa cĂșng dường. Như cĂł một Phật tử đi chĂča đến thầy Trụ trĂŹ xin cĂșng năm đồng, liền đĂł được nghe hỏi “cầu cĂĄi gì”, Phật tử ngơ ngĂĄc. Thầy Trụ trĂŹ hỏi thĂȘm “cầu an hay cầu siĂȘu”, Phật tử bĂłp đầu suy nghĩ đĂĄp “cầu siĂȘu”, rồi biĂȘn một dọc tĂȘn vĂ o sổ cầu siĂȘu. Phật tử nĂ y như thế, Phật tử khĂĄc cũng thế. ĐĂŁ thĂ nh thĂŽng lệ, cĂșng chĂča lĂ  phải cầu siĂȘu hay cầu an. Cầu an cầu siĂȘu cho bản thĂąn mĂŹnh, cho gia đĂŹnh mĂŹnh, cho thĂąn thuộc mĂŹnh, sự cĂșng ấy quả lĂ  vĂŹ mĂŹnh. VĂŹ mĂŹnh mĂ  đi chĂča, vĂŹ mĂŹnh mĂ  cĂșng chĂča đĂ­ch thực lĂ  tham lam Ă­ch kỷ. Nếu mang một tĂąm niệm tham lam Ă­ch kỷ đến với đạo, chưa xứng đĂĄng một Phật tử. CĂĄi hư dở nĂ y tại ai? ChĂ­nh tại người hướng dẫn đĂŁ chỉ lối sai lạc.

Đến phần ĂŽng thầy, do Phật tử cầu siĂȘu cầu an nĂȘn cĂł tiền. Đồng tiền nĂ y sau một thời kinh cầu nguyện xong, ĂŽng tự coi như trọn quyền sử dụng khĂŽng cĂł tĂĄnh cĂĄch e dĂš sợ sệt gĂŹ cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cĂșng nhiều tiền, thế lĂ  ĂŽng mặc tĂŹnh phung phĂ­, vĂŹ tự cho do cĂŽng tụng cĂșng của mĂŹnh mĂ  được. Thế thĂŹ đời tu hĂ nh cốt vĂŹ giĂĄc ngộ giải thoĂĄt, vĂŽ tĂŹnh trở thĂ nh người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phĂș cầu bần, xả thĂąn cầu đạo, biến thĂ nh kẻ thụ hưởng. TrĂĄi với mục đĂ­ch xuất gia, trở thĂ nh kẻ hư hĂšn, chĂ­nh vĂŹ nhận đồng tiền phi phĂĄp. Cầu nguyện lĂ  một điều phụ thuộc nhỏ nhĂ­t trong Phật phĂĄp, vĂŹ nĂł khĂŽng phải lĂ  chĂąn lĂœ. Thế mĂ , người ta thổi phồng nĂł lĂȘn, để rồi cả đời người tu gần như hết tĂĄm mươi phần trăm (8O%) Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bĂĄ một điều khĂŽng phải  chĂąn lĂœ, ắt hẳn chĂĄnh phĂĄp phải chịu suy đồi. Người cĂł trĂĄch nhiệm hướng dẫn Phật tử mĂ  một bề cổ xĂșy cho sự cầu cĂșng, lĂ  đưa họ vĂ o rừng sĂąu mĂȘ tĂ­n, gĂąy thĂȘm lĂČng tham lam Ă­ch kỷ cho họ. Quả lĂ  kẻ tạo thĂȘm tội lỗi, chớ khĂŽng phải người tu hĂ nh.

IV.- CÚNG DƯỜNG ĐÚNG PHÁP

Người Phật tử chĂąn chĂĄnh khi phĂĄt tĂąm cĂșng dường Tam Bảo, chỉ vĂŹ mong cho Tam Bảo thường cĂČn ở thế gian để đưa chĂșng sanh ra khỏi đau khổ mĂȘ lầm. Nếu đến chĂča, Phật tử cĂșng năm mười đồng, Tăng, Ni cĂł hỏi cầu điều gĂŹ, Phật tử nĂȘn thưa: “ChĂșng tĂŽi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận mĂłn tịnh tĂ i nĂ y để cĂł phương tiện an ổn tu hĂ nh, hầu truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp lợi Ă­ch chĂșng sanh.” Chỉ vĂŹ Tam Bảo vĂŹ chĂșng sanh mĂ  cĂșng dường, đĂąy lĂ  tĂąm hồn cao thượng quảng đại vị tha. LĂ m việc bố thĂ­ cĂșng dường cao đẹp như vậy cĂŽng đức lĂ m sao giới hạn được. VĂŹ Tam Bảo thường cĂČn ở thế gian để lĂ m lợi Ă­ch cho chĂșng sanh, trong chĂșng sanh đĂŁ cĂł bản thĂąn mĂŹnh vĂ  thĂąn quyến mĂŹnh rồi. QuĂȘn mĂŹnh chỉ nghĩ đến toĂ n thể chĂșng sanh, khĂŽng phải  lĂČng lợi tha vĂŽ bờ bến lĂ  gĂŹ? Với một lĂČng vị tha rộng lớn như vậy, dĂč một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cĂșng dường cũng lĂ  phước đức vĂŽ biĂȘn. Cho nĂȘn nĂłi “Phật dụng tĂąm”.

Tăng, Ni nhận sự cĂșng dường chĂąn chĂĄnh của Phật tử, tự nhiĂȘn thấy mĂŹnh cĂł một trọng trĂĄch lớn lao vĂŽ cĂčng. LĂ m sao tu hĂ nh tinh tiến? LĂ m sao truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp lợi Ă­ch chĂșng sanh? Để xứng đĂĄng thọ nhận những thứ cĂșng dường của Phật tử,  chỉ cần nỗ lực tu hĂ nh, cố gắng học tập để hiện tại vĂ  vị lai lĂ m lợi Ă­ch chĂșng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, khĂŽng lĂ m trĂČn hai việc nĂ y, cĂł thể mai kia phải mang lĂŽng đội sừng để trả nợ tĂ­n thĂ­. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni lĂ m sao dĂĄm lơi lỏng lơ lĂ  trong việc tu hĂ nh học tập. Thế lĂ , nhờ sự cĂșng dường chĂąn chĂĄnh của Phật tử thĂșc đẩy Tăng, Ni đĂŁ cốĂč gắng cĂ ng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiĂȘng liĂȘng cao cả của chĂ­nh mĂŹnh. Thấy mĂŹnh thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cĂĄch nỗ lực tu hĂ nh vĂ  độ sanh, đĂąy lĂ  mục tiĂȘu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồĂž cĂșng dườ;ng của Phật tử. Tăng, Ni lĂ  người cĂł bổn phận hướng dẫn tĂ­n đồ cĂșng dường chĂąn chĂĄnh đĂșng phĂĄp thĂŹ, cả thầy trĂČ đều cao thượng vĂ  lợi Ă­ch lớn. ChĂșng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm, đừng vĂŹ quyền lợi, đừng vĂŹ cảm tĂŹnh, khiến cho chĂĄnh phĂĄp đi lần vĂ o chỗ mờ tối suy tĂ n. ChĂșng ta lĂ  người lĂŁnh đạo, khĂŽng phải lĂ  kẻ theo đuĂŽi tĂ­n đồ để cầu được nhiều lợi dưỡng. ĐĂŁ dĂĄm bỏ nhĂ  đi tu, tức lĂ  dĂĄm nhận chịu mọi sự đĂłi rĂĄch nghĂšo nĂ n, mọi sự gian truĂąn khĂł khổ, vĂŽ lĂœ vĂŹ sự ăn mặc mĂ  đi ngược lại sơ tĂąm siĂȘu thoĂĄt của mĂŹnh.

Tuy nhiĂȘn, nĂłi  thế khĂŽng cĂł nghĩa chĂșng tĂŽi hoĂ n toĂ n phủ nhận sự cầu nguyện. ChĂșng ta thấy rĂ” cầu nguyện chỉ lĂ  trợ duyĂȘn nhỏ xĂ­u, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi Ă­ch một hai phần mười, như trong kinh nĂłi. ChĂșng ta đĂŁ thừa nhận “nhĂąn quả nghiệp bĂĄo” lĂ  chĂąn lĂœ thĂŹ sự cầu  nguyện lĂ  ngoại lệ, cĂł kết quả cũng tĂ­ xĂ­u thĂŽi. Cổ vũ cho điều phi chĂąn lĂœ, để cho người xao lĂŁng chĂąn lĂœ, lĂ  việc lĂ m trĂĄi với chĂĄnh phĂĄp. VĂŹ lĂČng hiếu thảo của Phật tử, buộc lĂČng chĂșng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chĂșng ta phải cảnh cĂĄo rằng: “Việc lĂ m nĂ y lĂ  phụ thuộc khĂŽng đĂĄng kể, kết quả Ă­t lắm.” CĂł thế mới khỏi lệch lạc trĂȘn con đường hoằng hĂła lợi Ă­ch chĂșng sanh. ĐĂŁ thấy cầu nguyện lĂ  việc phụ, chĂșng ta đừng vĂŹ nĂł lĂ m mất thĂŹ giờ tu học của Tăng, Ni, lĂ m mất thĂŹ giờ truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp.

V.- LỢI ÍCH CÚNG DƯỜNG

CĂșng dường Tam Bảo được lợi Ă­ch tĂčy tĂąm niệm người Phật tử. Nếu vĂŹ mĂŹnh vĂ  thĂąn thuộc mĂŹnh mĂ  cĂșng dường, phước đức cũng theo tĂąm lượng hẹp hĂČi ấy. Nếu vĂŹ Tam Bảo thường cĂČn vĂ  lợi Ă­ch chĂșng sanh, phước đức sẽ theo tĂąm lượng rộng rĂŁi thĂȘnh thang nĂ y. Người Phật tử chĂąn thật thĂŹ, bao giờ hay bất cứ việc gĂŹ cũng vĂŹ lợi Ă­ch chĂșng sanh. Đừng khi nĂ o để lệch lạc mục tiĂȘu tối thượng ấy. Chư Phật ra đời cũng vĂŹ chĂșng sanh, truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp cũng vĂŹ chĂșng sanh, chĂșng ta đền ơn chư Phật cũng vĂŹ cứu độ chĂșng sanh. ĐĂł lĂ  tĂąm niệm rộng lớn cao cả của người tu theo đạo Phật. VĂŹ chĂșng sanh mĂ  cĂșng dường Tam Bảo, quả thật người Phật tử sống đĂșng chĂĄnh phĂĄp, hĂ nh đĂșng chĂĄnh phĂĄp. HĂ nh động đĂșng chĂĄnh phĂĄp thĂŹ cĂŽng đức lượng đồng với chĂĄnh phĂĄp, nghĩa lĂ  kiếp kiếp đời đời khĂŽng mất. Nếu dạy Phật tử lĂ m phước tạo cĂŽng đức, Tăng, Ni nĂȘn dạy đĂșng tinh thần nĂ y.

VI.- KẾT LUẬN

ChĂșng ta tu theo đạo Phật lĂ  đi trĂȘn con đường sĂĄng, ĂĄnh sĂĄng giĂĄc ngộ đến đĂąu thĂŹ bĂłng đĂȘm mĂȘ lầm tan đến đấy. MĂȘ tĂ­n lĂ  một bĂłng đĂȘm, giĂĄc ngộ lĂ  ngọn đĂšn sĂĄng. BĂłng đĂȘm vĂ  ĂĄnh sĂĄng hai cĂĄi khĂŽng thể cĂł đồng thời. Nếu sĂĄng thĂŹ khĂŽng tối, hoặc tối thĂŹ khĂŽng sĂĄng. CĂł giĂĄc ngộ lĂ  khĂŽng cĂł mĂȘ tĂ­n, cĂł mĂȘ tĂ­n thĂŹ khĂŽng cĂł giĂĄc ngộ. Nếu chứa chấp mĂȘ tĂ­n lĂ  chĂșng ta đĂŁ phản bội với đạo giĂĄc ngộ. Trong đạo giĂĄc ngộ quả thật khĂŽng cĂł mĂȘ tĂ­n. Học đạo vĂ  truyền đạo giĂĄc ngộ, chĂșng ta cương quyết dẹp hết bĂłng đĂȘm mĂȘ tĂ­n. CĂł được như vậy mới gọi lĂ  người trung thực với chĂĄnh phĂĄp. Bằng ấp ủ nuĂŽi dưỡng chứa chấp mĂȘ tĂ­n, dĂč kẻ ấy mỗi ngĂ y cĂșng Phật trăm lần vẫn lĂ  kẻ phĂĄ hoại chĂĄnh phĂĄp. ThĂ  lĂ  chĂșng ta cam chịu chết đĂłi, quyết khĂŽng vĂŹ lợi dưỡng mĂ  lĂ m những điều mĂȘ tĂ­n, dẫn dắt người đi trĂȘn đường mĂȘ tĂ­n. ĐĂŁ thừa nhận mĂŹnh lĂ  Phật tử, quyết định khĂŽng vĂŹ lĂČng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mĂȘ tĂ­n.

PHẬT GIÁO ĐỘ SANH

I. MỞ ĐỀ

Tất cả việc lĂ m của Phật giĂĄo đều tập chĂș vĂ o lợi Ă­ch cho chĂșng sanh. ChĂșng sanh lĂ  đối tượng duy nhất của Phật giĂĄo. Thế nĂȘn sự truyền bĂĄ của Phật giĂĄo vĂŹ lợi Ă­ch chĂșng sanh. Nếu khĂŽng vĂŹ lợi Ă­ch chĂșng sanh, sự truyền bĂĄ ấy lĂ  vĂŽ nghĩa lĂœ. ChĂșng sanh ở đĂąy lĂ  những người hiện cĂł mặt, nghe hiểu được những lời giĂĄo hoĂĄ. ChĂșng ta đừng hiểu chĂșng sanh lĂ  những Ăąm hồn, những kẻ chết. Nếu Phật giĂĄo sống với kẻ chết, thực chất Phật giĂĄo đĂŁ chết mất  rồi. Thế mĂ  gần đĂąy cĂł một số Tăng, Ni đưa Phật giĂĄo đi vĂ o cĂ”i chết. Tăng, Ni xuất hiện đĂŽng đủ chỉ ở những đĂĄm ma chay. Phật sự quan trọng của Tăng, Ni lĂ  đưa ma cĂșng đĂĄm. ĐĂł lĂ  nĂ©t bi thảm đang xuất hiện trĂȘn hĂŹnh ảnh Phật giĂĄo Việt Nam. Cần nĂłi một cĂąu chĂ­nh xĂĄc hơn: “Phật giĂĄo độ sanh, khĂŽng phải độ tử.” Nếu ai cố tĂŹnh đem Phật giĂĄo vĂ o cĂ”i tử, chĂ­nh lĂ  kẻ lĂ m hoại diệt Phật  giĂĄo.

II. GIẢNG DẠY

VĂŹ tĂ­nh cĂĄch độ sanh nĂȘn những người truyền giĂĄo cĂł bổn phận hằng giảng dạy cho tĂ­n đồ thĂŽng hiểu Phật giĂĄo. Mỗi ngĂŽi chĂča lĂ  một nơi giảng dạy kinh điển, mỗi buổi lễ lĂ  mỗi lần giảng dạy giĂĄo lĂœ. CĂł thế, người Phật tử mới biết rĂ” đường lối tu hĂ nh, mới thĂąm nhập được giĂĄo lĂœ cao siĂȘu. Phật giĂĄo đĂŁ tự hĂ o cĂł một kho tĂ ng kinh điển dồi dĂ o, mĂ  người Phật tử kể cả Tăng, Ni, đa số dốt nĂĄt về giĂĄo lĂœ. Lỗi  ấy tại ai? Bởi sự truyền bĂĄ cĂČn sơ sĂłt yếu kĂ©m, chĂ­nh Tăng, Ni phải chịu trĂĄch nhiệm. Sở dĩ cĂł sơ sĂłt nĂ y, vĂŹ Tăng, Ni bận quĂĄ nhiều thĂŹ giờ lo cho người chết. Một người chết, Tăng, Ni mất mấy ngĂ y đĂȘm cĂł mặt tại tang gia, sau khi chĂŽn cất xong, phải mất bao nhiĂȘu ngĂ y trong những lễ trai tuần. Nếu chĂča cĂł đĂŽi ba ngĂ n Phật tử, thử hỏi Tăng, Ni cĂČn thĂŹ giờ đĂąu lo tu học vĂ  truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp. Quả lĂ  chĂșng ta lĂ m lệch lạc trọng trĂĄch của mĂŹnh. Việc đĂĄng lĂ m chĂșng ta lại khĂŽng lĂ m, việc khĂŽng đĂĄng lĂ m chĂșng ta lại dồn hết thĂŹ giờ vĂ o đĂł. VĂ­ như người chết đĂŁ nằm cứng đờ trong quan tĂ i, mĂ  ba bốn vị Tăng, Ni cĂł khi nhiều hơn, thường trực tụng kinh cho họ nghe, thử hỏi đĂŁ nghe được những gĂŹ? ĐĂșng theo tinh thần Phật giĂĄo, người chết sau khi tắt thở tĂčy nghiệp thiện ĂĄc theo đĂł đi thọ sanh, cĂł ai cĂČn lẩn quẩn bĂȘn quan tĂ i để chĂșng ta tụng kinh cho họ nghe. Việc lĂ m nĂ y quả thật khĂŽng đĂĄng, mĂ  chĂșng ta tốn nhiều thĂŹ giờ. VĂŹ thế, việc tối quan trọng lĂ  giảng kinh dạy đạo, chĂșng ta phải bĂȘ tha đi. Nếu thật người chĂąn chĂĄnh xuất gia, chĂșng ta phải điều chỉnh lại, đừng để đi mĂŁi trĂȘn con đường sai lầm như thế. ChĂșng ta hằng nhớ trọng trĂĄch của mĂŹnh lĂ  phổ biến chĂĄnh phĂĄp l907;i Ă­ch quần sanh, khĂŽng phải vĂŹ tụng cĂșng để được lĂČng Phật tử.

III.- DỊCH KINH VIẾT SÁCH

Kinh điển Phật giĂĄo hiện giờ chưa được phiĂȘn dịch hết ra chữ Việt. Thế lĂ  trọng trĂĄch Tăng, Ni cĂČn nặng nề biết mấy. Những bản kinh chữ Phạn, sang Trung Quốc người ta đĂŁ phiĂȘn dịch thĂ nh chữ HĂĄn. Tạng kinh chữ HĂĄn cĂł mặt ở Việt Nam khĂĄ lĂąu rồi, Tăng, Ni Việt Nam chưa phiĂȘn dịch được một phần mười (1/10). Cho đến những nghi lễ tụng niệm hằng ngĂ y cũng vẫn đọc theo phiĂȘn Ăąm chữ HĂĄn, quả lĂ  một thiếu sĂłt to tĂĄt của Phật giĂĄo Việt Nam. Tại sao Tăng, Ni khĂŽng dồn hết thĂŹ giờ của mĂŹnh trong việc học tập để phiĂȘn dịch kinh điển? Bởi vĂŹ Phật tử đĂČi hỏi việc đưa ma cĂșng đĂĄm, Tăng, Ni mới thiếu thĂŹ giờ học tập. Tăng, Ni lĂ  người hướng dẫn Phật tử, tại sao chĂșng ta mĂŁi để những đĂČi hỏi khĂŽng đĂĄng, lĂ m mất thĂŹ giờ vĂ ng ngọc của người tu? ChĂ­nh tại Tăng, Ni khĂŽng gan chẳng dĂĄm nĂłi thẳng, sợ mất cảm tĂŹnh, khiến tệ đoan cĂ ng ngĂ y cĂ ng thĂȘm. ĐĂąu những thế, cĂł một thiểu số Tăng, Ni lại bĂ y biện đủ cĂĄch rối ren, khiến đĂŁ mất thĂŹ giờ lại thĂȘm mất thĂŹ giờ. Những kẻ nĂ y bề ngoĂ i xem dường như thương Phật phĂĄp, kỳ thật họ lợi dụng Phật phĂĄp lĂ m kế sanh nhai. Người Phật tử dốt nĂĄt khĂŽng biết, thấy bĂ y biện chừng nĂ o lại cĂ ng thĂ­ch chừng ấy, quả thật kẻ mĂč dắt đĂĄm mĂč. Kinh điển lĂ  những phương thuốc độ đời, Tăng, Ni lĂ  người chịu trĂĄch nhiệm truyền bĂĄ, mĂ  khĂŽng dồn hết thĂŹ giờ học tập phiĂȘn dịch, thật lĂ  trĂĄi với bổn phận biết bao. Tổ tiĂȘn chĂșng ta khi xưa học chữ HĂĄn, nĂȘn Tạng kinh chữ HĂĄn vốn khĂŽng cĂł gĂŹ khĂł khăn. Hiện nay chĂșng ta học chữ Việt, Tạng kinh chữ HĂĄn lĂ  một cổ ngữ khĂŽng lĂ m sao đọc được. Tăng, Ni hiện nay khĂŽng cố gắng dịch ra chữ Việt, vĂŽ tĂŹnh chĂșng ta để giĂĄo lĂœ chết khĂŽ vĂ  chĂŽn sĂąu trong cĂĄc tủ kinh nhĂ  chĂča.

IV. THỌ CÚNG DƯỜNG

Khi xưa Phật cĂČn tại thế, nếu Phật tử muốn thỉnh Phật vĂ  Tăng chĂșng cĂșng dường, Phật đều thọ nhận. ĐĂșng giờ thọ trai, Phật vĂ  chĂșng Tăng mới đến, nghỉ ngơi giĂąy lĂĄt rồi thọ trai. Thọ trai xong, trong gia quyến tụ họp ngồi chung quanh đức Phật, NgĂ i vĂŹ gia quyến thuyết phĂĄp, thuyết phĂĄp xong, Phật vĂŹ gia quyến chĂșc lĂ nh, đứng dậy ra về. Thế thĂŹ người cĂșng dường vĂŹ Phật vĂ  Tăng chĂșng mĂ  cĂșng, người thọ cĂșng dường cũng vĂŹ gia chủ hiện tại mĂ  thọ. Phật thuyết phĂĄp chĂșc lĂ nh cũng vĂŹ người sống hiện cĂł mặt, đĂșng lĂ  Ăœ nghĩa độ sanh. NgĂ y nay chĂșng ta lại khĂĄc, gặp ngĂ y tuần, ngĂ y giỗ của cha mẹ, Phật tử thỉnh Tăng, Ni cĂșng dường. Tăng, Ni thọ trai xong, vĂŹ người chết tụng một biến kinh cầu nguyện, cầu nguyện xong ra về. Như vậy, người cĂșng dường vĂŹ kẻ chết mĂ  cĂșng, người thọ cĂșng dường cũng vĂŹ kẻ chết mĂ  cầu nguyện. Cả hai điều vĂŹ người chết , quả lĂ  Phật giĂĄo độ tử, đĂąu cĂČn lĂ  nghĩa độ sanh. Tăng, Ni đến nhĂ  khĂŽng cĂł lợi Ă­ch gĂŹ cho người hiện tại hết, chỉ cầu lợi Ă­ch cho kẻ quĂĄ cố, song người quĂĄ cố chắc gĂŹ cĂł mặt ở đĂąy, nếu người quĂĄ cố đĂŁ thĂĄc sanh nơi nĂ o rồi, việc lĂ m nĂ y cĂł phải viển vĂŽng khĂŽng thiết thực chăng? Tại sao chĂșng ta khĂŽng giữ theo nếp xưa, thực hĂ nh đĂșng tinh thần cĂșng dường Phật vĂ  Tăng chĂșng thuở trước, để Ăœ nghĩa độ sanh được vẹn toĂ n, sự lợi Ă­ch cụ thể thiết thực trĂČn đủ trăm phần? Trước đĂŁ quĂĄ hay, tại sao nay chĂșng ta lại bỏ? Nay thật dở, tại sao chĂșng ta lại theo? Ở đĂąy, chĂșng ta cần chỉnh lại, đừng để đưa Phật giĂĄo vĂ o cĂ”i chết, gĂąy thĂȘm mĂȘ tĂ­n cho Phật tử, trĂĄi với đạo lĂœ giĂĄc ngộ chĂąn thật của đức ThĂ­ch-ca.

Hơn nữa, khi xưa đức Phật thuyết phĂĄp cho dĂąn chĂșng nghe, nhĂąn nghe phĂĄp dĂąn chĂșng liền cĂșng dường cơm, Phật khĂŽng thọ nhận. Phật cho nhận như thế lĂ  nhờ giảng dạy nĂȘn cĂł cơm ăn, khĂŽng phải do lĂČng chĂąn thĂ nh phĂĄt tĂąm cĂșng dường của Phật tử. NgĂ y nay tại sao chĂșng ta đi tụng kinh cho Phật tử để được cĂșng cơm cĂșng tiền, hoan hỉ thọ nhận? LĂ m thế cĂł phải đi tụng kinh thuĂȘ chăng? CĂł trĂĄi với tĂŽng chỉ của Phật ngĂ y xưa khĂŽng? NgĂ y xưa, đức Phật cao cả thanh bạch đến thế, ngĂ y nay chĂșng ta ti tiện thấ;p hĂšn lắm vậy. ĐĂąy cũng lĂ  một điều chĂșng ta phải lưu tĂąm chỉnh đốn lại, đừng để những tệ tục cứ dắt mĂŁi chĂșng ta trong đường mĂȘ tối. Thậm chĂ­ hiện nay cĂł một Ă­t Tăng, Ni đến tận nhĂ  Phật tử dĂčng đủ lời lẽ để quyĂȘn tởi, thật đau lĂČng thay! Đạo lĂœ nĂ o dạy những điều ấy?

V.- DĨ HUYỄN ĐỘ CHÂN

Hoặc cĂł người nĂłi những việc cĂșng đĂĄm ma chay cho cĂĄc Phật tử chẳng qua “dĩ huyễn độ chĂąn”, nhĂąn cơ hội tang gia bối rối, chĂșng ta đến với họ để cĂł cảm tĂŹnh dẫn dắt họ vĂ o đạo. Nhưng xin đặt cĂąu hỏi, nếu vĂŹ cảm tĂŹnh đến với đạo, mai mốt mất cảm tĂŹnh thĂŹ sao? Chủ trương đạo Phật lĂ  tự giĂĄc tự nguyện, nếu khĂŽng vĂŹ lẽ tỉnh giĂĄc đến với đạo, người ấy vẫn chưa xứng đĂĄng lĂ  Phật tử. Huống chi, vĂŹ chiều theo cảm tĂŹnh của họ, Tăng, Ni mất hết giĂĄ trị cao thượng, thanh nhĂŁ của mĂŹnh, được đĂŽi ba người Phật tử, mĂ  người truyền giĂĄo mất hết giĂĄ trị, thử hỏi việc ấy cĂł đĂĄng lĂ m khĂŽng? ChĂșng tĂŽi đồng Ăœ, nếu cần Tăng, Ni đến đĂĄm ma đĂĄm tuần tại nhĂ  Phật tử, song với điều kiện tang gia thĂąn quyến tụ họp lại, để nghe Tăng, Ni  giảng một thời kinh, xong rồi hồi hướng cĂŽng đức cho người chết, Tăng, Ni ra về. Như thế, khả dĩ nĂłi “dĩ huyễn độ chĂąn” được. Bởi vĂŹ nhĂąn người chết, chĂșng ta giĂĄo hĂła kẻ sống cho hiểu đạo lĂœ. ĐĂĄm tuần, ngĂ y kỵ đều nĂȘn tổ chức như thế, việc lĂ m nĂ y khĂŽng trĂĄi với chĂĄnh phĂĄp.

Hoặc cĂł người nĂłi Phật giĂĄo từ bi, khi giĂĄo hoĂĄ kẻ dương lĂ  nghĩ đến người Ăąm, muốn lĂ m sao cho Ăąm dương lưỡng lợi, mới đầy đủ lĂČng từ. ChĂșng tĂŽi đồng Ăœ lẽ nĂ y, nhưng trong chĂča trước khi thọ trai, Phật dạy Tăng, Ni phải cĂșng chim đại bĂ ng, quỉ la-sĂĄt vĂ  cĂĄc quỉ thần, khĂŽng phải vĂŹ kẻ Ăąm lĂ  gĂŹ? Mỗi chiều ở chĂča hầu hết đều dĂčng nghi MĂŽng Sơn để cĂșng cĂŽ hồn, đĂąu khĂŽng phải vĂŹ kẻ Ăąm. Hằng đĂȘm ở chĂča hai thời cĂŽng phu, Tịnh độ sau đĂł đều phục nguyện “ñm siĂȘu dương thới”, cĂČn gĂŹ khĂŽng đủ lĂČng từ bi. N&#7871;u Phật tử cĂł lĂČng hiếu thảo muốn cầu nguyện cho thĂąn nhĂąn, cứ đến chĂča vĂ o những thời cĂŽng phu, Tịnh độ, Tăng, Ni sẽ vĂŹ thĂąn nhĂąn họ cầu nguyện cho. CĂł thế, khĂŽng mất thĂŹ giờ tu hĂ nh của Tăng, Ni, Phật tử cũng được mĂŁn nguyện. Biết tĂŽn trọng những bậc thầy hướng dẫn mĂŹnh mới gọi người ấy biết đạo đức, vĂŹ việc riĂȘng của mĂŹnh, để bậc thầy mĂŹnh mất hết giĂĄ trị cao thượng, lĂ  đạo đức chỗ nĂ o? Sự hướng dẫn khĂŽng khĂ©o cả thầy lẫn trĂČ lĂ m việc vĂŽ nghĩa, cĂČn chuốc lấy sự đau khổ lĂ  khĂĄc. Khi Phật cĂČn tại thế, chĂșng ta cĂł nghe NgĂ i đi đưa đĂĄm lần nĂ o đĂąu. Cho đến chư Tỳ-kheo mĂŽn đồ của Phật, cũng khĂŽng nghe đi đưa đĂĄm lần nĂ o. Tại sao chĂșng ta hiện nay, cứ bận rộn đĂĄm ma đĂĄm tuần mĂŁi. Thế lĂ  chĂșng ta đĂŁ đi đĂșng đường Phật hay đĂŁ sai rồi, cần phải vận dụng cĂŽng tĂąm xĂ©t lại điều nĂ y. Bởi Tăng, Ni xuất hiện trong xĂłm lĂ ng đều do nhĂ  cĂł ma chay, nĂȘn bất thần Tăng, Ni đến nhĂ  người nĂ o họ liền ghĂ©t sợ, coi như một điềm bất tường sắp đến cho gia đĂŹnh họ. Thật lĂ  ngĂ y xưa xem “một vị Tăng đến lĂ  một ĂŽng Phật lại”, ngĂ y nay thĂŹ ngược lại. Thử hỏi cĂČn gĂŹ hổ thẹn cho bằng?

VI. KẾT LUẬN

Chủ yếu Phật giĂĄo độ sanh một cĂĄch thiết thực, người mĂŽn đồ Phật giĂĄo phải thấy rĂ” điều nĂ y. Tất cả hĂ nh động, mọi cuộc tổ chức đều nhằm thẳng giĂĄo hoĂĄ chĂșng sanh, bằng con đường từ bi giĂĄc ngộ. Đem hạt giống từ bi giĂĄc ngộ gieo rắc trong lĂČng mọi người lĂ  truyền bĂĄ đạo Phật. Ngược lại, đem tĂŹnh cảm mĂȘ tĂ­n gieo rắc trong lĂČng tĂ­n đồ, thử hỏi đĂąy lĂ  truyền đạo gĂŹ? VĂŹ giải thoĂĄt cho mĂŹnh cho chĂșng sanh, nĂȘn chĂșng ta đi tu, tại sao chĂșng ta trở thĂ nh kẻ chiều chuộng phục vụ tĂ­n đồ để được cơm ăn ĂĄo mặc? Quả lĂ  điều sai đạo lĂœ khĂŽng hợp với chĂĄnh phĂĄp, chĂșng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm ấy, đem lại con đường tu hĂ nh cao thượng thanh bai cho chĂ­nh mĂŹnh vĂ  huynh đệ mai sau. Trọng trĂĄch của chĂșng ta khĂŽng phải đĂłng khung trong một nhĂłm bổn đạo, mĂ  phải đem đạo giĂĄc ngộ giải thoĂĄt lại cho toĂ n thể chĂșng sanh. LĂ m được như vậ;y mới đĂșng tinh thần Phật giĂĄo độ sanh.

LUÂN HỒI

I.- MỞ ĐỀ

CĂł một số người bảo “NhĂ  Phật nĂłi LuĂąn hồi để ru ngủ con người trong giấc mơ mĂȘ tĂ­n”. ChĂșng ta khảo sĂĄt kỹ coi cĂąu ấy cĂł đĂșng thế khĂŽng? ĐĂł lĂ  nhiệm vụ của người truyền bĂĄ Phật giĂĄo, cần phải lĂ m sĂĄng tỏ vấn đề nĂ y. Bởi thuyết luĂąn hồi lĂ  một thuyết quan trọng trong nhĂ  Phật, nếu lĂ  mĂȘ tĂ­n thĂŹ đạo Phật lĂ  đạo mĂȘ tĂ­n hay sao? Hẳn khĂŽng phải thế, đạo Phật lĂ  đạo giĂĄc ngộ, truyền bĂĄ những lẽ thật của mĂŹnh giĂĄc ngộ được cho chĂșng sanh biết lĂ  nhiệm vụ của đức Phật. ChĂșng ta lĂ  người nối bước theo sau đức Phật, cần phải nghiĂȘn cứu tường tận giải bĂ y rĂ” rĂ ng để mọi người được hiểu khỏi sanh nghi ngờ lĂ  một điều cần yếu khĂŽng thể thiếu được. LĂœ luĂąn hồi lĂ  một cơ cấu hệ trọng trong Phật phĂĄp, bao gồm cả nhĂąn quả, nghiệp bĂĄo lĂ  căn bản đạo đức của người tu Phật. KhĂŽng thĂŽng lĂœ luĂąn hồi, người Phật tử khĂł bề tu tiến được. Do đĂł, chĂșng ta cần phải tĂŹm hiểu cho thấu đĂĄo.

II. ĐỊNH NGHĨA

LuĂąn hồi lĂ  xoay vần, cứ mĂŁi đảo lĂȘn lộn xuống xoay vần trong khuĂŽn khổ cố định. Mọi sự đổi thay biến chuyển khĂŽng đứng yĂȘn một vị trĂ­ nĂ o. Hằng xĂȘ dịch biến thiĂȘn từ trạng thĂĄi nĂ y sang trạng thĂĄi khĂĄc, từ hĂŹnh tướng nĂ y sang hĂŹnh tướng khĂĄc. Tất cả sự biến thiĂȘn đều tuỳ duyĂȘn thăng trầm khĂŽng nhất định lĂ  luĂąn hồi.

III. LUÂN HỒI  LÀ SỰ THẬT

Qua định nghĩa trĂȘn, chĂșng ta thấy luĂąn hồi lĂ  một triết lĂœ thực tiễn khĂŽng cĂČn gĂŹ phải nghi ngờ. Bởi vĂŹ con người vĂ  vũ trụ hiện tại đều nằm chung trong một định luật “biến thiĂȘn”.

a/ Quả đất LuĂąn hồi: Nhờ khoa học phĂĄt minh cho biết quả địa cầu chĂșng ta đang ở xoay trĂČn quanh một cĂĄi trục trong khĂŽng gian. Do sự xoay trĂČn nĂ y, phĂ­a nĂ o của quả đất hướng về mặt trời lĂ  sĂĄng, phĂ­a bị khuất lĂ  tối. Từ đĂł, con người mới đặt ra thời gian. Sự xoay trĂČn nĂ y khĂŽng phải luĂąn hồi lĂ  gĂŹ? Quả đất xoay khiến cĂł ngĂ y đĂȘm vĂ  hai mươi bốn tiếng đồng hồ nhịp nhĂ ng theo chiều quay của trĂĄi đất, lại cĂł chia xuĂąn hạ thu đĂŽng, do sự xĂȘ dịch gần vĂ  xa mặt trời. Từ sự xoay trĂČn của trĂĄi đất, nảy sanh thời gian, thời gian vĂ  trĂĄi đất đều lĂ  luĂąn hồi. Quả đất lĂ  chỗ tựa nương để sống cĂČn của vạn vật vĂ  con người; bản thĂąn nĂł đĂŁ luĂąn hồi thĂŹ những vật tựa nương vĂ o nĂł lĂ m sao khỏi luĂąn hồi. Thế thĂŹ cả vũ trụ lẫn vạn vật cĂčng toĂ n thể chĂșng sanh đều lĂ  luĂąn hồi. ĐĂł lĂ  một sự thật căn cứ trĂȘn khoa học, chớ khĂŽng phải lĂ  chuyện huyền thoại mơ hồ. Thể theo sự nhận xĂ©t tổng quĂĄt nĂ y, chĂșng ta cần đi chi tiết hơn cho dễ hiểu.

b/ Vạn vật LuĂąn hồi: MuĂŽn vật trĂȘn quả địa cầu đều cĂčng chung luĂąn hồi.

Về sinh vật từ cĂĄi cĂąy cọng cỏ bởi do hạt nẩy mầm tăng trưởng thĂ nh cĂąy, sanh hạt, đảo đi lộn lại mĂŁi khĂŽng cĂčng. CĂĄc loĂ i động vật thĂŹ từ trứng nở thĂ nh con, con lại sanh trứng; hoặc từ bĂ o thai thĂ nh hĂŹnh, khi trưởng thĂ nh lại cĂł bĂ o thai, lẩn quẩn loanh quanh khĂŽng cĂčng. ĐĂł lĂ  chĂșng ta nĂłi sự luĂąn hồi trong cuộc tiếp nối. Đến ngay bản thĂąn sự vật cũng bị luĂąn hồi, chĂșng sanh trưởng thĂ nh lĂ  do đất nước giĂł lửa, khi tan hoại cũng trở về đất, nước, giĂł, lửa, tụ lại tĂĄn ra theo duyĂȘn biến chuyển chẳng cĂčng. Bản thĂąn đất nước giĂł lửa vẫn bị luĂąn hồi. Như sĂĄng sớm, chĂșng ta lấy thau mĂșc một phần ba thau nước đem để ngoĂ i trời nắng, đến chiều thau nước cạn khĂŽ. Thử hỏi nước đi đĂąu? Nước mất hết rồi sao? Nước khĂŽng đi đĂąu, nước cũng chẳng mất, chẳng qua nước lĂ  thể lỏng do ĂĄnh  nắng nĂłng bốc lĂȘn thĂ nh thể hơi, hơi theo giĂł bĂ ng bạc trong hư khĂŽng nĂ o cĂł định xứ. Thể hơi gặp khĂ­ lạnh đọng lại rơi xuống thĂ nh nước, nước lại bốc thĂ nh hơi, cứ thế mĂŁi luĂąn hồi khĂŽng cĂčng. GiĂł lửa đất cũng thế, tĂčy duyĂȘn từ hĂŹnh thĂĄi nĂ y đổi sang hĂŹnh thĂĄi khĂĄc, đổi đổi thay thay khĂŽng cĂł ngĂ y cĂčng. TĂŹm chỗ bắt đầu vĂ  chung cục của chĂșng khĂŽng thể được. HĂŹnh tướng trạng thĂĄi luĂŽn luĂŽn đổi thay, sự thật vẫn khĂŽng bao giờ mất. Từ một hĂŹnh tướng thĂŽ đổi thĂ nh một trạng thĂĄi tế, với cĂĄi nhĂŹn thĂŽ thiển người ta bảo lĂ  mất, thật sự nĂ o cĂł mất, chỉ lĂ  biến thĂĄi.

c/ Con người LuĂąn hồi: NĂłi đến con người tạm chia lĂ m hai phần, vật chất vĂ  tinh thần, như bĂłng đĂšn vĂ  điện. Ngọn đĂšn phĂĄt huy được ĂĄnh sĂĄng phải cĂł đủ hai điều kiện hỗ tương nhau. CĂł bĂłng đĂšn mĂ  khĂŽng cĂł điện trở thĂ nh vĂŽ Ă­ch, cĂł điện mĂ  khĂŽng cĂł bĂłng đĂšn cũng vĂŽ nghĩa. Sự hỗ tương giữa điện vĂ  bĂłng đĂšn khĂŽng thể tĂĄch rời, khĂŽng thể đặt giĂĄ trị thiĂȘn trọng, khĂŽng thể xem như chủ khĂĄch. Cần phải thấy sự tương quan bất khả phĂąn ly. Tinh thần vĂ  vật chất của con người cũng thế, mọi sự phĂąn chia, khinh trọng... đều sai Ăœ nghĩa chĂąn thật của nĂł. VĂŹ muốn thấy sự luĂąn hồi tường tận, chĂșng ta tạm nhĂŹn con người ở hai mặt để dễ bề nhận xĂ©t:

- Vật chất luĂąn hồi: Phần vật chất nơi con người, nhĂ  Phật chia tổng quĂĄt lĂ m 4 phần: đất, nước, giĂł, lửa. Những loại cứng trong thĂąn người, như da thịt gĂąn xương tĂłc lĂŽng răng mĂłng... thuộc về đất. CĂĄc loại ướt, như mĂĄu mủ, mồ hĂŽi đĂ m dĂŁi nước mắt nước mũi... thuộc về nước. HĂ­t khĂŽng khĂ­ vĂ o cho phổi hĂŽ hấp, quả tim đập, cĂĄc mạch mĂĄu nhảy... mọi thứ động thuộc về giĂł. Nhiệt độ trong người lĂ m cho thức ăn tiĂȘu hĂła, mĂĄu khĂŽng đĂŽng đặc, ấm ĂĄp toĂ n thĂąn... thuộc về lửa. Bốn thứ nĂ y thiếu một lĂ  con người chết ngay. Ở đĂąy chĂșng ta phĂąn tĂ­ch sự luĂąn hồi từng thứ:

- Đất luĂąn hồi: ThĂąu nhận tế bĂ o mới, đĂ o thải tế bĂ o cũ, thay mới đổi cũ khĂŽng lĂșc nĂ o dừng, ấy lĂ  luĂąn hồi. Cho đến thĂąn nĂ y sống nhờ ăn những thức cĂł chất bột (đất), khi chết nĂł tan hoại trở thĂ nh đất. Khi sống mư;ợn những chất đất bồi dưỡng, lĂșc chết trả lại cho đất. Hợp lại tan ra, tan ra hợp lại, khĂŽng phải luĂąn hồi lĂ  gĂŹ?

- Nước luĂąn hồi: MĂĄu từ quả tim chạy khắp cĂĄc mạch, rồi trở về quả tim, chạy ra trở về, trở về chạy ra, sự tuần hoĂ n như vậy gọi lĂ  luĂąn hồi. Cho đến khi sống mượn nước để bồi bổ chất ướt trong thĂąn, lĂșc chết chảy ra trở về lĂČng đất. Sự mượn trả mĂ  khĂŽng bao giờ mất ấy lĂ  luĂąn hồi.

- GiĂł luĂąn hồi: HĂ­t khĂŽng khĂ­ vĂŽ, thở khĂŽng khĂ­ ra, hĂ­t vĂŽ thở ra cả đời như vậy lĂ  luĂąn hồi.  Nhờ cĂĄi động của thở hĂ­t khĂŽng khĂ­ mĂ  cĂĄc cơ quan trong toĂ n thĂąn hoạt động, cĂĄc cơ quan hoạt động lĂ  thĂąn sống. Đến khi thở khĂŽng khĂ­ ra mĂ  khĂŽng hĂ­t lại, liền ngừng hoạt động, tức lĂ  thĂąn chết. Thế thĂŹ sự sống của thĂąn nĂ y đĂ­ch thực do luĂąn hồi của giĂł, giĂł ngưng luĂąn hồi thĂŹ thĂąn phải hoại diệt.

- Lửa luĂąn hồi: Do những thức ăn cĂł chất nĂłng nuĂŽi dưỡng phần lửa trong thĂąn. Lửa dĂčng sưởi ấm toĂ n thĂąn, thiĂȘu đốt vật thực, lại do vật thực bồi bổ chất lửa. Cứ tiĂȘu dĂčng, bồi bổ, bồi bổ tiĂȘu dĂčng, đảo đi lộn lại lĂ  luĂąn hồi. Khi tiĂȘu dĂčng mĂ  khĂŽng bồi bổ kịp, lửa từ từ tắt, con người chết. Lửa ấy trở về với thiĂȘn nhiĂȘn, tĂčy duyĂȘn chuyển biến trong khĂŽng gian, mĂ  chưa bao giờ mất lĂ  luĂąn hồi.

TĂłm lại, tứ đại tụ họp quĂąn bĂŹnh nhau lĂ  con người sống khỏe mạnh, nếu thiếu quĂąn bĂŹnh lĂ  ốm đau, phĂąn tĂĄn thĂŹ tử vong. Trong khi tứ đại tụ họp trong thĂąn nĂ y luĂŽn luĂŽn biến chuyển tuần hoĂ n, khĂŽng được ngăn trệ ứ đọng. Vừa bị ngăn trệ ứ đọng lĂ  thĂąn nĂ y nguy ngập. Sự biến chuyển tuần hoĂ n của tứ đại trong thĂąn con người gọi chung lĂ  vật chất luĂąn hồi. Sở dĩ nĂłi luĂąn hồi vĂŹ biến chuyển mĂ  khĂŽng phải mất hẳn.

- Tinh thần luĂąn hồi (tĂąm sở luĂąn hồi): Phần tinh thần của chĂșng ta luĂŽn luĂŽn thay đổi bất thường, khĂŽng bao giờ đứng yĂȘn ở m897;t vị trĂ­. Những thứ buồn vui, yĂȘu ghĂ©t, thương giận, lĂ nh dữ, phải quấy... thường thay mặt đổi mĂ y như trĂȘn sĂąn khấu. CĂł khi chĂșng ta hiền lĂ nh như ĂŽng Phật, cĂł lĂșc giận dữ như con cọp đĂłi. Nhiều lĂșc vui vẻ yĂȘu thương, lắm khi bực bội thĂč địch. Những tĂąm trạng đổi thay khĂŽng lường được, chĂ­nh tự thĂąn chĂșng ta cũng khĂŽng ước đoĂĄn nổi tĂąm trạng của mĂŹnh sẽ xảy ra những cĂĄi gĂŹ. Sự buồn vui thương ghĂ©t đổi thay thăng giĂĄng nơi nội tĂąm chĂșng ta gọi lĂ  luĂąn hồi.

NĂłi chung nơi con người chĂșng ta, hai phần vĂąt chất lẫn tinh thần đều lĂ  tướng trạng luĂąn hồi. Sự luĂąn hồi của chĂșng lĂ  sự hoạt động sống cĂČn của ta. Biết rĂ” vật chất tinh thần chỉ đổi thay hĂŹnh tướng trạng thĂĄi, chớ khĂŽng một vật nĂ o mất. Nếu thấy mất, chẳng qua do cĂĄi nhĂŹn cạn cợt nĂŽng nổi  mĂ  kết luận như thế. Thực thể của nĂł lĂ  “biến thiĂȘn mĂ  bất diệt”, thấy đến chỗ tận cĂčng ấy, mới khỏi nghi ngờ về lĂœ luĂąn hồi. Sự luĂąn hồi ngay trong thĂąn hiện tại nĂ y lĂ  hiện tại luĂąn hồi . Đến sự tụ lại tan ra, tan ra tụ lại của thĂąn con người lĂ  luĂąn hồi đời nĂ y sang đời khĂĄc.

Mọi sự tụ tĂĄn đều tĂčy duyĂȘn khiến hĂŹnh tướng trạng thĂĄi đổi khĂĄc. VĂ­ dụ nước do duyĂȘn nĂłng bốc thĂ nh hơi, gặp duyĂȘn lạnh cĂŽ đọng thĂ nh khối. Sự biến thĂĄi nĂ y đều do duyĂȘn quyết định. DuyĂȘn quyết định cho sự luĂąn hồi của con người lĂ  gĂŹ? LĂ  nghiệp. Nghiệp lĂ  động cơ chĂĄnh yếu trong cuộc luĂąn hồi của con người.

IV.- ĐỘNG CƠ LUÂN HỒI

Nghiệp lĂ  hĂ nh động từ thĂąn tĂąm con người tạo thĂ nh. Khi thĂ nh nghiệp rồi nĂł thĂșc đẩy dẫn dắt con người đến chỗ thĂ nh quả của nĂł. ChĂ­nh nĂł lĂ  động cơ quan yếu đẩy mĂŁi trong vĂČng luĂąn hồi khĂŽng dừng của tất cả chĂșng sanh. Cơ quan tạo nghiệp cĂł ba thứ, thĂąn miệng vĂ  Ăœ. NĂłi đến nghiệp lĂ  nĂłi đến sự toĂ n quyền quyết định nơi mọi người chĂșng ta. KhĂŽng ai tạo nghiệp thế cho chĂșng ta, cũng khĂŽng ai cĂł thể thay thế nghiệp cho chĂșng ta. ChĂ­nh chĂșng ta lĂ  chủ nhĂąn tạo nghiệp, cũng lĂ  chủ nhĂąn thọ bĂĄo. Trọng trĂĄch của mọi sự khổ vui hiện tại vĂ  mai sau đều do chĂșng ta quyết định. Chủ trương nghiệp lĂ  chủ trương giĂ nh lại toĂ n quyền cho con người. ChĂșng ta lĂ  chủ nhĂąn của chĂșng ta hiện tại vĂ  vị lai. KhĂŽng phải một đấng Thượng đế hay một tha nhĂąn nĂ o khĂĄc tạo thĂ nh một cuộc sống an vui hay đau khổ cho chĂșng ta, mĂ  chĂ­nh do thĂąn miệng Ăœ của chĂșng ta trong quĂĄ khứ cũng như hiện tại gĂąy nĂȘn. ChĂșng ta thừa nhận nghiệp do mĂŹnh tạo ra, đĂŁ tước hết mọi quyền năng của cĂĄc đấng thiĂȘng liĂȘng, của định mạng, của tướng số vĂ  của rủi may. Nghiệp lĂ  hĂ nh động, lĂ  thĂłi quen nĂȘn cĂł thể chuyển đổi, chỉ cần nỗ lực vĂ  bền chĂ­. Nghiệp cĂł nghiệp thiện vĂ  nghiệp ĂĄc.

a/ Nghiệp ĂĄc: Nghiệp ĂĄc lĂ  hĂ nh động lĂ m cho người khổ vĂ  mĂŹnh khổ, hoặc ở hiện tại hay ở vị lai. HĂ nh động nĂ y do ba cơ quan tạo nĂȘn: thĂąn, miệng, Ăœ.

- ThĂąn lĂ m ĂĄc: Để cho thĂąn buĂŽng lung thĂ­ch hĂ nh động giết hại sanh mạng người, hoặc thĂ­ch trộm cướp tĂ i sản người, hoặc đắm say dĂąm dật trĂĄi phĂ©p, lĂ  nghiệp ĂĄc của thĂąn. VĂŹ hĂ nh động nĂ y lĂ m cho người khổ vĂ  mĂŹnh khổ, nếu hiện tại chưa đến thĂŹ vị lai cũng chịu.

- Miệng lĂ m ĂĄc: Miệng ưa nĂłi lời dối trĂĄ, lời ĂĄc độc, lời ly giĂĄn, lời thĂȘu dệt, lĂ  nghiệp ĂĄc của miệng. VĂŹ những lời nĂłi nĂ y khiến người nghi ngờ bực tức đau khổ mang tai họa, nĂȘn hiện tại hoặc vị lai mĂŹnh cũng phải nhận lấy hậu quả đau khổ ấy.

- Ý lĂ m ĂĄc: Si mĂȘ, tham lam, nĂłng giận lĂ  nghiệp ĂĄc của Ăœ. ChĂ­nh nĂł lĂ  động cơ thĂșc đẩy thĂąn lĂ m ĂĄc, miệng nĂłi ĂĄc. Bản thĂąn nĂł thĂŹ chưa lĂ m hại được ai, song do nĂł khiến thĂąn sĂĄt phạt người, miệng chửi bới nguyền rủa người. ThĂąn miệng mĂ  khĂŽng cộng với tham sĂąn si thĂŹ tự nĂł khĂŽng cĂł lỗi lầm gĂŹ. Thế nĂȘn, tuy nĂłi ba cơ quan tạo nghiệp, mĂ  Ăœ lĂ  cơ quan hệ trọng hơn cả, nĂł lĂ  chủ động của hai cơ quan kia.

b/ Nghiệp thiện: Những hĂ nh động đem lại sự an ổn vui vẻ cho người vĂ  mĂŹnh lĂ  nghiệp thiện. Sự an ổn vui vẻ chẳng những cĂł trong hiện tại mĂ  cĂČn đến vị lai. Cũng do ba cơ quan tạo thĂ nh nghiệp thiện: thĂąn, miệng, Ăœ.

- ThĂąn lĂ m lĂ nh: ThĂąn khĂŽng giết hại người, khĂŽng trộm cướp tĂ i sản người, khĂŽng dĂąm dật phi phĂĄp lĂ  nghiệp thiện của thĂąn. Tại sao khĂŽng lĂ m ba việc ấy lĂ  thiện? Bởi vĂŹ con người quĂ­ nhất lĂ  sanh mạng, chĂșng ta khĂŽng hại sanh mạng họ thĂŹ họ đến với chĂșng ta một cĂĄch an ổn khĂŽng sợ sệt. Thứ yếu lĂ  tĂ i sản, con người tự thấy tĂ i sản lĂ  huyết mạch của họ, chĂșng ta nhất quyết khĂŽng trộm cướp thĂŹ, họ đến với chĂșng ta cũng như chĂșng ta đến với họ, đều được an vui khĂŽng hồi hộp lo Ăąu về mất của. Hạnh phĂșc của gia đĂŹnh lĂ  vợ chồng hĂČa thuận tin yĂȘu trinh bạch với nhau, nếu vợ hay chồng cĂł tĂŹnh Ăœ riĂȘng tư với ai lĂ  gia đĂŹnh mất hạnh phĂșc. ChĂșng ta giữ gĂŹn khĂŽng theo sự dĂąm dật phi phĂĄp, đến với gia đĂŹnh ai họ đều an ổn vui vẻ khĂŽng nghi ngờ sợ sệt chi cả. GĂŹn giữ ba điều nĂ y, chĂșng ta đĂŁ ban sự an ổn vui tươi cho bao nhiĂȘu người rồi, cũng chĂ­nh lĂ  đem lại sự an ổn vui tươi cho gia đĂŹnh chĂșng ta.

- Miệng lĂ m lĂ nh: Miệng khĂŽng nĂłi dối trĂĄ, khĂŽng nĂłi ĂĄc độc, khĂŽng nĂłi ly giĂĄn, khĂŽng nĂłi thĂȘu dệt lĂ  miệng lĂ m nghiệp lĂ nh. VĂŹ sao? Bởi vĂŹ, nĂłi dối trĂĄ khiến người nghi ngờ mất niềm tin, đĂŁ khĂŽng tin nhau lĂ m gĂŹ cĂł thương mến. Thế nĂȘn nĂłi dối lĂ  căn bản khiến con người mất hết tĂŹnh thương. NĂłi ĂĄc độc khiến người nghe sanh phẫn nộ bực dọc đau khổ. NĂłi ly giĂĄn lĂ m cho thĂąn thuộc họ phải chia lĂŹa, tạo thĂ nh cĂĄi khổ ĂĄi biệt ly. NĂłi thĂȘu dệt lĂ  tĂŽ điểm khĂŽng đĂșng chĂąn lĂœ, khiến người khĂŽng tĂŹm ra được lẽ thật. ChĂșng ta quyết định gĂŹn giữ miệng khĂŽng nĂłi bốn điều trĂȘn lĂ  tạo được tĂŹnh thĂąn giữa mĂŹnh vĂ  người, đem lại cho mọi người sự an ổn, bảo vệ được tĂŹnh thĂąn của người, giĂșp cho người dễ nhận ra lẽ thật. Thế lĂ , chĂșng ta đĂŁ tạo điều kiện tốt đẹp cho xĂŁ hội biết mấy.

- Ý lĂ m lĂ nh: Ý khĂŽng cĂł tham sĂąn si lĂ  Ăœ lĂ m nghiệp lĂ nh. ChĂșng ta thường thấy mọi sự bất bĂŹnh đổ vỡ đều phĂĄt nguồn từ tham sĂąn si. Nếu chĂșng ta khĂŽng để cho tham sĂąn si dẫn dắt hoĂ nh hĂ nh thĂŹ cả cuộc đời chĂșng ta được an ổn, cũng lĂ  nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ nĂ y gọi lĂ  tam độc, vĂŹ nĂł gĂąy đau khổ cho mĂŹnh vĂ  người khĂŽng thể lường trước được. Người nĂ o kềm cương giữ thắng được nĂł, bảo đảm được một đời sống an lĂ nh, cũng bảo vệ được an ninh trật tự cho mọi người. Ngược lại, kẻ nĂ o buĂŽng cương thả thắng nĂł sẽ lĂŽi đời họ vĂ o hố sĂąu nguy hiểm, cũng gĂąy họa hại cho khĂĄch bĂ ng quan khĂŽng Ă­t. Thế nĂȘn, khĂŽng cho tham sĂąn si nổi dậy lĂ  gĂŹn giữ sự an ổn vẹn toĂ n cho mĂŹnh vĂ  mọi người.

c/ Khả năng của nghiệp: Nghiệp lĂ  cĂĄi khĂŽng cĂł hĂŹnh tướng mĂ  cĂł khả năng đĂĄng kể. VĂ­ như giĂł, tuy khĂŽng thấy hĂŹnh tướng mĂ  nĂł thổi đất nước đều lung lay. Nghiệp cũng thế, bĂŹnh thường chĂșng ta khĂŽng thấy nĂł, mĂ  nĂł lĂŽi chĂșng ta đi khắp nẻo luĂąn hồi. Sở dĩ nĂł cĂł khả năng mạnh mẽ như vậy lĂ  do tập quĂĄn lĂąu ngĂ y. Như người tập hĂșt thuốc, buổi đầu khĂłi thuốc chỉ cảm thấy khĂł chịu, nhưng tập lĂąu ngĂ y thĂ nh ghiền, khi ghiền rồi với giĂĄ nĂ o cũng phải tĂŹm cho cĂł nĂł. Thử hỏi cĂĄi ghiền ấy hĂŹnh tướng ra sao, mĂ  điều khiển con người một cĂĄch mĂŁnh liệt như thế? Quả thật khĂŽng ai biết tướng mạo của nĂł, nhưng khi nĂł đĂČi hỏi, người ta phải chạy ngược chạy xuĂŽi tĂŹm cho ra thuốc hĂșt. Bệnh ghiền rượu khả năng cĂČn mạnh hơn, từ những hớp rượu cay xĂ© mồm, tập mĂŁi thĂ nh quen, bắt đầu ghiền rượu. Khi ghiền khĂŽng cĂł rượu khiến người ta phải ụa phải mửa, oằn oại nhọc nhằn, ngĂĄp trời ngĂĄp đất, quả thật chi phối hết khả năng con người. ChĂșng ta tự đặt cĂąu hỏi, ai đem bệnh ghiền ấy đến cho chĂșng ta? ChĂ­nh chĂșng ta tự tập, tập lĂąu thĂ nh ghiền, cĂĄi ghiền ấy do mĂŹnh tạo rồi mĂŹnh chịu. CĂĄi ghiền ấy cĂł ma lực gĂŹ mĂ  đĂ y đọa hĂ nh hạ con người đến thế? Hắn khĂŽng cĂł ma lực gĂŹ, chẳng qua tập lĂąu ngĂ y thĂ nh thĂłi quen, thĂłi quen cĂ ng lĂąu sức cĂ ng mạnh. ĐĂŁ tự chĂșng ta tập thĂ nh bệnh, khi muốn hết bệnh cũng tự chĂșng ta gan dạ bỏ nĂł, khĂŽng ai cĂł thể bỏ thế cho chĂșng ta. Khả năng của bệnh ghiền giống hệt khả năng nghiệp chi phối chĂșng ta trong lục đạo luĂąn hồi vậy. Tự chĂșng ta tạo nghiệp lĂ nh hoặc nghiệp d&#7919;, tạo cĂ ng lĂąu thĂŹ sức mạnh cĂ ng lắm, đến cuối cĂčng chĂșng chi phối dẫn dắt chĂșng ta đi vĂ o con đường lĂ nh hay dữ tĂčy chỗ gĂąy tạo của mĂŹnh. KhĂŽng phải hĂła cĂŽng đĂ y đọa, khĂŽng phải Thượng đế bĂ y ra, chĂ­nh chĂșng ta tự tạo rồi tự thọ. Khi đĂŁ thĂ nh nghiệp, chĂșng ta khĂł cưỡng được nĂł. Thế nĂȘn, biết chọn nghiệp lĂ nh để tạo lĂ  đĂŁ tự gĂąy một sức mạnh đưa mĂŹnh đến cĂ”i lĂ nh. Cắm đầu gĂąy nghiệp ĂĄc lĂ  tạo ĂĄp lực lĂŽi mĂŹnh vĂ o cĂ”i dữ. ChĂ­nh đĂąy lĂ  quyền lựa chọn của con người, quyền định đoạt số phận ở mai hậu. Nếu cứ sống say chết ngủ đẩy đĂąu đi đấy, những kẻ nĂ y về sau than trời trĂĄch đất nĂ o cĂł Ă­ch gĂŹ. ChĂșng ta cĂł đủ thẩm quyền quyết định đời mĂŹnh hiện tại vĂ  vị lai, tại sao chĂșng ta lại bỏ mất cĂĄi giĂĄ trị cao cả ấy. Những kết quả tốt xấu dở hay ở hiện nay vĂ  mai kia đều nằm sẵn trong tay chĂșng ta. ChĂșng ta cĂł quyền phĂĄn quyết một bản ĂĄn tốt xấu trong đời sống mai sau của mĂŹnh. Đừng cầu khẩn van xin bất cứ một năng lực nĂ o ngoĂ i chĂșng ta. NĂłi đến khả năng nghiệp lĂ  khả năng của chĂșng ta, nghiệp vĂ  chĂșng ta khĂŽng phải lĂ  hai. Nếu chĂșng ta khĂŽn ngoan khĂ©o lĂ©o lo tạo nghiệp lĂ nh, chĂșng ta dại khờ ngu muội gĂąy tạo nghiệp ĂĄc. Khổ vui sẽ tĂčy nghiệp mang đến với chĂșng ta một cĂĄch chĂąn thĂ nh.

V.- TẤT YẾU CỦA LUÂN HỒI

Tạo nghiệp lĂ  nhĂąn, thọ bĂĄo lĂ  quả. Tất yếu của sự luĂąn hồi lĂ  nhĂąn quả. Lăn lộn trong ba cĂ”i sĂĄu đường đều tĂčy thuộc nhĂąn quả. MĂŹnh đĂŁ gĂąy nhĂąn nhất định mĂŹnh phải chịu quả, quả khổ quả vui lĂ  do gĂąy nhĂąn khổ vui. NhĂąn quả lĂ  lẽ cĂŽng bằng chĂąn thật, bởi mỗi cĂĄ nhĂąn gĂąy tạo khĂĄc nhau, nĂȘn sự thọ nhận cũng sai biệt. Sự cĂŽng bằng từ nhĂąn đến quả, khĂŽng phải sự cĂŽng bằng do ai khĂĄc ĂĄp đặt cho mĂŹnh. Nếu do kẻ khĂĄc ĂĄp đặt cho mĂŹnh lĂ  đĂŁ bất cĂŽng rồi. NgĂ y nay chĂșng ta tạo nhĂąn, ngĂ y mai chĂșng ta thọ quả, thật lĂ  rĂ” rĂ ng rĂ nh mạch biết bao. Song nĂłi tới nhĂąn quả lĂ  căn cứ trĂȘn thời gian suốt cả quĂĄ khứ hiện tại vị lai, trong quĂĄ khứ cĂł cĂĄi gần cĂł cĂĄi xa, vị lai cũng thế, khiến cĂł những kết quả xảy đến mĂ  đương sự khĂŽng bao giờ nhớ. Lại cĂł những sự kiện gĂąy nhĂąn mĂ  khĂŽng thấy kết quả. Do đĂł nhĂąn qu&#7843; trở thĂ nh rắc rối khĂł khăn, người ta khĂł tin khĂł nhận. Nhưng sự thật lĂșc nĂ o cũng thật, bởi khả năng nhớ hiểu của con người quĂĄ giới hạn, nĂȘn cĂł những thắc mắc thế thĂŽi. Nếu người nhận hiểu sĂąu về lĂœ nhĂąn quả thĂŹ cuộc sống nĂ y đĂŁ cĂł tiĂȘu chuẩn nhắm đến vĂ  an ổn vĂŽ cĂčng. VĂŹ mọi kết quả hiện chịu trong đời đều do nhĂąn gĂąy ra từ thuở trước, nĂȘn khổ khĂŽng oĂĄn hờn, vui khĂŽng ngạo mạn. MĂŹnh lĂ m mĂŹnh chịu, chỉ quĂ­ ngang đĂąy phải chọn lấy nhĂąn tốt mĂ  lĂ m, để mai kia khỏi phải thọ quả đau khổ, cho nĂȘn trong kinh nĂłi: “Bồ-tĂĄt sợ nhĂąn, chĂșng sanh sợ quả.” Kẻ trĂ­ thĂŹ sợ nhĂąn, người ngu thĂŹ sợ quả. Do cĂĄi nhĂŹn thấu suốt vĂ  cĂĄi nhĂŹn nĂŽng cạn, nĂȘn cĂł chia Bồ-tĂĄt vĂ  chĂșng sanh. NhĂąn cĂł thiện ĂĄc thĂŹ quả cũng cĂł khổ vui.

Những kẻ gĂąy tạo nghiệp ĂĄc, ắt phải thọ quả khổ trong ba đường dữ, địa ngục ngạ quỉ sĂșc sanh. Nghiệp ĂĄc lĂ  mĂŹnh lĂ m cho kẻ khĂĄc khổ, cĂąn xứng với nhĂąn mĂŹnh gĂąy, thọ quả khổ một nơi trong ba đường dữ. NhĂąn khổ cĂł khi khĂŽng thĂ nh quả, do nửa chừng mĂŹnh biết hối cải, hoặc chuyển đổi. NhĂąn khổ nhất định thọ quả khổ, do sự nuĂŽi dưỡng một cĂĄch sung mĂŁn. VĂ­ như cĂł người uống rượu mĂ  khĂŽng ghiền, vĂŹ họ biết giới hạn chừa bỏ. CĂł người uống rượu nhất định phải ghiền rượu, vĂŹ họ mĂŁi tiếp tục vĂ  say mĂȘ. CĂł nhĂąn khổ mĂ  khĂŽng thọ quả khổ, hoặc nhất định phải thọ quả khổ, cũng như thế.

Người gĂąy tạo nghiệp thiện ắt thọ quả vui trong cĂ”i người, cĂ”i a-tu-la vĂ  cĂ”i trời. CĂąn xứng với nghiệp lĂ nh mĂŹnh đĂŁ tạo, nhiều Ă­t cao thấp, kết quả cũng cĂł hơn kĂ©m thấp cao. CĂł khi người tạo nghiệp lĂ nh mĂ  khĂŽng được quả lĂ nh, hoặc người tạo nghiệp lĂ nh nhất định hưởng quả lĂ nh. VĂ­ như, một số sinh viĂȘn vĂ o học y khoa, cĂł người khĂŽng đủ khả năng học hoặc lười biếng học, nĂȘn tuy học y khoa mĂ  khĂŽng kết quả thĂ nh bĂĄc sĩ. CĂł người đủ khả năng lại cần cĂč học tập, nhất định một ngĂ y kia sẽ thĂ nh bĂĄc sĩ. Từ nhĂąn đến quả cĂČn cần cĂł  những sự kiện trợ giĂșp đầy đủ mới được viĂȘn mĂŁn. KhĂŽng thể cĂł nhận định tất nhiĂȘn rằng cĂł nhĂąn lĂ  cĂł quả. Bởi vĂŹ th&#7901;i gian từ nhĂąn đến quả lĂ  giai đoạn biến động, hoặc được tăng trưởng, hoặc bị tiĂȘu mĂČn, tĂčy theo những sự kiện trợ giĂșp. Biết thế, chĂșng ta cĂł thể chuyển nhĂąn xấu thĂ nh tốt, hoặc nhĂąn tốt trở ra xấu.

Sự tất yếu của luĂąn hồi tĂčy thuộc nhĂąn quả, khĂŽng cĂł kẻ nĂ o khĂĄc ĂĄp đặt khổ vui cho chĂșng ta, cũng khĂŽng cĂł bĂ n tay nĂ o lĂŽi kĂ©o chĂșng ta phải đi đường nĂ y hay lối khĂĄc, mọi sự kết quả đều cĂąn xứng với nhĂąn mĂŹnh gĂąy tạo. Nắm vững yếu tố nĂ y, mới thấy chĂșng ta trọn quyền định đoạt số phận của chĂșng ta. Nếu cuộc đời của chĂșng ta hiện nay được tươi sĂĄng hay đen tối, đều do sự khĂ©o lĂ©o hay vụng về của ta ngĂ y xưa. Can đảm nhận lấy trĂĄch nhiệm của mĂŹnh, khĂŽng oĂĄn trĂĄch kĂȘu ca, khĂŽng than thĂąn tủi phận. ChĂșng ta gan dạ trong cuộc sống hiện tại, song phải khĂŽn ngoan chọn lấy lối đi ở ngĂ y mai.

VI. THOÁT LY LUÂN HỒI

Đạo Phật giải rĂ” lĂœ luĂąn hồi, nhưng khĂŽng phải để mĂŁi chịu luĂąn hồi. Biết luĂąn hồi tường tận rồi, Phật chỉ ra con đường thoĂĄt ly luĂąn hồi. ĐĂșng như Ăœ nghĩa biết khổ, chĂșng ta mới tĂŹm cĂĄch thoĂĄt khổ. LuĂąn hồi lĂ  vĂČng loanh quanh lẩn quẩn, nhĂ o đi lộn lại khĂŽng thể thoĂĄt ra. Chấp nhận trong vĂČng quanh quẩn đĂł, do người khĂŽng tĂŹm được manh mối thoĂĄt ra, hoặc khĂŽng đủ khả năng để thoĂĄt ra. Như cĂĄc nhĂ  khoa học phĂĄt minh được sức hĂșt của trĂĄi đất, mọi vật cam chịu trong vĂČng vọt lĂȘn rớt xuống, khĂŽng sao thoĂĄt ra ngoĂ i được. Nhưng cũng cĂĄc nhĂ  khoa học chế phi thuyền đủ khả năng vọt ra ngoĂ i vĂČng hĂșt của trĂĄi đất, đi thĂĄm hiểm cĂĄc hĂ nh tinh khĂĄc. Biết rĂ” sức hĂșt của trĂĄi đất rồi, mới chế được phi thuyền vọt ra ngoĂ i sức hĂșt. Cũng thế, Phật giải rĂ” lĂœ luĂąn hồi rồi, mới dạy phương phĂĄp thoĂĄt ly luĂąn hồi. Mục đĂ­ch của đạo Phật lĂ  thoĂĄt ly sanh tử luĂąn hồi, khĂŽng chấp nhận sự loanh quanh trong vĂČng sanh tử. CĂČn trong sanh tử dĂč dĂ i ngắn khổ vui , đạo Phật đều kết luận lĂ  đau khổ, vĂŹ cĂčng một số phận vĂŽ thường. Chỉ thoĂĄt được luĂąn hồi mới lĂ  an vui giải thoĂĄt.

VII.-  KẾT LUẬN

Đạo Phật nĂłi lĂœ luĂąn hồi cũng lĂ  phĂĄt minh một sự thật của vạn vật vĂ  con người. VĂŹ đối tượng của đạo Phật lĂ  con người, nĂȘn chung qui đặt nặng về sự luĂąn hồi của con người. Con người nhận hiểu thấu đĂĄo về lĂœ luĂąn hồi, nếu họ khĂŽng cĂł khả năng thoĂĄt khỏi luĂąn hồi, tự mĂŹnh chọn lựa cuộc luĂąn hồi an vui vĂ  thoải mĂĄi. Nếu họ cĂł khả năng thoĂĄt ly luĂąn hồi, do hiểu luĂąn hồi tiến tu đạo giải thoĂĄt. Biết được lĂœ luĂąn hồi, chĂșng ta biết được lẽ cĂŽng bằng của con người, cũng nhận lấy sự tự do căn bản nơi chĂșng ta. Mọi mĂȘ tĂ­n ỷ lại đều tiĂȘu tan, do biết ta lĂ  người quyết định thĂąn phận của mĂŹnh. Tất cả oĂĄn hờn tủi hận đều sạch hết, vĂŹ cĂł ai ĂĄp đặt sự đau khổ cho mĂŹnh mĂ  than thở. Quả chĂșng ta lĂ  con người độc lập tự do của chĂ­nh mĂŹnh trong hiện tại vĂ  vị lai. DĂč chưa giải thoĂĄt, biết được lĂœ luĂąn hồi, chĂșng ta cũng sĂĄng suốt vĂ  an ổn ngay trong đời sống nĂ y. Mọi tương lai đều nằm trong tay chĂșng ta, chĂșng ta trọn quyền chọn lấy một tương lai nĂ o theo sở thĂ­ch của mĂŹnh.

TAM ĐỘC

I.- MỞ ĐỀ

Rắn độc thuốc độc lĂ  thứ người đời rất kinh sợ, nhưng khĂŽng đĂĄng sợ bằng Tam độc. VĂŹ rắn độc thuốc độc hại người chỉ một thĂąn nĂ y, tam độc hại người đến bao nhiĂȘu đời, bao nhiĂȘu kiếp. Nếu đĂĄng sợ chĂșng ta nĂȘn sợ tam độc hơn tất cả thứ độc khĂĄc. Thế mĂ , người đời chẳng những khĂŽng sợ tam độc, lại cĂČn nuĂŽi dưỡng chứa chấp bảo vệ, khiến nĂł cĂ ng ngĂ y cĂ ng tăng trưởng. Do đĂł, người đời luĂŽn luĂŽn sống trong mĂąu thuẫn, một mặt cầu mong được an ổn vui tươi, một mặt nuĂŽi dưỡng tam độc lĂ  động cơ bất an vĂ  đau khổ. CĂł khĂĄc gĂŹ, người kia muốn gia đĂŹnh được bĂŹnh an, mĂ  nuĂŽi kẻ giặc trong nhĂ . Thế thĂŹ sự bĂŹnh an chẳng những khĂŽng cĂł, mĂ  đau khổ tan hoại sẽ đến nay mai. Người h&#7885;c đạo chĂșng ta phải sĂĄng suốt nhận diện đĂșng mặt thật kẻ phĂĄ hoại, tiĂȘu diệt chĂșng thĂŹ sự an vui sẽ đến với chĂșng ta. Tam độc lĂ  nguồn đau khổ của chĂșng sanh, lĂ  cội rễ bất an của nhĂąn loại, chĂșng ta phải hiểu nĂł vĂ  cố gắng trừ nĂł.

II. HÌNH TƯỚNG TAM ĐỘC

Tam độc lĂ  ba thứ ĂĄc độc mang đau khổ đến cho con người, phĂĄ hoại mọi hạnh phĂșc an vui của con người. Theo thứ tự thĂŽng thường của nĂł lĂ  Tham, SĂąn, Si; song đặt đĂșng trật tự từ gốc ra ngọn phải nĂłi Si, Tham, SĂąn.

1. Si: Si lĂ  si mĂȘ. KhĂŽng biết đĂșng lẽ thật giả, khĂŽng nhận ra phải trĂĄi, khĂŽng thấy được tĂ  chĂĄnh, ngu tối mờ mịt lĂ  tướng trạng của Si. CĂĄi si mĂȘ căn bản nhất lĂ  nhận lầm thĂąn giả dối lĂ m cĂĄi ta chĂąn thật, tĂąm sanh diệt lĂ m cĂĄi ta vĩnh cửu. Nơi ta đĂŁ nhận lầm thĂŹ đối tất cả đều lầm, phĂĄt sanh bao nhiĂȘu thứ tội lỗi về sau đều gốc từ cĂĄi lầm nĂ y mĂ  ra.

ThĂąn lĂ  tướng duyĂȘn hợp hư giả mĂ  lầm chấp thĂąn mĂŹnh thật. ĐĂŁ thấy thĂąn thật rồi, sanh bao nhiĂȘu thứ bảo vệ gĂŹn giữ nuĂŽi dưỡng tĂŽ điểm cho thĂąn, giĂ nh giật đuổi bắt tĂŹm cầu cho được những nhu cầu mĂ  thĂąn đĂČi hỏi. Nhưng khĂŽng bao giờ cĂł sự thoả mĂŁn của bản thĂąn, vĂŹ nĂł lĂ  một thứ ghẻ lở, cĂ ng được lại cĂ ng đĂČi hỏi. ChĂ­nh nĂł lĂ  cĂĄi gốc của lĂČng tham vĂŽ tận sau nĂ y. Lầm chấp thĂąn lĂ  thật thĂŹ mọi sự vật lệ thuộc về thĂąn cũng thấy lĂ  thật. Do đĂł chẳng những lo tĂŹm cĂĄch bảo vệ thĂąn, cũng lo tĂŹm cĂĄch bảo vệ những sự vật lệ thuộc. ChĂșng ta cố gĂŹn giữ thĂąn mĂŹnh, cố tĂŹm kiếm những nhu cầu để thỏa mĂŁn thĂąn mĂŹnh, cố bảo vệ những sự vật lệ thuộc về mĂŹnh, kẻ khĂĄc cũng thế. Ai cũng muốn thỏa mĂŁn, muốn bảo vệ, song mĂŹnh được thĂŹ kẻ khĂĄc phải mất, đĂł lĂ  chỗ đụng nhau của con người. NhĂąn loại tranh đấu nhau để được từng mảnh vụn vật chất, gốc từ chấp thĂąn thật phĂĄt sanh. Bởi cho thĂąn lĂ  thật, một khi nĂł sắp hoại thĂŹ mọi sợ sệt lo Ăąu khĂŽng sao kể hết.

Về tĂąm, cho những thứ suy tư nghĩ tưởng cảm xĂșc phĂąn biệt... lĂ  tĂąm mĂŹnh thật. Song những thứ ấy lĂ  tướng duyĂȘn theo bĂłng dĂĄng trần cảnh, chợt cĂł chợt khĂŽng, bỗng sanh bỗng diệt, khĂŽng cĂł thực thể cũng khĂŽng lĂąu dĂ i. BĂĄm vĂ o cĂĄi giả dối tạm bợ ấy cho lĂ  tĂąm mĂŹnh. Khi đĂŁ chấp lĂ  tĂąm mĂŹnh rồi, mĂŹnh nghĩ cĂĄi gĂŹ cũng cho lĂ  đĂșng, mĂŹnh tưởng cĂĄi gĂŹ cũng cho lĂ  hay, mĂŹnh phĂąn biệt điều gĂŹ cũng cho lĂ  phải. Bảo vệ Ăœ kiến mĂŹnh chống đối Ăœ kiến kẻ khĂĄc. Nếu sự chống đối của một cĂĄ nhĂąn với một cĂĄ nhĂąn, lĂ  Ăœ kiến bất đồng trong phạm vi cĂĄ nhĂąn. Nếu sự chống đối của quần chĂșng nĂ y với quần chĂșng khĂĄc, lĂ  tranh đấu Ăœ thức hệ. Bất đồng Ăœ kiến lĂ  mầm đau khổ triền miĂȘn từ trong gia đĂŹnh đến ngoĂ i xĂŁ hội. Nhưng mĂ , Ăœ kiến lĂ m sao đồng được, bởi mỗi người sống trong mỗi mĂŽi trường khĂĄc nhau, sự huĂąn tập hấp thụ khĂĄc nhau, kể cả những chủng nghiệp của thời quĂĄ khứ cũng khĂĄc nhau, đương nhiĂȘn vọng tưởng tĂąm thức phải khĂĄc nhau. Bởi những thứ ấy do huĂąn tập mĂ  cĂł nĂȘn những bất đồng ấy khĂŽng thể trĂĄnh khỏi. Thế mĂ  chĂșng ta lại bảo thủ Ăœ kiến mĂŹnh lĂ  đĂșng, kẻ khĂĄc ắt cũng nhận Ăœ kiến họ lĂ  đĂșng, hai cĂĄi đĂșng ấy sẽ lĂ  gốc đấu tranh. Nếu nĂłi thẳng, Ăœ kiến khĂŽng cĂł đĂșng, chỉ vĂŹ phĂč hợp với một số người nĂ o với khoảng thời gian nĂ o, đến những kẻ khĂĄc vĂ  thời gian khĂĄc lĂ  sai. VĂŹ thế, người cố chấp Ăœ kiến mĂŹnh đĂșng, quả lĂ  họ đĂŁ sai. CĂ ng cố chấp cĂ ng bảo thủ Ăœ kiến mĂŹnh lĂ  nguyĂȘn nhĂąn đau khổ trầm trọng của con người. Chỉ khĂ©o lĂ©o dung hĂČa buĂŽng xả để cĂčng vui vẻ với nhau, lĂ  người khĂŽn ngoan nhất.

2. Tham: Do chấp thĂąn lĂ  thật nĂȘn khởi tham lam mọi nhu cầu vật chất cho thĂąn. LĂČng tham lĂ  cĂĄi hang khĂŽng cĂčng, cĂĄi tĂși khĂŽng đĂĄy, cho nĂȘn khĂŽng biết đến đĂąu lĂ  đủ. KhĂŽng cĂł, tham lam muốn cĂł; đĂŁ cĂł, tham lam muốn thật nhiều, cĂ ng được lại cĂ ng tham. Tham mĂ  khĂŽng toại nguyện liền nổi sĂąn. Quả thật tham lĂ  nhĂąn đau khổ vĂŽ hạn, con người đến khi sắp tắt thở vẫn chưa thỏa mĂŁn lĂČng tham. Tham cĂł nhiều loại:

Tham muốn thĂąn nĂ y sống mĂŁi khĂŽng chết, người ta coi cĂĄi chết lĂ  một họa hại tối đại của con người. Thế nĂȘn, thăm hỏi nhau, chĂșc mừng nhau, người ta luĂŽn mồm cầu khỏe mạnh, cầu sống lĂąu trăm tuổi. Bởi cĂł ĂĄm ảnh mĂŹnh sống lĂąu, nĂȘn kinh doanh sự nghiệp đuổi theo danh vọng, mĂȘ say sắc đẹp, thĂ­ch uống ăn ngon lĂ nh... cho thỏa mĂŁn thĂąn nĂ y. VĂŹ sợ chết nĂȘn người ta luĂŽn luĂŽn trĂĄnh nĂ© tiếng chết, dĂč cho đến khi bệnh ngặt sắp chết, đi mua hĂČm về vẫn nĂłi nhắc cĂĄi “thọ”. Sự thể tham sống đầy ngập nơi con người, cĂł những người mang thĂąn sống một cĂĄch khổ đau đen tối, mĂ  nghe nĂłi chết cũng sợ sệt. Song cĂł sanh nhất định phải cĂł tử, lĂ  một định ĂĄn khĂŽng thể di dịch, lĂ m sao trĂĄnh được. Chỉ cĂł sợ chết mĂ  khĂŽng biết đường trĂĄnh, đĂąy lĂ  nỗi khổ tuyệt vọng của con người.

VĂŹ tham sống lĂąu nĂȘn người ta muốn được nhiều tiền của để bảo đảm đời sống. Muốn được tiền của nhiều, người ta phải tranh đua giĂ nh giật với nhau. ĐĂŁ lĂ  giĂ nh giật thĂŹ cĂł kẻ được người mất, kẻ được vui cười thĂŹ người mất tức tối. VĂŹ thế người được cĂ ng nhiều thĂŹ thĂč hận cĂ ng lắm. CĂł khi trong lĂșc giĂ nh giật, chỉ nghĩ phần được về mĂŹnh, người ta đĂŁ cĂ ng lấn dẫm đạp trĂȘn sanh mạng kẻ khĂĄc. Cho nĂȘn cĂĄi được của ta cũng lĂ  mồ hĂŽi nước mắt của người. Người tham tiền của nhiều thĂŹ đau khổ cũng nhiều. Bởi vĂŹ đĂąu phải muốn lĂ  được, phải lao tĂąm nhọc trĂ­, phải tốn hao bao nhiĂȘu sức lực mới được. ĐĂŁ được lại sợ người ta phĂĄ, tĂŹm mọi cĂĄch gĂŹn giữ bảo vệ, nhưng cĂł khi nĂł cũng ra đi. Khổ cĂŽng quĂĄ nhiều mới được, được rồi lại mất, thật lĂ  khổ đau vĂŽ kể.

Danh vọng lĂ  những hạt nước lĂłng lĂĄnh trước ĂĄnh nắng mặt trời, người thĂ­ch những danh vọng cao sang, nhưng khi nắm vĂ o tay nĂł liền tan biến. Song người thế gian nĂ o cĂł biết chĂĄn, cứ một bề ngĂł lĂȘn, được một bậc lại muốn lĂȘn một bậc. ChĂ­nh vĂŹ tham lam mong muốn, người ta phải chạy chọt cầu cạnh bợ đỡ những người cĂł khả năng đưa mĂŹnh lĂȘn. Mong cầu mĂ  được, người ta lại thĂȘm mong cầu. Mong cầu mĂ  khĂŽng được, người ta phải khổ đau sầu thảm. Danh vọng lĂ  miếng mồi ngon, nĂȘn ta mong ước kẻ khĂĄc cũng mong ước. Nếu ta nắm được nĂł trong tay thĂŹ kẻ khĂĄc cũng tĂŹm đủ cĂĄch để gỡ ra. VĂŹ thế, người xưa đĂŁ nĂłi “cĂ ng cao danh vọng cĂ ng dĂ y gian nan”. Ít cĂł người ngồi trĂȘn chiếc ghế danh vọng được an ổn suốt đời. Song vĂŹ tĂĄnh cĂĄch hĂ o nhoĂĄng của danh vọng hấp dẫn mọi người dĂĄn mắt vĂ o đĂł khĂŽng biết mỏi. Đuổi bắt danh vọng, như những đứa bĂ© đuổi bắt bĂłng, cuối cĂčng chỉ chuốc lấy sự mệt nhừ. Chỉ ai khĂŽn ngoan khĂ©o biết dừng, người đĂł sẽ được an ổn.

Sắc đẹp cũng lĂ  một thứ men say khiến nhiều người đắm mĂȘ đeo đuổi. Bao nhiĂȘu danh từ hạnh phĂșc yĂȘu đương ĂȘm tai, ngọt dịu, thĂșc đẩy khĂĄch si tĂŹnh chĂŹm sĂąu trong biển ĂĄi, rốt cuộc chỉ lĂ  những ảo tưởng đảo điĂȘn, do con người điĂȘn đảo bĂ y bịa. Hạnh phĂșc lĂ  chiếc mặt nạ của khổ đau, một khi lột chiếc mặt nạ ấy ra liền lộ nguyĂȘn hĂŹnh đau khổ. Nhưng con người lĂ  bệnh nhĂąn của sắc dục, mặc dĂč biết nĂł lĂ  nhĂąn đau khổ, mĂ  họ vẫn la cĂ  bĂȘ bết, khĂŽng chịu trĂĄnh xa. Người ta đuổi theo sắc dục khĂŽng khi nĂ o biết chĂĄn, như người khĂĄt uống nước muối cĂ ng uống cĂ ng khĂĄt. NĂł mang họa hại cho bản thĂąn chĂłng tĂ n cỗi, lại thĂȘm nhiều sầu thảm khổ đau. Đam mĂȘ sắc dục lĂ  người tự phĂĄ hoại sanh mạng của chĂ­nh mĂŹnh.

Những thức ngon ăn uống chỉ cĂł giĂĄ trị khi cĂČn tại lưỡi, nuốt qua khỏi cổ nĂ o cĂł ra gĂŹ. Thế mĂ  người đời vĂŹ miếng ăn giĂ nh giật nhau, giết hại nhau. Tốn bao nhiĂȘu mồ hĂŽi, bao nhiĂȘu sức lực, chỉ vĂŹ một mĂłn ăn ngon. HĂŽm nay thĂ­ch ăn mĂłn nĂ y, ngĂ y mai đĂČi ăn mĂłn nọ, sự thĂšm khĂĄt đĂČi hỏi thĂŽi thĂșc người ta phải khốn khổ nhọc nhằn suốt đời. Rốt cuộc một đời sống chỉ  vĂŹ nĂŽ lệ cho cĂĄi lưỡi. DĂč cĂł người bảo rằng ăn uống bồi bổ sức khỏe con người, cần thiết cho sự sống, song chĂșng ta chỉ cần ăn những thức cĂł đủ sinh tố nuĂŽi dưỡng cơ thể lĂ  tốt, đừng cầu kỳ mĂłn ngon vật lạ, đừng đĂČi hỏi chả phụng khĂŽ lĂąn. Biết chọn thức ăn đủ bồi dưỡng thĂąn nĂ y khỏe mạnh lĂ  đĂșng, chớ để cả đời nĂŽ lệ cho cĂĄi lưỡi.

Lại cĂł lắm người cứ thĂ­ch nhĂ n rỗi thảnh thơi, thong thả qua ngĂ y, chẳng ưng lĂ m lụng việc gĂŹ. Họ tự cho thĂąn sung sướng lĂ  trĂȘn hết, khĂŽng muốn lĂ m động mĂłng tay. Quan niệm nĂ y lĂąu ngĂ y trở thĂ nh lười biếng hĂšn nhĂĄt. Họ lĂ  những khối thịt thường được vất lĂȘn chiếc giường, nĂ©m xuống chiếc vĂ”ng. Cả ngĂ y họ chỉ biết thụ hưởng, mĂ  khĂŽng ưng lĂ m một cĂŽng tĂĄc gĂŹ để cĂł lợi cho mĂŹnh vĂ  giĂșp Ă­ch xĂŁ hội. Nếu một đời sống mĂ  tập như thế, kẻ đĂł tự chuốc bệnh hoạn vĂ o thĂąn vĂ  vĂŽ Ă­ch cho xĂŁ hội. CĂ ng ở khĂŽng cĂ ng thấy thĂąn lừ nhừ nhọc mệt, vĂŹ thĂąn nĂ y lĂ  một cĂĄi mĂĄy hoạt động, nếu khĂŽng chịu hoạt động mĂĄu huyết khĂŽng được lưu thĂŽng, gĂąn cốt khĂŽng dẻo dai, lĂ  cĂĄi cớ để bệnh hoạn. Người cố ở khĂŽng cho sung sướng, đĂąu ngờ họ tự chuốc bệnh hoạn khổ đau.

3. SĂąn: SĂąn lĂ  nĂłng giận. Do tham lam mĂ  khĂŽng toại nguyện, hoặc bị ngăn trở liền nổi sĂąn. Một khi nổi sĂąn thĂŹ mọi tội ĂĄc nĂ o cũng dĂĄm lĂ m, mọi khổ đau nĂ o cũng dĂĄm tạo. Tất cả sự hung tợn dữ dằn ĂĄc độc đều do sĂąn mĂ  phĂĄt sanh. SĂąn cĂł loại bộc phĂĄt, cĂł loại thầm kĂ­n.

Nghe một lời nĂłi trĂĄi tai, thấy một hĂ nh động khĂŽng vừa Ăœ liền nổi nĂłng la Ăł ầm ầm lĂ  sĂąn bộc phĂĄt. Loại sĂąn nĂ y rất nguy hiểm, song đối phương dễ thấy dễ biết. Những điều gĂŹ mĂŹnh muốn được bị kẻ khĂĄc ngăn trở, liền nổi giận mặt đỏ, miệng thốt ra lời bất hảo, tay chĂąn quơ mĂșa, toĂ n thĂąn cử động một cĂĄch mất điều hĂČa. Nếu khi nĂ y, đối phương nhường nhịn đi thĂŹ khả dĩ dịu lại, bằng khĂŽng thĂŹ cơn ẩu đả khĂł trĂĄnh. Một phen nổi sĂąn lĂ  một trận bĂŁo bĂčng họa hại hiểm nguy khĂŽng thể lường trước được. Mọi hiểm nguy họa hại trong đời sống của chĂșng ta đều do sĂąn mang lại. Người ĂŽm ấp lĂČng sĂąn lĂ  kẻ chứa chấp rắn độc trong nhĂ , tai họa đến một cĂĄch dễ dĂ ng chỉ trong giĂąy phĂșt.

CĂł người được sức mạnh dằn Ă©p lửa sĂąn bộc phĂĄt, nhưng họ lại nuĂŽi dưỡng nĂł một cĂĄch ngấm ngầm. Khi nghe nĂłi trĂĄi tai, họ n&#7893;i giận, mĂ  ghĂŹm ở trong lĂČng. LĂČng sĂąn nĂ y thầm lặng mĂ  ĂĄc độc vĂŽ kể, vĂŹ đối phương khĂŽng biết được để ngừa đĂłn. Những kẻ cĂł lĂČng sĂąn thầm kĂ­n lĂ  con người sĂąu độc nguy hiểm. ĐĂąy lĂ  đống lửa than, khĂł thấy mĂ  lĂąu tĂ n. Người ĂŽm lĂČng sĂąn nĂ y như ngĂŽi nhĂ  đẹp mĂ  chứa đầy hơi độc. Những kẻ thiếu tinh tế, nhận xĂ©t hời hợt, khĂŽng sao trĂĄnh khỏi bị hơi độc lĂ m ngạt thở. Song hại được người chĂ­nh mĂŹnh cũng khĂŽng an ổn gĂŹ. Thế nĂȘn sĂąn lĂ  mối hiểm họa cho mĂŹnh cho người, mọi khổ đau trong đời nĂ y đến muĂŽn kiếp đều do sĂąn gĂąy ra.

III.- TRỪ TAM ĐỘC

Như trĂȘn đĂŁ thấy, tam độc lĂ  họa hại vĂŽ cĂčng bất tận của con người. ChĂșng ta phải nỗ lực thủ tiĂȘu chĂșng thĂŹ đời mĂŹnh mới an ổn vĂ  đem an ổn lại cho mọi người. Tam độc như một cĂąy to, si lĂ  gốc cĂąy, tham lĂ  thĂąn cĂąy, sĂąn lĂ  cĂ nh lĂĄ. Trừ tam độc, chĂșng ta phải nhắm thẳng vĂ o gốc của nĂł mĂ  đoạn diệt. Gốc của nĂł tức lĂ  si, nĂȘn phương phĂĄp trừ nĂł phải lĂ  trĂ­ tuệ. Ở đĂąy chĂșng ta dĂčng hai phương phĂĄp để trừ diệt chĂșng:

1/  QuĂĄn vĂŽ thường: Bởi do si mĂȘ chấp thĂąn nĂ y lĂ  thật vĂ  cuộc sống lĂąu dĂ i, nĂȘn dấy khởi lĂČng tham sống lĂąu, tham của cải, tham danh vọng... Ở đĂąy chĂșng ta dĂčng trĂ­ tuệ quĂĄn chiếu theo chiều thời gian, xem thĂąn nĂ y quả thật sống lĂąu dĂ i hay khĂŽng? Như Phật đĂŁ nĂłi: “mạng người sống trong hơi thở”. ĐĂąy lĂ  một sự thật của kiếp người, chỉ một hơi thở ra khĂŽng hĂ­t vĂ o đĂŁ chết. DĂč cĂł đến trăm ngĂ n lối chết, song bất cứ lối chết nĂ o cũng thở khĂŹ ra mĂ  khĂŽng hĂ­t lại lĂ  xong một cuộc đời. Thời gian thở ra khĂŽng hĂ­t lại khoảng bao lĂąu, quả thật ngắn ngủi vĂŽ cĂčng, chỉ trong vĂČng một tĂ­ch tắc đồng hồ. Như thế, chĂșng ta kết luận mạng người sống bao lĂąu, mĂ  tham lam đủ thứ. CĂ ng xĂ©t nĂ©t chĂșng ta cĂ ng thấy thĂąn nĂ y thật quĂĄ mỏng manh, một luồng giĂł độc xuĂŽng vĂ o cũng cĂł thể chết, dẫm chĂąn lĂȘn con rắn độc bị cắn cũng cĂł thể chết, đi đường sẩy chĂąn ngĂŁ bổ cũng cĂł thể chết, ngồi trĂȘn xe đụng nhau cũng cĂł thể chết, một gĂąn mĂĄu bể cũng cĂł thể chết v.v... sự cĂČn mất của thĂąn nĂ y quĂĄ nhanh, khĂŽng cĂł gĂŹ bảo đảm cho sự sống của nĂł hết. PhĂșt giĂąy nĂ o cĂČn sống lĂ  biết nĂł sống, phĂșt giĂąy khĂĄc khĂŽng chắc nĂł lại cĂČn. Một cơn bất thần liền ngĂŁ ra chết, nĂȘn nĂłi thĂąn nĂ y lĂ  vĂŽ thường. ĐĂŁ thấy thĂąn mỏng manh như vậy thĂŹ sự tham lam cho thĂąn cĂČn cĂł giĂĄ trị gĂŹ. Do trĂ­ tuệ thấy đĂșng như thật thĂąn nĂ y vĂŽ thường, mọi sự tham lam theo đĂł được dừng, lĂČng sĂąn hận cũng nguội lạnh.

Những suy tư nghĩ tưởng của tĂąm thức cũng đổi thay từng giĂąy phĂșt. ChĂșng thay hĂŹnh đổi dạng luĂŽn luĂŽn nĂȘn cũng thuộc vĂŽ thường. Trong một ngĂ y mĂ  buồn giận thương ghĂ©t đổi mĂ y thay mặt khĂŽng biết bao nhiĂȘu lần. Mọi sự đổi thay ấy lĂ  tướng trạng vĂŽ thường, cĂČn gĂŹ tranh chấp lĂ  chĂąn lĂœ. Chấp suy tư nghĩ tưởng của mĂŹnh lĂ  đĂșng lĂ  chĂąn lĂœ, quả lĂ  việc dại khờ, cĂł khi nĂ o lấy một cĂĄi bĂșa trong bĂłng để đập nĂĄt một viĂȘn đĂĄ thật được. Cũng thế, vọng tưởng lĂ  cĂĄi vĂŽ thường tạm bợ lĂ m sao dĂčng nĂł suy ra được một chĂąn lĂœ muĂŽn đời. Chấp chặt những nghĩ tưởng mĂŹnh lĂ  đĂșng chĂąn lĂœ, quả lĂ  phi lĂœ rồi.

2/ QuĂĄn duyĂȘn sanh: Si mĂȘ chấp thĂąn nĂ y lĂ  thật, chĂșng ta hĂŁy dĂčng trĂ­ tuệ đứng về mặt khĂŽng gian xem xĂ©t coi cĂł đĂșng hay chăng? Từ tinh cha huyết mẹ cộng với thần thức hĂČa hợp thĂ nh bĂ o thai, khi ra khỏi lĂČng mẹ phải nhờ tứ đại bĂȘn ngoĂ i nuĂŽi dưỡng bồi bổ thĂąn nĂ y mới sanh trưởng. Thế lĂ  do hĂČa hợp mĂ  cĂł thĂąn, cũng do hĂČa hợp được sanh trưởng. ĐĂŁ lĂ  duyĂȘn hợp thĂŹ khĂŽng phải một thể, chỉ lĂ  hợp tướng từ duyĂȘn sanh. Như cĂĄi nhĂ  lĂ  hợp tướng của nhiều duyĂȘn, trĂȘn hợp tướng ấy khĂŽng cĂł cĂĄi nĂ o lĂ  chủ của cĂĄi nhĂ , cĂĄi nhĂ  lĂ  giả tướng của nhiều duyĂȘn hợp lại. Nếu chĂșng ta chỉ cĂąy cột cũng khĂŽng phải cĂĄi nhĂ , cĂąy kĂšo cũng khĂŽng phải cĂĄi nhĂ , cho đến tất cả khĂŽng cĂł cĂĄi nĂ o lĂ  cĂĄi nhĂ , đủ những thứ đĂł hợp lại tạm gọi lĂ  cĂĄi nhĂ . CĂĄi nhĂ  ấy lĂ  một giả tướng do duyĂȘn hợp, thĂąn nĂ y cũng thế. Mọi sự duyĂȘn hợp đều hư giả, chĂșng ta tĂŹm đĂąu cho ra lẽ thật của thĂąn nĂ y. TrĂȘn cĂĄi khĂŽng thật mĂ  lầm chấp cho lĂ  thật quả thật si mĂȘ. Thấy rĂ” thĂąn nĂ y duyĂȘn hợp khĂŽng thật lĂ  trĂ­ tuệ. Thấy thĂąn nĂ y khĂŽng thật rồi, cĂČn gĂŹ tham lam nhiễm trước nơi thĂąn. Đối với thĂąn khĂŽng tham nhiễm thĂŹ mọi nhu c̐7;u của nĂł cĂČn cĂł nghĩa lĂœ gĂŹ. Thấy thĂąn đĂșng lẽ thật thĂŹ si mĂȘ tan tĂ nh tham sĂąn cũng theo đĂł biến hoại.

Đến như suy tư nghĩ tưởng thương ghĂ©t... trong tĂąm đều do sĂĄu căn tiếp xĂșc với sĂĄu trần mĂ  phĂĄt sanh. Bản thĂąn của những tĂąm lĂœ ấy khĂŽng tự cĂł, do căn trần thức hĂČa hợp mĂ  sanh. ĐĂŁ do duyĂȘn hợp thĂŹ khĂŽng thật thể, cĂĄi khĂŽng thật mĂ  cố chấp lĂ  thật thật quĂĄ si mĂȘ. DĂčng trĂ­ tuệ soi thấu những tĂąm tư theo duyĂȘn thay đổi đều lĂ  hư giả, chĂșng ta đĂŁ đập tan được cĂĄi si mĂȘ chấp ngĂŁ nơi nội tĂąm con người. Biết rĂ” bao nhiĂȘu thứ suy nghĩ tưởng tượng đều lĂ  ảo ảnh, cĂČn gĂŹ chấp chặt cĂĄi nghĩ mĂŹnh lĂ  đĂșng, cĂĄi tưởng mĂŹnh lĂ  thật nữa. Do đĂł, chĂșng ta buĂŽng xả mọi vọng tưởng giả dối, sống một đời an lĂ nh trong cĂĄi bĂŹnh lặng của tĂąm tư.

IV.- KẾT LUẬN

Tam độc lĂ  cội nguồn đau khổ của chĂșng sanh, trừ diệt được nĂł chĂșng sanh sẽ hưởng một đời an vui hạnh phĂșc. Khổ vui vốn do chứa chấp tam độc hay tống khứ chĂșng đi, đĂąy lĂ  căn bản của sự tu hĂ nh. Ba thứ độc nĂ y, si lĂ  chủ chốt. Diệt được si thĂŹ hai thứ kia tự hoại. Nhắm thẳng vĂ o gốc mĂ  đốn thĂŹ thĂąn vĂ  cĂ nh đồng thời ngĂŁ theo. VĂŹ thế, trong mười hai nhĂąn duyĂȘn cĂĄi đầu lĂ  vĂŽ minh, muốn cắt đứt vĂČng xĂșc xĂ­ch luĂąn hồi của nhĂąn duyĂȘn, chỉ nhắm thẳng vĂŽ minh, vĂŽ minh diệt thĂŹ hĂ nh diệt v.v... Si độc lĂ  động cơ chĂ­nh yếu của tam độc, chận đứng được si thĂŹ toĂ n thể tam độc đều dừng. Đức Phật thấy được cội gốc của đau khổ vĂ  đầu nguồn của thoĂĄt khổ, nĂȘn NgĂ i dạy Phật tử cứ ngay cĂĄi gốc ấy mĂ  trừ, người ứng dụng đĂșng như thế sẽ Ă­t tốn cĂŽng mĂ  kết quả viĂȘn mĂŁn. Si lĂ  gốc đau khổ, cũng như vĂŽ minh lĂ  gốc luĂąn hồi, vĂŹ diệt tận gốc ấy, đức Phật dạy dĂčng cĂąy bĂșa TrĂ­ Tuệ đập tan nĂł, hoặc thắp sĂĄng ngọn đuốc trĂ­ tuệ phĂĄ tan mĂ n đĂȘm vĂŽ minh. Bởi lẽ ấy, đạo Phật lĂ  đạo giĂĄc ngộ, chỉ cĂł giĂĄc ngộ mới diệt tận cội rễ si mĂȘ, chỉ cĂł mặt trời giĂĄc ngộ xuất hiện thĂŹ đĂȘm tối vĂŽ minh mới hoĂ n toĂ n hết sạch. Diệt được tam độc của mĂŹnh lĂ  tự cứu bản thĂąn, cũng đĂŁ đem sự an ổn lại cho mọi người chung quanh. Một việc lĂ m tự lợi lợi tha đầy đủ, tất cả Phật tử chĂșng ta phải tận lực cố gắng thực hiện kỳ được mới thĂŽi. Được vậy mới xứng đĂĄng lĂ  người Phật tử chĂąn chĂĄnh.

TỪ BI

I.- MỞ ĐỀ

TĂŹnh thương lĂ  nguồn an ủi vĂŽ biĂȘn của chĂșng sanh đang đau khổ, lĂ  bể nước cam lồ mĂĄt ngọt để cho những người đang bị lửa trần gian thiĂȘu đốt mặc tĂŹnh nhảy Ăčm tắm gội. Song phải lĂ  tĂŹnh thương hoĂ n toĂ n vị tha, khĂŽng nhuốm một tĂ­ xĂ­u mĂči vị kỷ. Nếu lĂ  tĂŹnh thương vị kỷ, chẳng những khĂŽng lĂ m vơi được nỗi khổ của chĂșng sanh, trĂĄi lại cĂČn dĂŹm họ chĂŹm sĂąu trong biển khổ. TĂŹnh thương vị tha lĂ  vĂŽ biĂȘn khĂŽng giới hạn, trĂ n ngập mọi loĂ i, chan hĂČa trong muĂŽn loại. Người mang tĂŹnh thương nĂ y ra chan rải cho chĂșng sanh, quả lĂ  một từ mẫu đang săn sĂłc bầy con dại. Bao nhiĂȘu khổ đau, mọi điều ĂĄch nạn vừa gặp tĂŹnh thương nĂ y chĂșng đều tan biến. Cao cả thay! QuĂ­ bĂĄu thay! Đẹp đẽ thay! Những ai đĂŁ cưu mang ĂŽm ấp tĂŹnh thương vĂŽ bến hạn nĂ y.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Từ lĂ  ban vui, Bi lĂ  cứu khổ. Ban vui cứu khổ cho người gọi lĂ  từ bi. Sự vui khổ của người xem như vui khổ của chĂ­nh mĂŹnh, chia vui sớt khổ cho nhau đấy lĂ  lĂČng từ bi. VĂŹ thế, ban vui cứu khổ cho người mĂ  khĂŽng thấy ta lĂ  kẻ ban Ăąn, kia  là  kẻ  thọ Ăąn. Tận tĂąm tận lực vĂŹ người, khĂŽng cĂł một niệm một mảy may vĂŹ mĂŹnh lĂ  từ bi. ĐĂąy mới thật lĂ  tĂŹnh thương chĂąn thật. Nếu cĂł một điểm nhỏ xĂ­u vĂŹ mĂŹnh lĂ  khĂŽng phải tĂŹnh thương chĂąn thật. CĂł vĂŹ mĂŹnh mĂ  thương người, chĂ­nh đĂł lĂ  thương mĂŹnh khĂŽng phải thương người. Một tĂŹnh thương vĂŹ mĂŹnh thĂŹ khĂŽng hẳn lĂ  thương, bởi trĂĄi sở cầu của mĂŹnh liền giận. HoĂ n toĂ n vĂŹ người hoĂ n toĂ n cho người, mới lĂ  tĂŹnh thương vĂŽ biĂȘn khĂŽng giới hạn. TĂŹnh mẹ thương con chưa hẳn lĂ  từ bi, vĂŹ con khĂŽng nghe lời mẹ liền giận. TĂŹnh thương từ bi lĂ  tĂŹnh thương đồng hĂła khổ vui của người như của mĂŹnh. MĂŹnh khổ cĂ ng kĂ­p lo giải quyết cho hết khổ, mĂŹnh khĂŽng cần biết ơn mĂŹnh, mĂŹnh khĂŽng kể ơn với mĂŹnh. Cảm thĂŽng sự khổ vui của mọi người như thế, khởi tĂŹnh thương ban vui cứu khổ lĂ  lĂČng từ bi. Cứu giĂșp để mong đền đĂĄp lĂ  sự đổi chĂĄc khĂŽng phải lĂČng từ bi. Thương yĂȘu để thỏa mĂŁn nhu cầu riĂȘng tư mĂŹnh, lĂ  lợi dụng tĂŹnh thương, khĂŽng phải từ bi. Mọi sự xĂłt thương cứu giĂșp người, khĂŽng xen lẫn một tĂ­ vĂŹ mĂŹnh thật lĂ  lĂČng từ bi.

III.- MỚI TẬP TỪ BI

Muốn phĂĄt tĂąm từ bi, chĂșng ta phải tập cảm thĂŽng sự khổ vui với mọi người. Thấy người khổ cảm như chĂșng ta chịu khổ, nỗi khổ của người xem như nỗi khổ của chĂșng ta. DĂčng mọi khả năng sẵn cĂł dẹp khổ cho người cũng như tiĂȘu diệt khổ của chĂ­nh bản thĂąn mĂŹnh. Người hết khổ lĂ  chĂșng ta hết khổ, khĂŽng cần một đĂČi hỏi nĂ o, ngoĂ i sự hết khổ của người. ĐĂŁ xem cĂĄi khổ của người như của mĂŹnh, nĂȘn nhiệt tĂŹnh sốt sắng cứu giĂșp mĂ  khĂŽng điều kiện. Người khỏi khổ lĂ  mĂŹnh an vui, khĂŽng cĂł một hậu Ăœ nĂ o đối với người mĂŹnh cứu giĂșp. Nếu cĂł hậu Ăœ, chỉ mong đem lại cho họ sự an vui vĩnh cửu. Thấy người vui cũng như mĂŹnh được vui, những cĂĄi vui của mĂŹnh đĂŁ sẵn sĂ ng chia sớt với  người, bằng cĂĄch giải bĂ y, bằng cĂĄch chia sẻ, bằng cĂĄch mong mỏi. Chia sớt với nhau cĂčng được vui chung thật lĂ  hạnh phĂșc chĂąn thật ở trần gian. Chỉ để một mĂŹnh vui, ai sao mặc kệ, lĂ  kẻ Ă­ch kỷ xấu xa, chĂ­nh họ khĂŽng bao giờ thấy sự an vui chĂąn thật. ChĂșng ta phải thấy cĂĄi vui của mĂŹnh lĂ  cĂĄi vui của mọi người, cĂĄi vui của người chĂ­nh lĂ  cĂĄi vui của mĂŹnh. CĂčng khổ cĂčng vui mới lĂ  tĂŹnh thương chan hĂČa trĂ n ngập. Chỉ biết cĂĄi vui khổ riĂȘng tư của mĂŹnh lĂ  tự đĂłng khung trong một nhĂ  giam riĂȘng biệt, kẻ ấy suốt đời khĂŽng bao giờ biết vui. ChĂșng ta trải lĂČng mĂŹnh ra hĂČa nhịp với mọi con tim, chứa chan tĂŹnh thương khĂŽng bến hạn. Bởi cảm thĂŽng nhau trĂȘn nỗi khổ vui, chĂșng ta mới cĂł nhiệt tĂŹnh tĂ­ch cực cĂčng sớt khổ chia vui. Mọi bức tường ngăn cĂĄch giữa bản ngĂŁ con người, chĂșng ta mạnh dạn đạp đổ cho sự cảm thĂŽng khĂŽng bị cuộc hạn. ThĂŽng cảm được sự khổ vui của mọi người, chĂșng ta bắt đầu phĂĄt tĂąm từ bi. VĂŹ thế, mới tập từ bi lĂ  tập cảm thĂŽng.

Tuy nhiĂȘn lĂČng từ bi lĂ  khĂŽng giới hạn, song mới tập từ bi phải phĂĄt xuất từ gần lan dần ra xa. ChĂșng ta tập cảm thĂŽng từ những người sống chung, thĂąn thuộc với chĂșng ta, dần dần đến những người xa lạ bĂȘn ngoĂ i. Nếu những người chung sống với mĂŹnh khĂŽng thể cảm thĂŽng được, chỉ cảm thĂŽng được với những người xa lạ bĂȘn ngoĂ i, đĂł lĂ  trĂĄ hĂŹnh từ bi, chớ chưa phải thực chất từ bi. ChĂșng ta phải tập lĂČng từ bi cho cĂł căn bản, sự kết quả chắc chắn sẽ đĂșng như nguyện.

IV.- ĐÃ TẬP TỪ BI

LĂČng từ bi đĂŁ phĂĄt hiện nơi chĂșng ta, mọi sĂąn hận tham lam theo đĂł tiĂȘu diệt. Người từ bi khĂŽng thể nổi nĂłng chưởi đĂĄnh kẻ khĂĄc. ĐĂŁ thấy sự đau khổ của người chĂ­nh lĂ  đau khổ của mĂŹnh, vĂŽ lĂœ mĂŹnh lại lĂ m khổ mĂŹnh. Chỉ thấy kẻ khĂĄc với mĂŹnh khĂŽng liĂȘn hệ nhau mới đĂ nh lĂČng lĂ m họ khổ. Quả thật cảm thĂŽng được nỗi khổ đau của người, lĂČng sĂąn vừa dấy khởi liền tắt ngủm. Bởi nước từ bi trĂ n ngập thĂŹ khĂŽng cĂł lĂœ do lửa sĂąn nổi dậy. Lửa sĂąn chĂĄy hừng hực, chĂ­nh lĂ  lĂșc nướĂčc từ bi đĂŁ khĂŽ cạn. Tự người gặp cảnh khổ, người cĂł lĂČng từ bi cĂČn khĂŽng nỡ lấy mắt ngĂł, cần phải tĂŹm đủ cĂĄch để giải khổ cho người. Nếu khả năng chĂșng ta khĂŽng thể giải cứu được, lĂČng vẫn xĂłt xa đau đớn. Huống lĂ , đĂ­ch thĂąn mĂŹnh lĂ m khổ cho người, lĂČng từ bi khĂŽng cho phĂ©p dĂčng ngĂŽn ngữ hĂ nh động lĂ m khổ kẻ khĂĄc. Bao giờ chĂșng ta thĂ­ch lĂ m khổ mĂŹnh, chừng đĂł mới vui vẻ lĂ m khổ người. Gặp khổ chĂșng ta biết rầu buồn than thở, nỡ nĂ o lĂ m khổ kẻ khĂĄc cho đĂ nh. Kết quả đầu của lĂČng từ bi lĂ  diệt sạch sĂąn hận của chĂ­nh mĂŹnh.

Người từ bi đĂąu đĂ nh tranh giĂ nh hơn thua được mất với người. Bởi kẻ được thĂŹ vui người mất phải khổ, giĂ nh giật nhau lĂ  lĂ m khổ cho nhau. LĂČng từ bi lĂ  cứu khổ, vĂŽ lĂœ lại đi lĂ m khổ người. Tham lam lĂ  thu gĂłp, giĂ nh giật. Từ bi lĂ  ban bố cứu giĂșp. Mang lĂČng từ bi thĂŹ mọi hĂ nh động cĂł tĂĄnh cĂĄch tranh đua giĂ nh giật khĂŽng cĂČn. ChĂ­nh của mĂŹnh cĂČn mang ra ban bố cho người, khĂŽng thể cĂł giĂ nh giật của người đem về mĂŹnh. LĂČng từ bi với tham lam lĂ  hai con sĂŽng chảy ngược. CĂł cĂĄi nĂ y thĂŹ khĂŽng thể cĂł cĂĄi kia. LĂČng từ bi đi đến đĂąu thĂŹ đau khổ tan đến đấy, như ĂĄnh nắng soi đến đĂąu thĂŹ băng tuyết đều tan. Từ bi khĂŽng dung đau khổ, dĩ nhiĂȘn từ bi khĂŽng chứa chấp tham lam. Từ bi trĂ n lấn tham lam phải rĂŁ rời.

Với mọi lớp người trong mọi cảnh huống, chỉ một bề mang tĂŹnh thương chĂąn thật đến với họ, khĂŽng một hĂ nh động ngĂŽn ngữ để cho họ phải phiền hĂ , thuần tĂșy ban vui cứu khổ. HĂ nh động như thế lĂ  thuận hạnh từ bi. LĂČng từ bi nĂ y một bề thể hiện tĂŹnh thương, chiều theo sở nguyện của người. LĂ m trĂĄi Ăœ người lĂ  khiến họ đau khổ, thuận hạnh từ bi lĂ  khĂŽng trĂĄi Ăœ nguyện của chĂșng sanh.

Song tĂąm Ăœ chĂșng sanh điĂȘn đảo, cĂł cĂĄi khổ trĂĄ hĂŹnh an vui họ lại thĂšm thuồng ưa muốn, người sẵn lĂČng từ bi, cĂł khi cần đổi cĂĄi khổ nhỏ cho họ cĂĄi vui lớn, vẫn phải lĂ m. Hoặc những chĂșng sanh ngỗ nghịch mĂŁi tạo tội khĂŽng chĂĄn, người từ bi cần phải ngăn chận bằng cĂĄch trừng trị dữ dằn. Hiện tướng dữ để điều phục đưa người về chỗ an vui, lĂ  nghịch hạnh từ bi. Hạnh từ bi nĂ y vừa mới trĂŽng như kẻ ĂĄc, nhưng mai kia mới thấy rĂ” lĂČng từ. Người thể hiện lĂČng từ bi nĂ y cần phải sĂĄng suốt, thật lĂ  lĂ m một việc khĂł lĂ m. DĂč thuận hạnh hay nghịch hạnh cũng lĂ  một nguồn ban vui cứu khổ. Bản chất từ bi lĂ  nhẹ nhĂ ng mĂĄt mẻ, nĂȘn mọi chĂșng sanh bị nhiệt nĂŁo gặp từ bi đều được an lĂ nh.

V.- CỨU KÍNH TỪ BI

LĂČng từ bi được viĂȘn mĂŁn khi nĂ o mọi vọng thức khĂŽng cĂČn. VĂŹ vọng thức chạy theo nghiệp phĂąn biệt cĂł yĂȘu cĂł ghĂ©t, khĂł mang tĂŹnh thương chĂąn thật bĂŹnh đẳng lại cho chĂșng sanh. Khi nghiệp thức đĂŁ sạch, chỉ m&#7897;t tĂąm thể thĂȘnh thang bĂŹnh đẳng bao trĂčm tất cả chĂșng sanh, khĂŽng phĂąn biệt ngĂŁ nhĂąn bỉ thử, lĂ m gĂŹ cĂł thương ghĂ©t nảy sanh. Sống với tĂąm thể nĂ y chỉ trĂ n trề lĂȘnh lĂĄng một tĂŹnh thương. TĂŹnh thương mĂ  khĂŽng phĂąn biệt, khĂŽng cĂČn chủ khĂĄch đối đĂŁi, bao dung khĂŽng giới hạn, mới lĂ  tĂŹnh thương chĂąn thật hay viĂȘn mĂŁn lĂČng từ bi. CĂČn thấy đối đĂŁi lĂ  cĂČn phĂąn biệt; cĂČn dụng cĂŽng, mọi sự đối đĂŁi đĂŁ tiĂȘu dung, biết lấy đĂąu lĂ m giới hạn. Cho nĂȘn vĂ­ lĂČng từ bi thĂȘnh thang như trời cao, bĂĄt ngĂĄt như bể cả. Từ bi trong chỗ khĂŽng phĂąn biệt khĂŽng dụng cĂŽng nĂȘn gọi lĂ  vĂŽ duyĂȘn từ.

VI.- KẾT LUẬN

Từ bi lĂ  tĂŹnh thương hoĂ n toĂ n bất vụ lợi. Bọn ĂĄc quỉ sĂąn hận tham lam tật đố gặp từ bi đều chấp tay quĂŹ gối qui hĂ ng. CĂł mặt từ bi ở đĂąu thĂŹ mọi khổ đau tan biến ở đĂł. Từ bi ngọt ngĂ o như dĂČng sữa mẹ, từ bi mĂĄt dịu như ngọn giĂł chiều thu, từ bi trong sĂĄng như ĂĄnh trăng rằm, từ bi phĂĄt sanh muĂŽn ngĂ n cĂŽng đức như lĂČng tốt phĂŹ nhiĂȘu nuĂŽi dưỡng vạn vật. ChĂșng ta tĂŽn trọng kĂ­nh mến những ai đĂŁ mang sẵn lĂČng từ bi, tĂĄn thĂĄn ca ngợi ai mới phĂĄt tĂąm từ bi, ước mơ mong mỏi ai sẽ học tập từ bi. Mọi người chĂșng ta gắng cĂŽng khơi dậy dĂČng suối từ bi, để một ngĂ y kia chảy trĂ n ngập trần gian đang nhiệt nĂŁo. Hạnh phĂșc ở nhĂąn gian nếu cĂł, khi nĂ o nguồn nước từ bi trĂ n về. Tất cả chĂșng ta đừng mong đấng nĂ o cứu khổ, chỉ chấp tay cầu nguyện mọi người đều phĂĄt tĂąm từ bi. Ngọn lửa khổ đau dập tắt, khi trận mưa từ được gội nhuần. ChĂąn thĂ nh mong ước mọi người đều phĂĄt lĂČng từ bi.

MÊ TÍN CHÁNH TÍN

I.- MỞ ĐỀ

Đạo Phật chủ trương giĂĄc ngộ mang ĂĄnh sĂĄng trĂ­ tuệ soi rọi cho thế gian. Mọi lẽ thật đều hiện bĂ y dưới ĂĄnh sĂĄng giĂĄc ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi lĂČng tin đĂł lĂ  “chĂĄnh tĂ­n”. Ngược lại, bĂ y những điều mĂȘ hoặc lĂ m mĂč quĂĄng người đời, lừa bịp thế gian, ấy lĂ  “mĂȘ tĂ­n”. Hoặc khĂŽng hiểu rĂ”, khĂŽng cĂł lĂœ lẽ, mĂ  tin cĂ n tin bướng lĂ  “mĂȘ tĂ­n”. Tin bướng lĂ  họa hại đưa con người đến đường mĂč tối. Thấy rĂ” biết đĂșng mới tin lĂ  sức mạnh vĂŽ biĂȘn khiến người thĂ nh cĂŽng trĂȘn mọi lĂŁnh vực. Thế nĂȘn trong kinh Hoa NghiĂȘm cĂł cĂąu: “Tin lĂ  nguồn của đạo, lĂ  mẹ của mọi cĂŽng đức. Tin hay nuĂŽi lớn cĂĄc gốc lĂ nh.” VĂŹ thế người học đạo cần cĂł lĂČng tin, song lĂČng tin đĂŁ qua sĂ ng lĂœ trĂ­ gạn lọc kỹ cĂ ng. Tuyệt đối khĂŽng được tin cĂ n, tin bướng lĂ m băng hoại tinh thần giĂĄc ngộ của đạo Phật. ChĂ­nh trong kinh Di GiĂĄo Phật dạy: “... Xem tướng lĂ nh dữ, trĂŽng xem sao hạn, xem xĂ©t thạnh suy, coi ngĂ y đoĂĄn số đều khĂŽng được lĂ m...”

II.- MÊ TÍN

MĂȘ tĂ­n lĂ  lối tin mĂč quĂĄng khiến con người mất hết trĂ­ thĂŽng minh. Những kẻ chủ trương mĂȘ tĂ­n lĂ  người lĂ m hoặc loạn thế gian, đưa dĂąn tộc lĂči lại bĂĄn khai. Một tĂŽn giĂĄo chĂąn chĂĄnh, một dĂąn tộc văn minh, khĂŽng cho phĂ©p mĂȘ tĂ­n len lỏi trong tĂ­n đồ mĂŹnh, trong dĂąn tộc mĂŹnh. Thế mĂ , đồng bĂ o chĂșng ta, trong Phật giĂĄo chĂșng ta, tệ đoan mĂȘ tĂ­n vẫn cĂČn nhiều.

a) Đồng cốt

Đồng cốt lĂ  hiện tượng mĂȘ hoặc khủng khiếp. Những kẻ lĂ m ĂŽng đồng, bĂ  cốt đều lĂ  người sống trong trạng thĂĄi bất bĂŹnh thường. Bản thĂąn họ đĂŁ mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực huyền bĂ­ nĂ o đĂł. Khi ma lực ấy dựa vĂ o họ, liền lạm dụng cĂĄc danh hiệu thĂĄnh, những bậc vĩ nhĂąn của thuở xưa dĂčng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vĂ­a dễ tin nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ-tĂĄt hay những vị tiĂȘn thĂĄnh liền khiếp đảm kĂ­nh tin. Họ khĂŽng dĂĄm phĂȘ phĂĄn đĂł lĂ  tĂ  hay chĂĄnh. Thế rồi, họ một mực quĂŹ mọp để được phong chức, hoặc nhận phĂ©p lĂ nh. Họ bị gạt bằng những danh hĂŁo trong cĂ”i vĂŽ hĂŹnh, hoặc bằng những bĂča tĂ  phĂ©p lạ, những huyền hoặc về quĂĄ khứ vị lai. Từ đĂąy họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hết lĂœ trĂ­ thực tại.

ChĂșng ta phải khĂĄm phĂĄ dẹp tan những lối mĂȘ hoặc ấy. RiĂȘng về nhĂ  Phật trong kinh đĂŁ dạy rĂ”, khi chứng đến quả Phật, Bồ-tĂĄt, A-la-hĂĄn đều cĂł đầy đủ lục thĂŽng, tam minh... VĂŹ thế, Bồ-tĂĄt hay A-la-hĂĄn muốn hĂła độ kẻ hữu duyĂȘn liền dĂčng thần thĂŽng hiện giĂĄo hĂła, như Bồ-tĂĄt QuĂĄn Thế Âm, trong phẩm Phổ MĂŽn của kinh PhĂĄp Hoa chẳng hạn. KhĂŽng khi nĂ o cĂĄc bậc ThĂĄnh phải gĂĄ vĂ o thĂąn kẻ phĂ m tục khĂĄc lĂ m việc giĂĄo hĂła. VĂŹ cĂĄc ngĂ i đầy đủ thần thĂŽng biến hĂła vĂŽ ngại. Như thế, những ma lực tựa vĂ o đồng cốt đều lĂ  sức của quỉ thần. VĂŹ sợ người đời khĂŽng tin, nĂȘn chĂșng mạo xưng những danh hiệu cho to để gĂąy uy tĂ­n. Biết rĂ” tĂ­nh cĂĄch ma mị của chĂșng, người Phật tử phải trĂĄnh xa, tuyệt đối khĂŽng được phụ họa với chĂșng, huống lĂ  qui kĂ­nh. CĂł thế mới tỏ ra lĂ  người Phật tử chĂąn chĂĄnh.

b) Lịch số, sao hạn

Thời gian khĂŽng thật do khĂĄi niệm con người đặt ra, huống lĂ  trĂȘn thời gian lại đặt ra ngĂ y tốt ngĂ y xấu, năm lĂ nh năm dữ... Thử đặt ra một thĂ­ dụ, chĂșng ta đốt một ngọn đĂšn đặt ở bĂȘn phải, lấy một cĂĄi gương trĂČn nhỏ để ở bĂȘn trĂĄi, cĂĄch nhau năm tấc tĂąy, khoảng giữa đặt một quả bĂłng (trĂĄi banh). ChĂșng ta dĂčng tay xoay trĂČn quả bĂłng, phĂ­a nằm bĂȘn ngọn đĂšn lĂ  sĂĄng, phĂ­a khuất ngọn đĂšn lĂ  tối, cứ xoay mĂŁi, quả bĂłng đối chiếu tối sĂĄng liĂȘn tục. Trục quay ấy cĂł lĂșc tiến đến trước ngang ngọn đĂšn lĂ m khuất ĂĄnh sĂĄng soi vĂ o mặt gương, ĂĄnh sĂĄng mặt gương khĂŽng phản chiếu vĂ o quả bĂłng, cĂł lĂșc lĂči lại sau, ĂĄnh sĂĄng ngọn đĂšn soi vĂ o mặt gương, ĂĄnh sĂĄng từ mặt gương phản chiếu lại quả bĂłng, phĂ­a khuất ngọn đĂšn. CĂł những con kiến ở trĂȘn quả bĂłng, thấy quả bĂłng mặt sĂĄng gọi lĂ  ngĂ y, mặt tối gọi lĂ  đĂȘm, những lĂșc mặt gương khĂŽng phản chiếu ĂĄnh sĂĄng vĂ o quả bĂłng gọi lĂ  ba mươi, những lĂșc mặt gương phản chiếu ĂĄnh sĂĄng vĂ o quả bĂłng đầy đủ gọi lĂ  rằm... Lại đặt mặt sĂĄng của quả bĂłng vĂČng một lĂ  ngĂ y tốt, vĂČng hai lĂ  ngĂ y xấu... Cảm thĂŽng được điều đĂł, chĂșng ta cĂł tức cười cho loĂ i kiến hay khĂŽng? Quả thật, chĂșng bĂ y biện một cĂĄch vĂŽ lĂœ. Ngọn đĂšn, quả bĂłng, mặt gương đều lĂ  vĂŽ tri, động lực quay nĂł thĂŹ cứ quay vậy thĂŽi, cĂł gĂŹ lĂ  linh thiĂȘng huyền diệu, mĂ  chĂșng lại đặt lĂ  ngĂ y tốt ngĂ y xấu.

Cũng thế, nhật cầu, nguyệt cầu vĂ  địa cầu đều lĂ  vĂŽ tri, chĂșng quay gần nhau theo cĂĄi trục cố định, mặt địa cầu hướng về nhật cầu thĂŹ sĂĄng, mặt khuất thĂŹ tối. CĂĄi trục quay ấy cĂł khi địa cầu xĂȘ tới che khuất ĂĄnh sĂĄng nhật cầu khĂŽng soi đến nguyệt cầu, cĂł khi sụt lại, ĂĄnh sĂĄng nhật cầu soi đầy đủ vĂ o nguyệt cầu, ĂĄnh sĂĄng nguyệt cầu phản chiếu lại mặt tối của địa cầu. Thế rồi, con người sống trĂȘn địa cầu trĂŽng vĂ o sự sĂĄng tối tĂčy khĂĄi niệm đặt thĂ nh ngĂ y đĂȘm vĂ  giờ phĂșt, theo sự phản chiếu của nguyệt cầu đặt ra rằm, ba mươi, thĂ nh thĂĄng, năm. Thời gian lĂ  do tưởng tượng của con người đặt ra khĂŽng thật. Phương chi trĂȘn thế gian ấy lại cĂČn đặt thĂȘm lĂ nh dữ tốt xấu... Quả thật con người quĂĄ bĂ y biện, quĂĄ rối ren. ĐĂŁ bĂ y biện ra rồi, tự cột trĂłi mĂŹnh. Khi đĂŁ cĂł ngĂ y tốt ngĂ y xấu, đi đĂąu phải chọn ngĂ y tốt mới dĂĄm đi, lĂ m gĂŹ phải đợi ngĂ y tốt mới lĂ m. Thậm chĂ­ cất nhĂ  xĂąy bếp cũng phải lựa ngĂ y chọn thĂĄng, định đĂŽi gả lứa cũng phải coi tuổi hạp, khĂŽng hạp. Con người bị bao phủ trong ổ tơ rối nĂči ấy, rồi than khĂłc rồi khổ đau. ChĂ­nh vĂŹ ngĂ y thĂĄng tuổi tĂĄc tạo ra cho con người khĂŽng biết bao nhiĂȘu đau khổ. ChĂșng ta hĂŁy nghe người nĂŽng dĂąn miền Nam nguyền rủa họ qua bĂ i hĂĄt:

Cọp mĂ  vật mấy ĂŽng thầy địa

YĂȘu mĂ  nhai mấy chĂș coi ngĂ y

Trớ trĂȘu họ khĂ©o đặt bĂ y

Hai đứa mĂŹnh thương thiệt, ĂŽng trời rĂ y bảo thương.

c) Coi tay, xem tướng

Coi tay, xem tướng cũng cĂł khi trĂșng, song ĂŽng thầy ấy luĂŽn luĂŽn nĂłi cĂąu thĂČng: “Tay hay tướng của ĂŽng cĂł hiện điều xấu, cĂł thể đến thĂĄng 3;Ăł sẽ mắc nạn, nếu ĂŽng biết lĂ m lĂ nh lĂ m phước cĂł thể qua.” Thế thĂŹ đến thĂĄng đĂł, nếu người ấy mắc nạn thĂŹ khen ĂŽng thầy xem trĂșng, bằng khĂŽng mắc nạn thĂŹ ĂŽng thầy đổ tại lĂ m lĂ nh lĂ m phước! Như thế, mặt nĂ o ĂŽng thầy cũng hay hết. Nhưng chĂșng ta thử kiểm điểm xem, cả hai mặt mắc nạn vĂ  khĂŽng, cĂł lợi gĂŹ cho người đi coi khĂŽng? Nếu coi tay tốn một số tiền, đến khi mắc nạn cũng phải tự chịu, ĂŽng thầy cĂł cứu giĂșp cho mĂŹnh được gĂŹ đĂąu. Nếu đến thĂĄng thọ nạn, người coi tay khĂŽng thọ nạn, cho lĂ  lĂ m lĂ nh lĂ m phước được qua thĂŹ mĂŹnh tự cứu mĂŹnh, ĂŽng thầy cũng khĂŽng lĂ m gĂŹ cho mĂŹnh. Như vậy đi coi chi cho uổng tiền.

Hơn nữa ở đầu quyển sĂĄch tướng cĂł bĂ i kệ:

HĂĄn                             Dịch

Hữu tĂąm vĂŽ tướng           CĂł tĂąm tốt khĂŽng tướng tốt

Tướng tự tĂąm sanh          Tướng tốt theo tĂąm tốt sanh

Hữu tướng vĂŽ tĂąm           CĂł tướng tốt khĂŽng tĂąm tốt

Tướng tĂčng tĂąm diệt.      Tướng tốt theo tĂąm xấu mất.

Thế thĂŹ, chĂșng ta cần phĂĄt tĂąm tốt lĂ m việc tốt thĂŹ điều tốt sẽ đến. ChĂșng ta chứa chấp những tĂąm niệm xấu xa thĂŹ mọi điều dữ sẽ đến. Điều căn bản lĂ  chĂșng ta lĂ m tốt hay lĂ m xấu, quả tốt xấu sẽ đến với chĂșng ta. KhĂŽng phải quan trọng ở bĂ n tay hay tướng mạo. Thế mĂ , chĂșng ta khĂŽng ứng dụng ngay cội gốc, lại chạy theo ngọn ngĂ nh, hao phĂ­ tiền bạc một cĂĄch vĂŽ Ă­ch, đĂł gọi lĂ  mĂȘ tĂ­n.

d) Xin xăm, bĂłi quẻ:

Xin xăm bĂłi quẻ lĂ  một việc lĂ m cầu may. Rủi may lĂ  điều xN43;y ra khĂŽng cĂł duyĂȘn cớ. PhĂł thĂĄc hĂ nh động của mĂŹnh, cho đến phĂł thĂĄc cả đời mĂŹnh vĂ o chỗ khĂŽng cĂł duyĂȘn cớ, thật lĂ  tệ hại. ThĂĄnh, Thần cĂł rảnh đĂąu mĂ  ngồi sẵn trĂȘn bĂ n để ứng hiện trong xăm quẻ cho quĂ­ vị. Nếu người xin xăm bĂłi quẻ cĂł trĂșng, chẳng qua phước nghiệp, lĂ nh dữ của mĂŹnh mĂ  hiện ra. Như sĂĄch nĂłi: “Phước chĂ­ tĂąm linh, họa lai thần ĂĄm.” Nghĩa lĂ  người gặp lĂșc phước đến thĂŹ giở quẻ ra đều tốt, khi họa lại thĂŹ rĂșt lĂĄ xăm nĂ o cũng xấu. Thế lĂ  tốt xấu tại mĂŹnh, khĂŽng phải tại xăm quẻ. ChĂșng ta cứ sửa mĂŹnh cho tốt thĂŹ mọi việc đều tốt, đi xin xăm bĂłi quẻ lĂ m gĂŹ? Xin xăm bĂłi quẻ chỉ khiến chĂșng ta lo sợ thĂȘm. Ca dao Việt Nam cĂł cĂąu:

Tay cầm tiền quĂœ bo bo

Đem cho thầy bĂłi mang lo vĂ o mĂŹnh.

LĂ m việc khĂŽng lợi Ă­ch, lại tốn hao tiền bạc, mang lo sợ vĂ o lĂČng, khĂŽng phải mĂȘ tĂ­n lĂ  gĂŹ?

e) CĂșng sao xem hướng

Lệ cĂșng sao hạn, thật lĂ  lạc hậu lỗi thời, sao lĂ  những hĂ nh tinh cĂĄch xa chĂșng ta bao nhiĂȘu ngĂ n cĂąy số. NĂł lĂ  cĂĄi gĂŹ mĂ  chĂșng ta phải cĂșng! Tục lệ cĂĄc chĂča quĂȘ, vĂ o ngĂ y mĂčng chĂ­n thĂĄng giĂȘng lĂ  cĂșng sao Hội. Người Phật tử nĂ o khĂŽng gửi tĂȘn cĂșng sao, xem như năm ấy khĂŽng được bảo đảm an ninh. Song người chủ cĂșng sao cho quĂ­ vị, cĂł bảo đảm an ninh chưa? CĂł lẽ quĂ­ vị ấy quĂȘn ghi tĂȘn mĂŹnh trong bĂ i sớ cĂșng sao chớ gĂŹ? Thật lĂ  vĂŽ lĂœ, đạo lĂœ nhĂąn quả đức Phật dạy rĂ nh rĂ nh trong kinh, mĂ  người ta bất chấp. ThĂąn tổng bĂĄo của chĂșng ta cĂł lẫn lĂ nh với dữ, khi nhĂąn lĂ nh đến thĂŹ hưởng quả lĂ nh, khi nhĂąn dữ đến thĂŹ chịu quả dữ, khĂŽng thể chạy trốn được. Chỉ cĂł tạo nhĂąn lĂ nh nhiều, khi quả dữ đến sẽ nhẹ đi hay giảm bớt. VĂ­ như trước kia chĂșng ta đĂŁ lĂ m khổ một người, vĂŹ lĂșc đĂł họ thiếu khả năng trả thĂč nĂȘn dường như thĂŽng qua. Đến lĂșc nĂ o đĂł, họ đủ điều kiện trả thĂč, nếu chĂșng ta khĂŽng được nhiều người thương che chở thĂŹ, qu&#7843; đĂł sẽ đĂșng với nhĂąn kia. Ngược lại, nếu chĂșng ta được quĂĄ nhiều người ủng hộ che chở, quả phải trả sẽ nhẹ hoặc giảm mất cũng cĂł. Bởi thế nĂȘn, sợ quả khổ khĂŽng gĂŹ hơn, chĂșng ta phải tạo nhĂąn vui. KhĂŽng nĂȘn cĂșng sao cĂșng hạn để cầu được an vui lĂ  điều phi lĂœ.

Xem hướng cất nhĂ , xĂąy bếp cũng lĂ  một lối mĂȘ tĂ­n. CĂł lắm người trong nhĂ  chồng vợ bất hĂČa, con cĂĄi ngỗ nghịch, liền rước thầy đến xem hướng sửa cửa, đổi bếp. Nếu cửa vĂ  bếp biết nĂłi, sẽ cĂŁi lại với bĂ  chủ nhĂ  rằng: “CĂŁi lẫy nhau tại ĂŽng bĂ  khĂŽng biết nhường nhịn nhau, chĂșng tĂŽi cĂł tội lỗi gĂŹ mĂ  phải dời chỗ nĂ y đổi chỗ kia?” Những việc lĂ m nĂ y đủ nĂłi lĂȘn người ta trốn trĂĄnh trĂĄch nhiệm, khĂŽng bao giờ dĂĄm nhĂŹn thẳng những sĂĄi quấy lỗi lầm của mĂŹnh, tĂŹm cĂĄch đổ lỗi cho cĂĄi gĂŹ mĂ  khĂŽng thể cĂŁi lĂœ được với họ. Như thế dĂč họ cĂł sửa đổi trăm ngĂ n lần, lộn xộn vẫn lộn xộn, bất an vẫn bất an. VĂŹ cĂĄi chủ động trong việc bất an ấy, cĂł chịu sửa đổi đĂąu. Thế nĂȘn, người học đạo phải thấy rĂ” chỗ vĂŽ lĂœ nĂ y, khĂŽng nĂȘn lầm lẫn một cĂĄch tối dốt như vậy.

g) Đốt giấy tiền vĂ ng mĂŁ

Tục đốt giấy tiền vĂ ng mĂŁ lại lĂ  việc vĂŽ lĂœ trĂȘn vĂŽ lĂœ. KhĂŽng thể người cĂł đĂŽi chĂșt nhận xĂ©t, lĂœ luận mĂ  chấp nhận việc ấy được. ChĂ­nh trĂȘn thế gian nĂ y, đồng tiền của nước nĂ y mang sang nước khĂĄc cĂČn khĂł được chấp nhận, huống lĂ  nhĂąn gian in, xuống Ăąm phủ xĂ i, cĂł lĂœ lẽ gĂŹ tin được. Những chiếc lầu bằng giấy, quần ĂĄo bằng giấy, lĂ m xong đốt gởi xuống Ăąm phủ cho thĂąn nhĂąn dĂčng, quả lĂ  việc lĂ m phĂ­ của vĂŽ Ă­ch. Thử hỏi thĂąn nhĂąn họ lĂ  cĂĄi gĂŹ mĂ  chờ đốt quần ĂĄo gởi xuống. Họ đều lĂ  đồ vĂŽ chủ cĂŽ hồn hết sao? Hay họ đĂŁ theo nghiệp lĂ nh dữ mĂ  sanh nơi khĂĄc? Nếu lĂ  Phật tử cĂČn khĂŽng ai biết rĂ” Phật dạy: “ChĂșng sanh tĂčy nghiệp thiện ĂĄc, theo đĂł thĂĄc sanh nơi cĂ”i lĂ nh cĂ”i dữ.” ThĂąn nhĂąn chĂșng ta chết cũng theo nghiệp thọ sanh, chớ đĂąu ngồi chờ chĂșng ta gởi nhĂ  cửa ĂĄo quần xuống xĂ i. Như thế, việc lĂ m ấy vừa trĂĄi đạo lĂœ, vừa phĂ­ tổn tiền bạc vĂŽ Ă­ch. Người Phật tử khĂŽng bao giờ chấp nhận việc lĂ m mĂč quĂĄng ấy.

III.- TAI HẠI MÊ TÍN

a) QuĂ ng xiĂȘn khờ khạo

Người mĂȘ tĂ­n theo quỉ thần lĂ  tin một cĂĄch quĂ ng xiĂȘn khĂŽng cĂł căn cứ, khĂŽng cĂł lĂœ luận, tin bướng tin cĂ n, mất hết lĂœ trĂ­, trở thĂ nh con người khờ khạo. ĐĂł lĂ  hĂŹnh ảnh những người tin vĂ o ĂŽng đồng bĂ  bĂłng, xĂĄc cĂŽ xĂĄc cậu tạo nĂȘn. Tại sao họ như thế? Bởi vĂŹ họ gởi gấm tĂąm hồn vĂ o sự huyền bĂ­, vĂ o thế giới vĂŽ hĂŹnh, họ mất hết trĂ­ thĂŽng minh thực tế. CĂł khi họ gần như người điĂȘn nĂłi lảm nhảm một mĂŹnh, hoặc nĂłi những việc đĂąu đĂąu vĂŽ căn cứ...

b) Bị cột trĂłi, Ă­ch kỷ, tĂ n nhẫn

Người mĂȘ tĂ­n vĂ o lịch số, ngĂ y giờ, lĂ  kẻ bị cột trĂłi một cĂĄch thảm hại. Họ khĂŽng bao giờ dĂĄm quyết định, một việc lĂ m thĂ­ch hợp với thời biểu hiện tại. Họ đợi giờ lịch xem giờ tốt hay xấu, ngĂ y lĂ nh hay dữ. Thế rồi họ bị chết khĂŽ trong cĂĄi rọ ngĂ y giờ. Bởi quen lựa ngĂ y giờ tốt xấu, nĂȘn họ trở thĂ nh con người Ă­ch kỷ dễ sợ. CĂł những việc đĂĄng lĂ m ngay lĂșc đĂł để giĂșp người, họ lại sợ giờ xấu rồi khĂŽng chịu lĂ m. Cho đến việc ma chay cha mẹ, họ vẫn lựa ngĂ y tốt, giờ tốt để lợi cho con chĂĄu họ, khĂŽng nghĩ gĂŹ đến người chết. CĂł khi cĂČn dĂčng thuật trấn ếm, nếu cha mẹ họ chết nhằm ngĂ y trĂčng. Thật lĂ  tĂ n nhẫn, họ khĂŽng cĂČn chĂșt tĂŹnh thương đối với người chết. Mọi việc ma chay, chọn lựa ngĂ y giờ, họ đều một bề vĂŹ họ. Những người ấy lĂșc nĂ o họ cũng nơm nớp lo sợ, trĂȘn đầu trĂȘn cổ họ đĂŁ cột sẵn trăm ngĂ n mối dĂąy năm thĂĄng ngĂ y giờ, khĂŽng cho họ thong thả một phĂșt giĂąy nĂ o.

c) Khiếp nhược mất tự tĂ­n

Người tin vĂ o bĂłi xăm, sao hạn... lĂ  con người khiếp nhược mất tự; tĂ­n. Bởi khĂŽng tự tĂ­n nĂȘn lĂ m việc gĂŹ họ cũng phải đi hỏi thần, hỏi thĂĄnh. Họ lo Ăąu, sợ hĂŁi năm nĂ o gặp sao La Hầu, Kế ĐĂŽ. NhĂąn lĂ nh họ khĂŽng chịu tạo, nhĂąn dữ khĂŽng chịu trĂĄnh, mĂ  một bề sợ sao sợ hạn, quả lĂ  những con người mĂč mịt, tối tăm. Họ sợ những cĂĄi khĂŽng đĂĄng sợ, họ cầu những điều khĂŽng thể cầu, thật lĂ  oĂĄi ăm vĂŽ lĂœ. Người Phật tử thấy rĂ” lẽ tĂ  chĂĄnh ấy, can đảm quăng đi những tệ tục sai lầm, mới cĂł thể sống với tinh thần đạo giĂĄc ngộ.

IV.- CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN ?

Trong nhĂ  chĂča mỗi khi tụng kinh, mọi Phật sự đều cĂł cầu nguyện. Sự cầu nguyện nĂ y lĂ  chĂĄnh tĂ­n hay mĂȘ tĂ­n? CĂąu hỏi nĂ y khĂŽng thể trả lời một chiều, tĂčy chỗ hiểu biết của mỗi người, sự cầu nguyện lĂ  mĂȘ tĂ­n, cũng lĂ  chĂĄnh tĂ­n.

a) MĂȘ tĂ­n

Nếu chĂșng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyện đều được toại nguyện, đĂł lĂ  mĂȘ tĂ­n. VĂŹ sao? Bởi vĂŹ, nếu cầu nguyện mĂ  được, thĂŹ khĂŽng cần nĂłi đến nhĂąn quả nghiệp bĂĄo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhĂąn quả thĂŹ sự cầu nguyện khĂł mĂ  toại nguyện. Bởi lẽ, thế gian cĂł kẻ tạo nghiệp lĂ nh, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lĂ nh khi phước bĂĄo đến thĂŹ được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp bĂĄo đến, dĂč cĂł nguyện cầu cũng khĂł thoĂĄt khỏi quả khổ. Thế thĂŹ lĂ m sao dĂĄm cố định cầu nguyện lĂ  được như Ăœ. Người chấp cố định, lĂ  sai lầm khĂŽng hợp lĂœ, nĂȘn thuộc mĂȘ tĂ­n.

b) ChĂĄnh tĂ­n

ChĂșng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chĂșc lĂ nh lĂ  chĂĄnh tĂ­n. VĂŹ quĂ­ kĂ­nh cha mẹ, quĂ­ kĂ­nh người thĂąn, chĂșng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song cĂł được như nguyện hay khĂŽng, cĂČn tĂčy thuộc phước duyĂȘn dĂ y mỏng của những vị ấy. Mặc dĂč khĂŽng được như nguyện, cũng nĂłi lĂȘn được lĂČng hiếu thảo chĂąn thĂ nh của chĂșng ta. Cũng như vĂŹ hiếu kĂ­nh những người trưởng thượng, những bạn bĂš thĂąn hữu, đầu năm mọi người chĂșc lĂ nh cho nhau. Những lời chĂșc lĂ nh nĂ y khĂŽng hẳn thể hiện được, nhưng cũng nĂłi lĂȘn được lĂČng quĂ­ mến nhau.

Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đĂ­ch phĂĄ tan tĂąm niệm vị kỷ của mĂŹnh. Bất cứ một Phật sự nĂ o, chĂșng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chĂșng sanh đều thĂ nh Phật đạo. Mới nghe qua dường như những lời nguyện suĂŽng, khĂŽng thể thực hiện được. Song trĂȘn tinh thần phĂĄ ngĂŁ, cứ lập tới, lập lui mĂŁi tĂąm niệm vĂŹ tất cả chĂșng sanh, khiến người ta quĂȘn bẵng bản ngĂŁ riĂȘng tư của mĂŹnh. Mọi việc lĂ m đều khĂŽng phải vĂŹ mĂŹnh, khĂŽng được nghĩ lợi Ă­ch riĂȘng cho mĂŹnh, mĂ  phải vĂŹ nhĂąn loại, vĂŹ tất cả chĂșng sanh. Hằng ngĂ y cứ huĂąn tập mĂŁi tĂąm niệm nĂ y, đến một khi nĂ o đĂł, chĂșng ta khĂŽng cĂČn thấy bản ngĂŁ riĂȘng, đồng hĂła mĂŹnh vĂ  chĂșng sanh khĂŽng khĂĄc. Thế lĂ  chĂșng ta phĂĄ được chấp ngĂŁ vĂ  phĂĄt tĂąm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chĂ­nh mĂŹnh. Hiểu cầu nguyện vĂ  ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật lĂ  chĂĄnh tĂ­n.

V.- CHÁNH TÍN

a) Tin nhĂąn quả

Đứng về chiều thời gian, vạn vật hiện cĂł trong vũ trụ nĂ y, khĂŽng một vật nĂ o thoĂĄt ngoĂ i nhĂąn quả mĂ  được hĂŹnh thĂ nh. TrĂȘn tiến trĂŹnh sanh diệt, quyết hẳn vạn vật từ nhĂąn tiến đến quả, từ quả trở lại nhĂąn. NhĂąn quả, quả nhĂąn xoay vần khĂŽng dứt. ĐĂł lĂ  hiện tuợng sanh hĂła trĂȘn cĂ”i nhĂąn gian. Nghiệm xĂ©t thấu đĂĄo, chĂșng ta khĂŽng thấy cĂł một vật gĂŹ khĂŽng nhĂąn mĂ  cĂł, ngẫu nhiĂȘn mĂ  thĂ nh. Thấy rĂ” lĂœ nhĂąn quả, chĂșng ta khĂ©o uyển chuyển cĂĄi xấu trở thĂ nh tốt, cĂĄi dở trở thĂ nh hay. Thấy rĂ” lĂœ nhĂąn quả, chĂșng ta nắm chắc quyền tự chủ, tạo dựng tương lai tươi đẹp cho chĂ­nh mĂŹnh. LĂœ nhĂąn quả vừa lĂ  khoa học vừa lĂ  sức mạnh chuyển tiến của con người. TĂŹm hiểu tường tận lĂœ nhĂąn quả lĂ  người thĂŽng minh. Biết ứng dụng lĂœ nhĂąn quả lĂ  con người tiến bộ. Khảo sĂĄt theo nhĂąn quả lĂ  lĂœ luận chặt chẽ, lĂ  hiểu biết thấu đĂĄo. Cho nĂȘn nghiệm xĂ©t lĂœ nhĂąn quả tường tận rồi, chĂșng ta tin tưởng lĂ  chĂĄnh tĂ­n.

b) Tin nhĂąn duyĂȘn

Đứng về mặt khĂŽng gian, vạn vật trong vũ trụ đều do nhĂąn duyĂȘn hợp thĂ nh. KhĂŽng một vật nĂ o do một đơn vị lĂ m nĂȘn, mĂ  phải nhiều đơn vị hợp lại mới thĂ nh hĂŹnh. ChĂ­nh thế, lĂœ nhĂąn duyĂȘn thĂ­ch ứng với tinh thần phĂąn tĂ­ch của khoa học hiện nay. Nếu sự vật do một đơn vị lĂ m nĂȘn thĂŹ cĂČn gĂŹ phĂąn tĂ­ch. Bởi nhiều đơn vị hợp thĂ nh một vật thể, người ta mới phĂąn tĂ­ch chia ra nhiều đơn vị, nhiều loại. Nhỏ nhất như một nguyĂȘn tử, người ta phĂąn tĂ­ch trong đĂł vẫn cĂł nhiều phần hợp thĂ nh, huống lĂ  những vật thể to tĂĄt. Do đĂł, chĂșng ta thấy rĂ” lĂœ nhĂąn duyĂȘn nhĂ  Phật nĂłi, lĂ  một lẽ thật, đĂșng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lĂœ nhĂąn duyĂȘn, chĂșng ta phĂĄ tan cĂĄi chấp lầm vĂŽ nhĂąn vĂ  nhất nhĂąn. Hiểu được lĂœ nhĂąn duyĂȘn, chĂșng ta thấy rĂ” muĂŽn vật trĂȘn thế gian cĂł sự liĂȘn quan chằng chịt với nhau. ChĂșng ta khĂŽng thể tĂĄch một cĂĄ thể đứng ngoĂ i tập thể, một cĂĄ nhĂąn đứng ngoĂ i nhĂąn loại. ĐĂąy lĂ  lĂœ do khiến dẹp được quan niệm cĂĄ nhĂąn Ă­ch kỷ. ChĂșng ta tĂ­ch cực xĂąy dựng nĂȘn hạnh phĂșc chung cho nhĂąn loại, khĂŽng riĂȘng của một cĂĄ nhĂąn. Tin lĂœ nhĂąn duyĂȘn lĂ  tin bằng trĂ­ tuệ, bằng khoa học, cho nĂȘn chĂĄnh tĂ­n.

VI.- LỢI ÍCH CHÁNH TÍN

a) TrĂ­ tuệ

Nhận rĂ” lĂœ nhĂąn quả, lĂœ nhĂąn duyĂȘn lĂ  tĂĄc dụng của trĂ­ tuệ. ChĂ­nh do nhận xĂ©t thấu đĂĄo, phĂąn tĂ­ch rĂ nh mạch, khiến trĂ­ tuệ cĂ ng ngĂ y cĂ ng phĂĄt triển. Nếu một đối tượng trước mắt, chĂșng ta cứ thầm nhận lĂ  tự nhiĂȘn nĂł cĂł, do tạo hĂła lĂ m nĂȘn, thế lĂ  cĂČn gĂŹ phải nhận xĂ©t, phải phĂąn tĂ­ch. Cứ thế mĂŁi, trĂ­ tuệ sẽ cĂčn mằn, khĂŽng thể nĂ o bĂ©n nhạy được. ĐĂł lĂ  cĂĄi cớ khiến người ta lười suy xĂ©t, lĂąu ngĂ y trở thĂ nh tĂąm trĂ­ Ăč lỳ chai cứng. Người Phật tử phải sống bằng trĂ­ tuệ, nĂȘn thấy rĂ” vạn vật sanh thĂ nh hoại diệt đều nằm trong hệ thống nhĂąn quả, nhĂąn duyĂȘn. Sự vật hiện cĂł mĂ  khĂŽng do nhĂąn quả, nhĂąn duyĂȘn lĂ  phi lĂœ luận, phản khoa học. VĂŹ thế ng&#432;ời chĂĄnh tĂ­n lĂ  người thực tế, khoa học, nhận xĂ©t bằng trĂ­ tuệ.

b) Chịu trĂĄch nhiệm

ThĂąm đạt lĂœ nhĂąn quả nhĂąn duyĂȘn, người ấy sẽ nhận lấy trĂĄch nhiệm nĂȘn hư, hay dở, tốt xấu đều do mĂŹnh. MĂŹnh lĂ  chủ động gĂąy thĂ nh nhĂąn tốt, tạo ra duyĂȘn lĂ nh. Mọi việc đều khĂŽng được tốt lĂ nh lĂ  do mĂŹnh khĂŽng chịu gĂąy tạo, đĂąy lĂ  lỗi tại mĂŹnh nĂ o phải tại ai. Biết thế, chĂșng ta khĂŽng trốn trĂĄnh, khĂŽng kĂȘu than, trĂĄi lại can đảm chấp nhận để rồi xoay chuyển. Bởi nhận rĂ” nhĂąn quả nhĂąn duyĂȘn, chĂșng ta xĂ©t một sự kiện xảy ra tốt xấu, phĂĄt xuất từ nhĂąn nĂ o, hội đủ nhĂąn duyĂȘn gĂŹ mới xảy ra như thế. Thế thĂŹ dĂč cĂł việc dở việc hay, chĂșng ta đều thấy rĂ” khĂŽng lầm. ChĂșng ta nỗ lực cố gắng tạo điều kiện để chuyển đổi nĂł. Chịu trĂĄch nhiệm để chuyển đổi, khĂŽng phải chịu trĂĄch nhiệm để thĂŽng qua, đĂł lĂ  tinh thần của người chĂĄnh tĂ­n.

c) Tự tĂ­n

Biết rĂ” dở hay do mĂŹnh, quả thật mĂŹnh lĂ  chủ nhĂąn của mọi thĂ nh bại. Đau khổ an vui, chĂ­nh mĂŹnh lĂ  người tạo ra. NgĂ y mai tươi sĂĄng, ngĂ y mai tối tăm, ta lĂ  người chủ động. Do thấu hiểu lĂœ nhĂąn quả nhĂąn duyĂȘn, con người sẽ cĂł sức tự tĂ­n mĂŁnh liệt. Nhờ sức tự tĂ­n, con người mới cố gắng chuyển đổi, vươn lĂȘn trong mọi lĂŁnh vực. Một dĂąn tộc cĂł đức tự tĂ­n, khĂŽng bao giờ cam chịu khuất phục, chậm tiến. CĂł tự tĂ­n lĂ  cĂł một sức mạnh phi thường. CĂł tự tĂ­n, sự tu hĂ nh mới khĂŽng thối chuyển.

VII.- KẾT LUẬN

MĂȘ tĂ­n vĂ  chĂĄnh tĂ­n lĂ  hai con đường tối sĂĄng khĂĄc nhau. Nếu đi bĂȘn tối lĂ  khĂŽng thấy bĂȘn sĂĄng, nếu đi bĂȘn sĂĄng thĂŹ khĂŽng kẹt trong tối. Đạo Phật chủ trương chĂĄnh tĂ­n, khĂŽng bao giờ chấp nhận mĂȘ tĂ­n. Do vĂŹ người truyền đạo khĂŽng thĂŽng lĂœ đạo, nĂȘn ghĂ©p những tập tục thế gian vĂ o trong đạo, khiến người ta hiểu lầm đạo Phật mĂȘ tĂ­n. Bản chất của đạo Phật lĂ  trĂ­ tuN79;, lĂ  giĂĄc ngộ, lĂ m sao dung nạp được mĂȘ tĂ­n. Nếu người ta thấy trong chĂča chiền hiện nay cĂČn những hiện tượng mĂȘ tĂ­n, vội phĂȘ bĂŹnh đạo Phật mĂȘ tĂ­n. ĐĂąy lĂ  những oan tĂŹnh của đạo Phật. Tất cả những kinh Phật khĂŽng cĂł nĂłi những việc mĂȘ tĂ­n ấy, chẳng qua một số người vĂŹ tĂčy tục, vĂŹ thiếu hiểu Phật phĂĄp vẽ bĂ y ấy thĂŽi. Người học Phật chĂąn chĂĄnh phải gan dạ loại bỏ những tập tục sai lầm ấy, can đảm dứt khoĂĄt đập tan mọi tệ đoan lĂ m suy giảm giĂĄ trị Phật phĂĄp. CĂł khi dẹp bỏ những điều đĂł, cĂł thể thiệt thĂČi chĂșt Ă­t quyền lợi của mĂŹnh. Song chĂșng ta cương quyết vĂŹ chĂĄnh phĂĄp, chớ khĂŽng vĂŹ lợi dưỡng, vĂŹ đưa người ra khỏi đường mĂȘ, khĂŽng vĂŹ sợ mất mĂĄt bản đạo.  Được thế, chĂșng ta mới xứng đĂĄng lĂ  người lĂŁnh đạo tĂ­n đồ, mới khĂŽng hổ thẹn lĂ  hĂ ng Tăng Bảo.

TỘI PHƯỚC

I.- MỞ ĐỀ

NĂłi đến tu hĂ nh lĂ  nĂłi đến tội phước, nếu khĂŽng rĂ” tội phước tức lĂ  khĂŽng rĂ” sự tu hĂ nh. Nếu người tu mĂ  cứ lao mĂŹnh trong tội lỗi, ấy lĂ  người tạo tội chớ khĂŽng phải lĂ  người tu hĂ nh. Mọi sự an vui vĂ  đau khổ gốc từ tội phước mĂ  sanh ra. VĂŹ thế muốn thấu hiểu sự tu hĂ nh chĂșng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước lĂ  những hĂ nh động thiết thực trong cuộc sống nĂ y, khĂŽng phải lĂ  chuyện siĂȘu huyền mờ ảo đĂąu đĂąu. Thế nĂȘn người tu hĂ nh phải thấu đĂĄo phải phĂąn rĂ nh vấn đề tội phước.

II.- THẾ NÀO LÀ TỘI ?

Tội lĂ  hĂ nh động lĂ m cho mĂŹnh vĂ  người đau khổ trong hiện tại vĂ  vị lai. Người lĂ m tội cũng gọi lĂ  người dữ, người xấu. Tội, cĂł tội ngoĂ i đời vĂ  tội trong đạo. Tội ngoĂ i đời lĂ  những kẻ phạm luật phĂĄp nhĂ  nước, bị tĂč đĂ y đau khổ. Tội trong đạo cĂł hai loại: tội do hứa nguyện gĂŹn giữ mĂ  khĂŽng giữ, tội lĂ m đau khổ chĂșng sanh. Tội do hứa nguyện gĂŹn giữ mĂ  khĂŽng giữ, như trước nhận giữ năm giới hoặc mười giới lĂ  điều cao cả quĂ­ bĂĄu, ở trước Tam Bảo nguyện trọn đời gĂŹn giữ, mĂ  sau nĂ y khĂŽng giữ được một hoặc nhiều điều, gọi lĂ  tội phạm giới. Tại sao phạm giới gọi lĂ  tội? Bởi vĂŹ trước mĂŹnh đĂŁ nhận định những giới luật đĂł lĂ  hay lĂ  đĂșng, nếu giữ được sẽ lợi Ă­ch cho mĂŹnh vĂ  chĂșng sanh, nĂȘn nguyện gĂŹn giữ. Sau nĂ y mĂŹnh khĂŽng gĂŹn giữ, thế lĂ  đĂŁ phĂĄ hoại sự lợi Ă­ch của mĂŹnh vĂ  của chĂșng sanh nĂȘn phạm tội. ThĂ­ dụ như giới ăn trộm chẳng hạn. Bất cứ một hĂ nh động nĂ o lĂ m khổ cho người hiện tại hoặc mai kia đều lĂ  tội. Bởi vĂŹ mĂŹnh đĂŁ gĂąy ra nhĂąn đau khổ thĂŹ quả đau khổ mĂŹnh phải lĂŁnh lấy. Do lĂ m khổ mĂŹnh khổ người nĂȘn gọi lĂ  tội. Tội cĂł tội nhẹ vĂ  tội nặng.

a) Tội nhẹ

Những điều lĂ m đau khổ cho người cho chĂșng sanh do thĂąn miệng chĂșng ta gĂąy ra mĂ  khĂŽng cộng tĂĄc với Ăœ lĂ  tội nhẹ. Bởi vĂŹ việc lĂ m ấy lĂ  vĂŽ tĂąm, hoặc khĂŽng cĂł Ăœ thức. Việc lĂ m vĂŽ tĂąm, khi nạn nhĂąn cảm thĂŽng được, họ sẽ bớt thĂč hận, nếu họ đại lượng cĂł thể tha thứ luĂŽn. ThĂ­ dụ chĂșng ta đi đường, cĂł đứa bĂ© cầm hĂČn đất nĂ©m chơi, lại trĂșng vĂ o chĂșng ta. Nếu chĂșng ta biết nĂł khĂŽng cĂł Ăœ nĂ©m mĂŹnh, tuy đau điếng mĂ  chĂșng ta khĂŽng giận nĂł. Thế nĂȘn mọi hĂ nh động bằng thĂąn bằng miệng lĂ m đau khổ cho người mĂ  khĂŽng cĂł Ăœ thức lĂ  tội nhẹ, xin lỗi hoặc sĂĄm hối sẽ hết. Việc lĂ m đau khổ chĂșng sanh chĂșt Ă­t cũng lĂ  tội nhẹ.

b) Tội nặng

Những điều lĂ m đau khổ cho người cho chĂșng sanh do thĂąn miệng cộng tĂĄc với Ăœ chĂșng ta gĂąy ra lĂ  tội nặng.

Bởi vĂŹ việc lĂ m ấy lĂ  cĂł cố tĂąm, cĂł hữu Ăœ, khiến người oĂĄn giận khĂŽng thể tha thứ. ThĂ­ dụ như cĂł người cố tĂŹnh đĂĄnh chĂșng ta, dĂč cĂĄi đĂĄnh ấy bị cản trở khĂŽng chạm đến thĂąn chĂșng ta song biết kẻ ấy cố tĂŹnh đĂĄnh mĂŹnh, chĂșng ta cũng giận họ đời đời. VĂŹ thế hĂ nh động cố tĂąm, hữu Ăœ lĂ  hĂ nh động quan trọng nĂȘn tạo thĂ nh tội nặng.

Thế nĂȘn tội phĂĄt xuất từ ba nghiệp chĂșng ta. Nơi thĂąn: giết người, trộm cướp, tĂ  dĂąm. Nơi miệng: nĂłi dối, nĂłi hai lưỡi, nĂłi thĂȘu dệt, nĂłi hung ĂĄc. Nơi Ăœ: tham, sĂąn vĂ  tĂ  kiến. Sự hợp tĂĄc chặt chẽ của ba nghiệp nĂ y lĂ  tội nặng.

III.- THẾ NÀO LÀ PHƯỚC ?

Phước lĂ  những hĂ nh động đem lại sự an vui cho mĂŹnh, cho người ở hiện tại vĂ  mai kia. Người lĂ m phước cũng gọi lĂ  người lĂ nh, người tốt. Bởi vĂŹ những hĂ nh động đem lại sự an vui cho người, người sẽ quĂ­ mến. ChĂ­nh sự quĂ­ mến ấy nĂȘn gặp nhau vui vẻ vĂ  sẵn sĂ ng giĂșp đỡ nhau. ChĂșng ta giĂșp đỡ hoặc an ủi khiến người được an vui, người thĂč đĂĄp lại chĂșng ta bằng cử chỉ biết ơn vui vẻ quĂ­ mến, đĂł lĂ  lĂ m phước gặp phước. VĂŹ thế người biết lĂ m phước hiện tại được an vui, mai sau vẫn an vui. LĂ m phước cĂł hai thứ: phước hữu lậu vĂ  phước vĂŽ lậu.

A) Phước hữu lậu

LĂ m cho mĂŹnh cho người an vui tương đối trong vĂČng sanh tử lĂ  phước hữu lậu. Do ba nghiệp chĂșng ta hoạt động đem lại sự an vui cho người, chĂ­nh hĂ nh vi ấy lĂ  sanh diệt giới hạn, cĂČn trong vĂČng sanh tử hiện tại cũng như mai sau. ChĂșng ta phải nỗ lực tạo điều kiện cho mĂŹnh vĂ  mọi người thường được an vui. Muốn thực hiện được việc đĂł, ngay nơi ba nghiệp chĂșng ta phải ứng dụng cĂĄc điều nĂ y:

1. Về thĂąn

a) Cứu mạng: ChĂșng ta phải sẵn sĂ ng cứu giĂșp bảo vệ sanh mạng người. Nếu người gặp tai nạn sắp mất mạng, theo khả năng mĂŹnh, chĂșng ta tận tĂąm cứu giĂșp. Giải cứu cho người thoĂĄt chết, hoặc ngừa đĂłn những sự việc cĂł thể lĂ m nguy hiểm đến sanh mạng người, đĂł lĂ  việc lĂ m phước của thĂąn. Bởi vĂŹ sanh mạng đối với con ngư901;i lĂ  tối thượng, cho nĂȘn ai giải cứu khỏi chết, lĂ  an vui vĂ  biết ơn vĂŽ kể.

b) Bố thĂ­: Kế đến, sẵn sĂ ng cứu giĂșp người khi gặp cảnh cơ hĂ n nguy khốn. Nỗi khổ đĂłi rĂ©t cũng đe dọa đến sanh mạng, người đang lĂąm vĂ o cảnh khổ nĂ y, nếu được cứu giĂșp, họ cũng vui mừng vĂŽ hạn. ChĂșng ta muốn được an vui thĂŹ phải sẵn sĂ ng mang sự an vui bủa khắp mọi người, đĂł lĂ  nền tảng phước đức. Hạnh phĂșc khĂŽng phải đến riĂȘng với chĂșng ta, mĂ  do sự thĂč đĂĄp từ hạnh phĂșc của mọi người mang lại. ChĂșng ta đừng dại khờ cứ bo bo giữ lấy tĂ i sản vĂŽ thường lĂ m của riĂȘng mĂŹnh, cần phải ban bố cho những người đang thiết tha cần nĂł. Những cĂĄi vĂŽ thường mĂ  cứ giữ, cĂł ngĂ y sẽ khổ đau khi nĂł khĂŽng cĂČn ở trong tầm tay mĂŹnh nữa. Mượn của cải vĂŽ thường lĂ m phương tiện an vui cho người, nguồn an vui ấy sẽ trở về với chĂșng ta một cĂĄch bền vững lĂąu dĂ i.

c) Trinh bạch: Cần phải giữ hạnh trung thĂ nh trinh bạch. Người biết đạo lĂœ đĂŁ khĂŽng dĂĄm xĂąm phạm đến danh giĂĄ vĂ  hạnh phĂșc của gia đĂŹnh người, cĂČn phải trung thĂ nh trinh bạch với gia đĂŹnh mĂŹnh. Tinh thần trung trinh ấy giĂșp cho người trong gia đĂŹnh tĂ­n cẩn lẫn nhau. Do sự tĂ­n cẩn nhau nĂȘn trong gia đĂŹnh được sự an ổn vui tươi. Trong gia đĂŹnh đĂŁ thế, chĂșng ta cần nhắc nhở chỉ dạy cho mọi người chung quanh đều tập hạnh trung trinh nĂ y. Được thế, sự an vui khĂŽng những chỉ ở trong phạm vi gia đĂŹnh, mĂ  trĂ n lẫn đến xĂŁ hội.

2. Về miệng

Tu phước ở miệng phải tập bốn điều nĂ y:

a) NĂłi chĂąn thật: NĂłi chĂąn thật để đem lại niềm tin tưởng an ổn cho người. Bất cứ ở trường hợp nĂ o, chĂșng ta cũng cố gắng nĂłi lĂȘn những lẽ thật. LuĂŽn luĂŽn tĂŽn trọng vĂ  yĂȘu chuộng lẽ thật, cho nĂȘn phĂĄt ngĂŽn lĂșc nĂ o cũng hợp với sự thật. ChĂąn thật lĂ  nguồn gốc tin yĂȘu nhau, do đĂł mọi sự mến thương được bền bỉ.

c) NĂłi đĂșng lĂœ: NĂłi đĂșng lĂœ để giĂșp mọi người nhận được lẽ chĂĄnh. Trong cuộc sống phức tạp nĂ y khiến mọi người khĂł tĂŹm được con đường chĂĄnh. Cho nĂȘn chĂșng ta cố gắng nĂłi ra lời đĂșng lĂœ, hầu lĂ m sĂĄng tỏ mọi chỗ ngờ vực của người. Sống đĂșng, nĂłi đĂșng, thật lĂ  sự hi hữu trong cuộc đời hỗn độn hiện nay. ChĂșng ta mĂŁi tĂŽn trọng cĂąu “mặc người phi phĂĄp, chĂșng ta vẫn giữ đĂșng phĂĄp”.

c) NĂłi hĂČa thuận: NĂłi hĂČa thuận để đem lại tĂŹnh đoĂ n kết cho mọi người. Tất cả việc lĂ m phĂąn ly chia rẽ đều lĂ  tạo nĂȘn thống khổ cho con người. ChĂșng ta đĂŁ khĂŽng lĂ m thế, mĂ  luĂŽn luĂŽn dĂčng lời hĂČa thuận để hĂ n gắn lại những mối tĂŹnh đĂŁ rạn nứt. NgĂŽn ngữ chĂșng ta phĂĄt ra đều đem lại tĂŹnh thương gắn bĂł cho mọi người. Thấy đĂąu cĂł sự rạn nứt, cĂł mầm tan rĂŁ, chĂșng ta đều nỗ lực dĂčng lời hĂČa thuận lĂ  chất keo hĂ n gắn lại. Tận dụng ngĂŽn ngữ mĂŹnh để đem lại tĂŹnh đoĂ n kết an vui cho nhĂąn loại.

d) NĂłi nhĂŁ nhặn: NĂłi nhĂŁ nhặn để đem lại sự ĂŽn hĂČa vui vẻ cho người. Mọi sự căm phẫn, bực tức đều lĂ m cho người đau khổ. ChĂșng ta tập nĂłi nhĂŁ nhặn lĂ  lĂ m dịu mọi sự bực dọc của người. Lời nĂłi nhĂŁ nhặn khiến người dễ mến vĂ  vui vẻ. Trọn đời chĂșng ta đem lại sự an vui cho chĂșng sanh, khĂŽng cĂł lĂœ do nĂ o lại dĂčng lời thĂŽ ĂĄc. ChĂșng ta phải thực hiện lời nhĂŁ nhặn mĂŁi mĂŁi với mọi người.

3. Về Ăœ

ChĂșng ta phải tập từ bi, nhẫn nhục vĂ  chĂĄnh kiến. Mang lại tĂŹnh thương cho chĂșng sanh lĂ  tiĂȘu diệt mầm tham lam độc ĂĄc. Nỗi khổ của chĂșng sanh ngập trời đều do lĂČng tham ĂĄc của con người tạo nĂȘn. ChĂșng ta tận lực gĂąy dựng tĂŹnh thương để giảm thiểu đau khổ cho chĂșng sanh. Tập lĂČng nhẫn nhục để chịu đựng mọi cảnh ngang trĂĄi mĂ  khĂŽng sanh sĂąn hận. CĂł nhẫn nhục được, chĂșng ta mới giữ được tĂŹnh thương lĂąu dĂ i với chĂșng sanh. ChĂĄnh kiến lĂ  nhận định đĂșng đắn, đưa chĂșng ta đi đĂșng hướng, sĂĄng suốt vui tươi. Do chĂĄnh kiến mới cĂł nĂłi đĂșng, lĂ m đĂșng. Ba nghiệp tạo phước, chĂĄnh kiến lĂ  đội binh tiĂȘn phong. TĂłm lại, ba nghiệp lĂ m mười điều trĂȘn lĂ  tu phước hữu lậu. Phước nĂ y khiến chĂșng ta qua lại trĂȘn con đường an vui tươi đẹp. Mặc dĂč cĂČn tương đối sanh tử, song đến đĂąu cũng lĂ  hĂ i lĂČng mĂŁn Ăœ.

B) Phước vĂŽ lậu

Phước vĂŽ lậu lĂ  sự an vui tuyệt đối khĂŽng giới hạn. Do thoĂĄt ly sanh tử  nĂȘn an vui miĂȘn viễn. Bởi sự an vui nĂ o mĂ  cĂČn sanh tử đều tạm bợ đối đĂŁi. Chỉ cĂł tiĂȘu diệt hết mầm sanh tử, an trụ vĂŽ sanh, mới lĂ  an vui viĂȘn mĂŁn. Tu phước vĂŽ lậu lĂ  chĂșng ta nhắm hướng vĂŽ sanh lĂ m mục đĂ­ch, hĂ ng ngĂ y buĂŽng xả cĂĄi chủ động sanh diệt vĂ  dĂčng trĂ­ thấy rĂ” cĂĄc tướng giả dối sanh diệt, khĂŽng lầm, khĂŽng kẹt nĂł. Cứ thế tiến mĂŁi, cho đến bao giờ viĂȘn mĂŁn mới thĂŽi. MĂŹnh lĂ m như vậy, chỉ dạy người lĂ m như vậy lĂ  tu phước vĂŽ lậu.

IV.- CẦN TRÁNH TỘI LÀM PHƯỚC

a) TrĂĄnh tội

ĐĂŁ biết tội lĂ  nhĂąn khổ đau bất như Ăœ, chĂșng ta cố gắng trĂĄnh đừng gĂąy nĂȘn tội. Cuộc đời đĂŁ khổ đau lắm rồi, chĂșng ta khĂŽng thể lĂ m cho nĂł tươi đẹp, Ă­t ra cũng đừng tĂŽ thĂȘm cho đậm nĂ©t khổ đau. TrĂĄnh gĂąy khổ đau cho người tức lĂ  trĂĄnh tạo khổ cho mĂŹnh. CĂł ai ngu dại đến nỗi lấy dĂąy tự trĂłi, lấy roi tự đĂĄnh, để rồi kĂȘu khĂłc thở than. Mầm khổ đau khĂŽng gieo thĂŹ cĂąy khổ đau lĂ m sao đĂąm chồi nảy lộc. Biết thế, chĂșng ta dĂš dặt tối đa trong việc gieo nhĂąn đau khổ. DĂč một tội nhỏ, trĂĄnh được, chĂșng ta cũng cố gắng trĂĄnh. Như trong Luật nĂłi: “Giọt nước tuy nhỏ, rơi mĂŁi cũng đầy chậu lớn.” Người biết sợ tội lĂ  người sẽ khỏi tội. Chỉ cĂł kẻ liều mạng xem thường tội lỗi, cĂ ng lĂșn sĂąu trong tội lỗi. ĐĂŁ cĂł tội lỗi lĂ  cĂł khổ đau, như cĂł hĂŹnh thĂŹ cĂł bĂłng, cĂł tiếng thĂŹ cĂł vang. Người học đạo phải sĂĄng suốt thấy rĂ” lĂœ lẽ ấy, để khĂŽng lầm, lĂ m khổ mĂŹnh khổ người.

b) LĂ m phước

Hạnh phĂșc an vui lĂ  điều ai cũng ước mơ, mong mỏi. Người học đạo khĂŽng ước mơ mong mỏi suĂŽng, phải thực tế gầy dựng hạnh phĂșc cho người tức lĂ  gầy dựng hạnh phĂșc cho mĂŹnh. Hạnh phĂșc khĂŽng thể ngẫu nhiĂȘn đến với chĂșng ta, mĂ  do cĂŽng phu bồi đắp. Một hĂ nh động, một lời nĂłi, một Ăœ nhiệm mầu đem an vui lại cho người, chĂ­nh lĂ  gĂąy dựng hạnh phĂșc cho ta. Trong cuộc đời tương phản, kẻ buĂŽng xả hết lại lĂ  người được nhiều nhất. Ngược lại, người cố giữ gĂŹn lại lĂ  người mất mĂĄt nhất. Tạo hạnh phĂșc cho mĂŹnh, khĂŽng phải bo bo gĂŹn giữ những cĂĄi gĂŹ của mĂŹnh mĂ  phải xả bỏ cĂĄi của mĂŹnh, tạo cho người an vui. ChĂșng ta lĂ m cho trăm ngĂ n người an vui, quả thực đĂŁ tạo trăm ngĂ n điều an vui cho chĂșng ta. VĂŹ thế lĂ m phước khĂŽng bao giờ thấy đủ, chĂșng ta lĂ m mĂŁi đến suốt đời, mĂ  vẫn thấy chưa xong. CĂł một lần đức Phật đang ngồi trong một tịnh xĂĄ, ở phĂČng khĂĄc ngĂ i A-na-luật đang xỏ kim vĂĄ y, vĂŹ mắt khĂŽng tỏ, NgĂ i xỏ hoĂ i mĂ  chẳng được. NgĂ i buột miệng than: “CĂł ai mắt sĂĄng lĂ m phước xỏ kim hộ tĂŽi.” Đức Phật nghe, NgĂ i đi đến chỗ A-na-luật bảo: “A-na-luật! Đưa kim ta xỏ hộ”. Thế TĂŽn đầy đủ vĂŽ lượng phước đức, mĂ  cĂČn mĂłt từ cĂĄi phước xỏ kim. Thử hỏi chĂșng ta lĂ  người gĂŹ mĂ  khĂŽng cố gắng lĂ m phước? Phước cĂ ng to thĂŹ an vui cĂ ng lắm, cĂł thiệt thĂČi gĂŹ đĂąu mĂ  khĂŽng chịu lĂ m!

V.- KẾT LUẬN

Tội phước lĂ  điều thực tế trĂȘn cĂ”i nhĂąn gian. Cổ động khuyến khĂ­ch người trĂĄnh tội lĂ  hĂ nh động giảm thiểu khổ đau cho nhĂąn loại. TĂĄn thĂĄn ca ngợi lĂ m phước lĂ  mang lại hạnh phĂșc an vui cho chĂșng sanh. LĂœ đĂĄng mọi người chĂșng ta đều tận lực lĂ m điều nĂ y. VĂŽ lĂœ những kẻ đĂŁ khĂŽng lĂ m, lại cĂŽng kĂ­ch người khĂĄc lĂ m. CĂČn ai khĂŽng xĂłt xa khi thấy con người sĂĄt phạt con người. Người cĂł lương tĂąm, đầy lĂČng trắc ẩn khĂŽng thể ngĂł lơ trước huynh đệ tương tĂ n. Cho nĂȘn trĂĄnh tội lĂ m phước lĂ  điều mỗi con người chĂșng ta phải ứng dụng. Biết t897;i phước lĂ  cội nguồn của đạo đức. Song chĂșng ta đừng bị phỉnh gạt bằng những tội phước rỗng. Tội lĂ  cấy mầm đau khổ nơi con người, phước lĂ  gieo hạt hạnh phĂșc cho chĂșng sanh. Thực tế như vậy, khĂŽng phải việc huyễn hoặc viễn vĂŽng.

NGHIỆP  BÁO

I.- MỞ ĐỀ

Mọi việc khổ vui trong kiếp hiện tại của chĂșng ta đều do nghiệp quĂĄ khứ vĂ  hiện tại chi phối. Nghiệp lĂ nh thĂŹ được vui, nghiệp ĂĄc thĂŹ chịu khổ, chĂșng ta chỉ biết sợ khổ, cầu vui mĂ  khĂŽng biết trĂĄnh nghiệp ĂĄc, tạo nghiệp lĂ nh. Thế chẳng khĂĄc nĂ o kẻ sợ bĂłng mĂ  cứ đứng ngoĂ i trời nắng, muốn nghe nhạc mĂ  bịt lỗ tai. Một khi nghiệp quả đến, chĂșng ta dĂč muốn dĂč khĂŽng, tất nhiĂȘn cũng phải chịu. Bởi nĂł lĂ  kết quả do hĂ nh động của chĂ­nh mĂŹnh đĂŁ tạo. MĂŹnh lĂ m, rồi mĂŹnh chịu, đĂł lĂ  lẽ cĂŽng bằng hợp lĂœ của kiếp người.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Nghiệp bĂĄo nĂłi đủ lĂ  nghiệp quả bĂĄo ứng. Bởi vĂŹ nghiệp nhĂąn chĂșng ta đĂŁ gĂąy thĂŹ nghiệp quả phải đến. Sự bĂĄo đĂĄp thĂč ứng cĂąn xứng nhau giữa nghiệp nhĂąn vĂ  nghiệp quả. Trước tiĂȘn chĂșng ta cần biết chữ nghiệp.

a) Nghiệp: lĂ  dịch nghĩa chữ Karma tiếng Phạn, chỉ hĂ nh động tạo tĂĄc theo thĂłi quen của mỗi người. Nghiệp cĂł nghiệp thiện, nghiệp ĂĄc, định nghiệp, bất định nghiệp... Nghiệp thiện lĂ  hĂ nh động lĂ nh đem lại sự an lạc cho chĂșng sanh. Nghiệp ĂĄc lĂ  hĂ nh động dữ lĂ m đau khổ chĂșng sanh. Định nghiệp lĂ  hĂ nh động hoặc lĂ nh hoặc dữ cĂł cộng tĂĄc với Ăœ thức tạo thĂ nh nghiệp quyết định. Bất định nghiệp lĂ  hĂ nh động hoặc lĂ nh hoặc dữ khĂŽng cộng tĂĄc với Ăœ thức nĂȘn thĂ nh nghiệp khĂŽng quyết định.

b) BĂĄo: lĂ  đền trả một cĂĄch cĂŽng bằng, khĂŽng sai chạy, khĂŽng tiĂȘu mất. ChĂșng ta cĂł hĂ nh động lĂ nh hay dữ, kết quả của hĂ nh động ấy sẽ đến, hoặc sớm hay muộn thĂŽi. ThĂ­ dụ chĂșng ta mắng chửi người lĂ  hĂ nh động dữ, người ấy sẽ mắng chửi lại ngay khi đĂł, hoặc thời gian khĂĄc, khĂł trĂĄnh khỏi. Sự thĂč đĂĄp cĂąn xứng gọi lĂ  bĂĄo. BĂĄo cĂł chia ba thứ: hiện bĂĄo, sanh bĂĄo vĂ  hậu bĂĄo. Hiện bĂĄo lĂ  quả bĂĄo hiện tại, những hĂ nh động lĂ nh hay dữ ngay trong đời nĂ y chịu quả bĂĄo. Sanh bĂĄo lĂ  quả bĂĄo đời sau, hĂ nh động tốt xấu của ba nghiệp, đến đời sau mới chịu quả bĂĄo. Hậu bĂĄo lĂ  về sau lĂąu xa mới chịu quả bĂĄo. VĂ­ như vĂ o đầu mĂča mưa, chĂșng ta đồng thời gieo trồng hạt đậu phộng, trồng cĂąy chuối, trồng cĂąy mĂ­t. Đến ba thĂĄng sau, chĂșng ta được kết quả cĂł đậu phộng. Sang năm, chĂșng ta mới kết quả cĂł chuối. Song ba bốn năm sau, chĂșng ta mới được kết quả cĂł mĂ­t. Như thế, hĂ nh động đồng thời mĂ  kết quả sai biệt, tĂčy loại khĂĄc nhau. Nếu chĂșng ta đĂČi hỏi ba thứ phải kết quả đồng thời lĂ  ngu xuẩn.

III.- TỪ ĐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP ?

Nghiệp từ thĂąn, miệng, Ăœ chĂșng ta tạo nĂȘn. Bởi thĂąn miệng Ăœ chĂșng ta lĂ m lĂ nh, nĂłi lĂ nh, nghĩ lĂ nh nĂȘn tạo thĂ nh nghiệp lĂ nh. ThĂąn miệng Ăœ chĂșng ta lĂ m dữ, nĂłi dữ, nghĩ dữ tạo thĂ nh nghiệp dữ. Thế nĂȘn, chĂșng ta chủ nhĂąn tạo nghiệp cũng chĂ­nh chĂșng ta lĂ  chủ nhĂąn thọ bĂĄo. Ngang đĂąy chĂșng ta hĂŁnh diện đĂŁ thoĂĄt khỏi mọi quyền lực thiĂȘng liĂȘng ban họa xuống phước. ChĂșng ta cũng hiĂȘn ngang thọ nhận tất cả quả khổ vui, mĂ  khĂŽng cĂł một lời oĂĄn hờn than trĂĄch. ChĂșng ta khĂŽn ngoan biết chọn lựa nghiệp nhĂąn nĂ o mĂŹnh thĂ­ch mĂ  lĂ m, khĂŽng cĂČn mĂč quĂĄng lĂ m cĂ n bướng. ĐĂąy lĂ  sự trưởng thĂ nh, khi rĂ” nghiệp từ đĂąu cĂł.

IV.- TỪ ĐÂU CÓ BÁO ỨNG ?

Sự bĂĄo ứng cũng chĂ­nh nơi mĂŹnh hiện ra. Mỗi khi chĂșng ta tạo nghiệp lĂ nh hay dữ, mắt chĂșng ta thấy cảnh ấy, tai chĂșng ta nghe tiếng ấy, hạt giống lĂ nh dữ ấy đĂŁ rơi vĂ o tĂ ng thức chĂșng ta. Kẻ đối tượng bị chĂșng ta lĂ m khổ vui cũng thế, do mắt thấy, tai nghe nĂȘn hạt giống biết ơn hay thĂč hằn đĂŁ rơi vĂ o tĂ ng thức của họ. Khi nĂ o đĂł, cả hai gặp lN41;i nhau thĂŹ hạt giống Ăąn oĂĄn ấy trỗi dậy, khiến hai bĂȘn  tạo thĂȘm một lần nghiệp lĂ nh dữ nữa. Cứ thế tạo mĂŁi khiến nghiệp cĂ ng ngĂ y cĂ ng dầy, Ăąn oĂĄn cĂ ng ngĂ y cĂ ng lớn. Như khi chĂșng ta gặp một người đang mắc phải cảnh khốn đốn cơ hĂ n, hĂŹnh ảnh buồn thảm khổ đau của họ hiện bĂ y đầy đủ. ChĂșng ta trong tay cĂł đủ phương tiện, liền giĂșp họ qua cơn khốn đốn, lĂșc đĂł trĂȘn gương mặt khổ đau đĂŁ ngả sang gương mặt vui tươi, sĂĄng sủa. ChứĂčng kiến hiện tượng ấy, hạt giống vui tươi đĂŁ rơi vĂ o tĂ ng thức chĂșng ta. Nếu mỗi ngĂ y chĂșng ta đều gieo vĂ o tĂ ng thức những hạt giống vui tươi, đến khi thĂąn nĂ y sắp hoại, chĂșng ta khĂŽng cĂČn đủ nghị lực lĂ m chủ, những hĂŹnh ảnh vui tươi ấy sẽ hiện đến với chĂșng ta, mời chĂșng ta đến cảnh vui tươi. Ngược lại, mỗi ngĂ y chĂșng ta cứ gieo rắc khổ đau cho người, những hạt giống khổ đau chứĂča đầy trong tĂ ng thức chĂșng ta, đến khi hơi tĂ n, lực tận những hĂŹnh ảnh đĂł sống dậy, đuổi bắt đĂĄnh đập chĂșng ta, khiến chĂșng ta phải chạy chui vĂ o cảnh khổ. ĐĂł lĂ  nghiệp bĂĄo khổ vui của mai kia. Nghiệp bĂĄo khĂŽng phải từ đĂąu đến, mĂ  chĂ­nh từ tĂ ng thức chĂșng ta hiện ra. Người xưa thần thĂĄnh hoĂĄ khả năng chứĂča đựng của tĂ ng thức bằng ĂŽng thần độ mạng. Bảo rằng ĂŽng thường theo dĂ”i chĂșng ta, vĂ  ghi chĂ©p hết mọi hĂ nh động thiện ĂĄc của chĂșng ta, để bĂĄo cĂĄo với ThiĂȘn đĂŹnh hay DiĂȘm chĂșa. Hoặc cụ thể hĂła tĂ ng thức chứĂča đựng bằng ĐĂ i gương nghiệp cảnh. Bảo rằng chĂșng ta lĂ m lĂ nh hay dữ, sau khi chết đến chỗ DiĂȘm vương, ở trước sĂąn triều cĂł cĂĄi gương lớn, người lĂ m lĂ nh lĂ m dữ dẫn đến trước gương đều hiện rĂ” rĂ ng đầy đủ, khĂŽng thể chối cĂŁi được.

V.-NGHIỆP BÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

Sự gĂłp nhặt gieo vĂ o tĂ ng thức lĂ  một lẽ thật, khĂŽng phải việc huyễn hoặc, do khĂŽng tưởng bịa ra. ĐĂąy thử cử một thĂ­ dụ, khi chĂșng ta muốn học thuộc lĂČng một bĂ i thơ. ChĂșng ta đọc một lần, hai lần, cho đến nhiều lần tự thấy nĂł thuộc. CĂĄi thuộc ấy lĂ  do đĂąu, chẳng qua mỗi lần chĂșng ta đọc, hạt giống ấy rơi vĂ o tĂ ng thức, đN85;c nhiều lần, hạt giống ấy cĂ ng trưởng thĂ nh mạnh mẽ, đĂąy gọi lĂ  thuộc. Thuộc xong chĂșng ta khĂŽng đọc nữa, thỉnh thoảng trong tĂ ng thức nĂł trỗi dậy, mỗi lần trỗi dậy, chĂșng ta ĂŽn lại đĂŽi ba phen, thế lĂ  thuộc lại cĂ ng thuộc. Từ miệng chĂșng ta đọc, hạt giống thơ rơi vĂ o tĂ ng thức gọi Hiện hạnh huĂąn chủng tử. Từ tĂ ng thức thơ trỗi dậy, gọi lĂ  Chủng tử khởi hiện hạnh. ChĂșng ta ĂŽn lại đĂŽi ba lần, gọi lĂ  Hiện hạnh huĂąn chủng tử. Thế lĂ  sự huĂąn khởi khĂŽng thể nghĩ bĂ n. Nếu cả đời chĂșng ta huĂąn chủng tử nĂ o nhiều nhất, đời sau sanh ra hạt giống ấy sống dậy sớm nhất. Bởi thế mới cĂł cĂĄc vị thần đồng, xuất hiện, như Mạc Đĩnh Chi ở Việt Nam mười hai tuổi đĂŁ thĂŽng suốt thi phĂĄp, Bạch Cư Dị ở Trung Hoa chĂ­n tuổi đĂŁ lĂ m thơ, Pascal ở PhĂĄp mười hai tuổi đĂŁ thĂŽng Kỷ hĂ  học..., cho đến cĂčng học một lớp mĂ  mỗi đứa bĂ© đều cĂł khả năng riĂȘng.

Khi trong kho tĂ ng thức cĂČn chứĂča chủng tử thĂŹ sự huĂąn khởi khĂŽng thể nghĩ bĂ n. VĂŹ thế nĂł cĂł sức mạnh lĂŽi kĂ©o chĂșng ta đi thọ sanh trong lục đạo khĂŽng cĂł ngĂ y dừng. Thế nĂȘn, nĂłi đến nghiệp bĂĄo lĂ  nĂłi đến sự luĂąn hồi sanh tử.

VI.- LÀM SAO HẾT NGHIỆP

Nghiệp đĂŁ do chĂșng ta gĂąy tạo biến chủng tử huĂąn vĂ o tĂ ng thức. Muốn hết nghiệp cũng do chĂșng ta khĂ©o loại hết những chủng tử nghiệp ở trong tĂ ng thức ra. Khi kho tĂ ng thức sạch chủng tử thĂŹ sức mạnh lĂŽi vĂ o sanh tử khĂŽng cĂČn. Khi chủng tử cĂČn trong kho ấy, gọi lĂ  tĂ ng thức, lĂ  nhĂąn sanh tử. Khi chủng tử trong kho ấy sạch hết, gọi lĂ  khĂŽng Như Lai tĂ ng, lĂ  kho Như Lai trống, tức lĂ  dứt mầm sanh tử. VĂŹ thế muốn hết nghiệp sanh tử, chĂșng ta phải ứng dụng những phương phĂĄp tu để tiĂȘu diệt cĂĄc hiện hạnh từ chủng tử dấy khởi. VĂ­ như khi chĂșng ta học thuộc lĂČng một bĂ i thơ, song mỗi lần nhớ lại, chĂșng ta đều bỏ qua, thời gian lĂąu bĂ i thơ ấy sẽ quĂȘn bẵng. Những chủng tử khĂĄc cũng thế, mỗi khi khởi hiện hạnh, chĂșng ta đều thĂŽng qua chẳng cho hĂŹnh ảnh sống lại, lĂąu ngĂ y tự nhiĂȘn nĂł mất. Phương phĂĄp niệm Phật, TrĂŹ chĂș, Tọa thiền đều nhắm vĂ o mục đĂ­ch nĂ y.

VII.- KẾT LUẬN

Thấu rĂ” lĂœ nghiệp bĂĄo, chĂșng ta cố gắng tạo điều kiện thuần thiện để được quả bĂĄo toĂ n vui, nếu cĂČn chấp nhận ở trong sanh tử. Sự chọn lựa khổ vui lĂ  quyền sở hữu của chĂșng ta, khĂŽng phải Thần thĂĄnh, cũng khĂŽng phải ai khĂĄc, cĂł quyền ban khổ vui cho chĂșng ta. Quyền năng sắp đặt một cuộc sống mai kia, đều do bĂ n tay chĂșng ta gĂąy dựng. Nếu một khi nĂ o đĂł, chĂșng ta khĂŽng chấp nhận cuộc sống luĂąn hồi nữa, cũng chĂ­nh chĂșng ta loại bỏ những mầm sanh tử đang chứĂča chấp trong tĂ ng thức của chĂșng ta. Thế lĂ , chĂșng ta đĂŁ giĂ nh quyền với tạo hĂła, đĂŁ tước bỏ quyền lực của thần linh vĂ  độc tĂŽn trong việc thoĂĄt ly sanh tử.

GIÁC NGỘ PHÁP GÌ

ỨNG DỤNG TU NGŨ THỪA PHẬT GIÁO

I.- MỞ ĐỀ

Tất cả phĂĄp Phật dạy đều trước phải giĂĄc ngộ rồi sau mới ứng dụng tu. Cũng như trước biết đường rồi sau mới đi, trước hiểu rồi sau mới lĂ m. Sự giĂĄc ngộ nĂ y lĂ  nhận thấy lẽ thật ngay thế gian khĂŽng phải huyền nhiệm siĂȘu viễn, mĂ  lĂ  cụ thể thực tế. Bởi giĂĄc ngộ rồi mới tu, nĂȘn đĂșng tinh thần đạo giĂĄc ngộ. ChĂșng ta lĂ  Phật tử phải thấu rĂ” lẽ nĂ y, đừng lầm lẫn ứng dụng tu một cĂĄch mĂč quĂĄng. KhĂŽng hiểu mĂ  lĂ m lĂ  việc lĂ m cĂ n bướng dại khờ. ChĂșng ta phải thắp sĂĄng ngọn đuốc chĂĄnh phĂĄp soi bước đi, để khỏi vấp ngĂŁ rơi hố lọt hầm.

Tổng quĂĄt căn bản Phật phĂĄp lĂ  Ngũ thừa Phật giĂĄo, trước khi ứng dụng tu mỗi thừa đều phải giĂĄc ngộ mỗi phĂĄp. VĂ­ như ở bến xe miền ĐĂŽng tại thĂ nh phố Hồ ChĂ­ Minh, trước khi chĂșng ta mua vĂ© lĂȘn một chiếc xe nĂ o lĂ  phải Ăœ thức được mĂŹnh đi đĂąu, đi lĂ m gĂŹ ? Khi mua vĂ© lĂȘn xe, chĂșng ta biết rĂ” chủ đĂ­ch vĂ  phĂąn biệt rĂ nh rẽ con đường mĂŹnh &#273;i. Nếu chĂșng ta mua vĂ© lĂȘn xe TĂąy Ninh lĂ  biết rĂ” mĂŹnh sẽ đến Thị xĂŁ TĂąy Ninh, mua vĂ© lĂȘn xe Vũng TĂ u lĂ  biết rĂ” mĂŹnh sẽ đến Đặc khu Vũng TĂ u. LĂȘn xe nĂ o đến chỗ ấy lĂ  vĂ­ dụ cho Ngũ thừa Phật giĂĄo. Bởi vĂŹ thừa lĂ  cỗ xe hay ngồi xe, sẽ đưa đến mục đĂ­ch chĂșng ta nhắm. Chọn lựa xe đi lĂ  theo nhu cầu cần thiết của chĂșng ta đĂŁ biết. Thế nĂȘn trước giĂĄc, sau tu lĂ  chủ yếu của Ngũ thừa Phật giĂĄo.

II.- GIÁC NGỘ LÝ NHÂN QUẢ, LUÂN HỒI ỨNG DỤNG TU NHÂN THỪA, THIÊN THỪA

1. GiĂĄc ngộ lĂœ nhĂąn quả, luĂąn hồi

a) GiĂĄc ngộ lĂœ nhĂąn quả

Vạn vật vĂ  mọi hiện tượng trĂȘn thế gian nĂ y, nếu đem ra khảo sĂĄt, chĂșng ta sẽ thấy khĂŽng cĂł một vật tượng nĂ o thoĂĄt ra ngoĂ i nhĂąn quả. Từ động vật, thực vật, khoĂĄng vật cho đến mọi hiện tượng mĂ  cĂĄc giĂĄc quan chĂșng ta cảm nhận được, đều phải cĂł nhĂąn mới thĂ nh quả. VĂ­ như con người lĂ  quả, xuất phĂĄt từ bĂ o thai lĂ  nhĂąn. CĂąy lĂșa, bĂŽng lĂșa lĂ  quả, phĂĄt sanh từ hạt lĂșa giống lĂ  nhĂąn. Khối đĂĄ lĂ  quả, kết hợp từ những hạt bụi lĂ  nhĂąn. DĂč lĂ  những hiện tượng lạ xuất phĂĄt từ con người hay thiĂȘn nhiĂȘn, tuy hiện nay người ta chưa phĂĄt giĂĄc được nguyĂȘn nhĂąn của nĂł, song chỉ lĂ  chưa tĂŹm ra, chớ chẳng phải khĂŽng nguyĂȘn nhĂąn. Thấy quả, chĂșng ta liền biết cĂł nhĂąn, đĂł lĂ  tinh thần khoa học, lĂ  Ăłc khảo cứu của cĂĄc nhĂ  bĂĄc học. Thấy một thĂ nh quả, chĂșng ta chưa tĂŹm ra nguyĂȘn nhĂąn của nĂł, lĂ  chưa thấu suốt vấn đề. Từ một kết quả, chĂșng ta thĂŽng suốt nguyĂȘn nhĂąn, chĂșng ta cĂł thể cấu tạo nguyĂȘn nhĂąn để được kết quả như Ăœ muốn. VĂ­ như thấy bĂŽng lĂșa thơm biết từ hạt giống lĂșa thơm, chĂșng ta muốn sang năm cĂł lĂșa thơm ăn, năm nĂ y phải lấy giống lĂșa thơm gieo mạ. TrĂȘn lĂŁnh vực khoa học, người ta thấy nắp vung nồi nước động, biết từ hơi nước đun sĂŽi bốc lĂȘn, do đĂł chế biến ra cĂĄc loại mĂĄy nổ. Khi thấy chiếc phĂĄo thăng thiĂȘn bay vĂșt lĂȘn cao nổ tung ra, biết từ nhiĂȘn liệu chĂĄy cĂł sức đẩy, người ta chế ra cĂĄc loại phi cơ phản lực... cho đến những ngĂŽn từ luận lĂœ cũng phải từ quN43; đến nhĂąn, hoặc từ nhĂąn ra quả. Nếu khĂŽng như thế lĂ  lĂœ luận khĂŽng chặt chẽ. VĂ­ như nĂłi, tĂŽi thĂ­ch mĂłn ăn nĂ y (quả), vĂŹ nĂł vừa miệng tĂŽi (nhĂąn). TĂŽi khĂŽng ưa người đĂł (quả), vĂŹ họ ở xấu với tĂŽi (nhĂąn). VĂŹ nghĂšo (nhĂąn), tĂŽi khĂŽng dĂĄm ăn xĂ i (quả). Thực tế mĂ  nĂłi, nhĂąn quả bao trĂčm hết mọi lĂŁnh vực trong cuộc sống của con người. Mọi hĂ nh vi thố lộ ra, đều lệ thuộc nhĂąn quả. Song với người trĂ­ thĂŹ biết rĂ”, kẻ ngu thĂŹ khĂŽng phĂąn rĂ nh.

NĂłi đến nhĂąn quả lĂ  tĂčy thuộc thời gian. Bởi vĂŹ từ nhĂąn đến quả, phải trải qua giai đoạn khĂĄc nhau. Như từ một hạt cam đến thĂ nh cĂąy cam vĂ  cĂł trĂĄi cam, phải trải qua thời gian dĂ i. Hạt cam hoại để thĂ nh cĂąy cam, hạt cam thuộc quĂĄ khứ, cĂąy cam hiện tại, trĂĄi cam vị lai. Rồi trĂĄi cam lĂ  quĂĄ khứ, hạt cam lĂ  hiện tại, cĂąy cam lĂ  vị lai. Cứ thế xoay vần từ nhĂąn đến quả, từ quả lại nhĂąn. VĂŹ thế muốn đoĂĄn định nhĂąn quả, chĂșng ta phải căn cứ trĂȘn ba thời mĂ  xĂ©t. Nếu ai chỉ cắt xĂ©n một chặng mĂ  đoĂĄn định, lĂ  sai lầm lệch lạc. VĂ­ như đồng thời trồng cam, mĂ  một người được quả cam sĂ nh, một người được quả cam đường. NhĂŹn cĂąy cam lĂĄ cam giống nhau, mĂ  trĂĄi cam lại khĂĄc. Nếu chỉ căn cứ cĂąy cam, trĂĄi cam mĂ  biện lĂœ lẽ, lĂ m sao hiểu nổi. ChĂșng ta phải xĂ©t lui về quĂĄ khứ, khi gieo hạt cam loại nĂ o, mới thấy thấu đĂĄo vấn đề. Cũng thế, trong cuộc sống khổ vui tốt xấu hiện tại của chĂșng ta, khĂŽng nhĂŹn lui về quĂĄ khứ, khĂł bề hiểu biết tường tận. Cho nĂȘn trong kinh NhĂąn Quả Phật dạy: “Muốn biết nhĂąn đời trước, cứ xem cuộc sống hiện tại nĂ y, cần biết quả đời sau, nĂȘn xem hĂ nh động hiện nay.” Hiện tại lĂ  kết quả của quĂĄ khứ, cũng lĂ  nhĂąn của vị lai. CĂąy cam lĂ  quả của hạt cam, cũng lĂ  nhĂąn của quả cam. Muốn mai kia được nhiều quả cam ngon, hiện tại chĂșng ta phải vun quĂ©n cho cĂąy cam được sum suĂȘ. Đấy lĂ  khĂ©o ứng dụng nhĂąn quả. Hiểu thấu đĂĄo lĂœ nhĂąn quả lĂ  giĂĄc ngộ lĂœ nhĂąn quả.

b) GiĂĄc ngộ lĂœ luĂąn hồi

LuĂąn hồi lĂ  sự vận hĂ nh luĂąn chuyển. Trong bầu vũ trụ chĂșng ta hiện sống đĂąy, luĂŽn luĂŽn vận hĂ nh luĂąn chuyển. Quả địa cầu xoay trĂČn mĂŁi mĂŁi, sĂĄng tối rồi sĂĄng tối. NhĂąn đĂł lập thời gian: ngĂ y, thĂĄng, năm, xuĂąn, hạ, thu, đĂŽng. Thế rồi xuĂąn hạ thu đĂŽng lại xuĂąn hạ thu đĂŽng... Đấy lĂ  hiện trạng luĂąn hồi của khĂŽng gian vĂ  thời gian. Cho đến mọi sanh vật sinh sống trĂȘn quả địa cầu, vừa cĂł sự sống lĂ  cĂł vận hĂ nh lưu chuyển, ở bĂȘn trong mọi vật đều cĂł sự vận hĂ nh luĂąn chuyển khĂŽng ngừng. Dừng đứng lại lĂ  mất sự sống. Như nơi con người mĂĄu từ quả tim chạy ra cĂĄc huyết quản, từ cĂĄc huyết quản trở về quả tim, sự vận hĂ nh ấy khĂŽng cĂł khi dừng, vừa dừng lại lĂ  chết. CĂĄc sanh vật khĂĄc cũng thế. Cho nĂȘn luĂąn hồi, lĂ  một thực thể của vũ trụ vĂ  chĂșng sanh. Phủ nhận lĂœ luĂąn hồi lĂ  phủ nhận sự sống, phủ nhận sự biến thiĂȘn của thời gian vĂ  khĂŽng gian.

Thừa nhận lĂœ luĂąn hồi, chĂșng ta phải thừa nhận hai yếu tố then chốt của nĂł lĂ  vận hĂ nh vĂ  bất tận. VĂŹ mọi hiện tượng trĂȘn nhĂąn gian nĂ y luĂŽn luĂŽn vận hĂ nh thăng trầm mĂ  bất tận. Sự vật tĂčy duyĂȘn đổi thay, song bản chất của nĂł khĂŽng mất. VĂ­ như nước, tĂčy duyĂȘn nĂłng hay lạnh hĂŹnh thĂĄi của nĂł bị đổi thay. Từ một thể lỏng, gặp duyĂȘn sĂłng nước biến thĂ nh thể hơi, gặp duyĂȘn lạnh cĂŽ đọng lại thĂ nh thể cứng. Mọi sự biến thể của nước đều lĂ  tĂčy duyĂȘn. CĂł khi nĂł nhẹ bĂ ng bạc trong hư khĂŽng, cĂł khi đọng lại thĂ nh khối cứng như đĂĄ. Tuy hĂŹnh thĂĄi đổi luĂŽn luĂŽn, mĂ  bản chất nước vẫn khĂŽng mất. Nếu ai thấy nước khĂŽng cĂČn ở thể lỏng, bảo mất lĂ  khờ. Hoặc thấy tan khĂŽng cĂČn ở thể cứng, bảo hết lĂ  dại. Người khĂŽn ngoan biết sự tĂčy duyĂȘn biến thĂĄi của nước, muốn nĂł lĂ  hơi dĂčng duyĂȘn nĂłng, muốn nĂł thĂ nh khối dĂčng duyĂȘn lạnh. Thế lĂ  tĂčy duyĂȘn ứng dụng một cĂĄch linh động. ĐĂł lĂ  chỗ sử dụng của cĂĄc nhĂ  khoa học hiện nay.

Cũng thế, sang lĂŁnh vực con người, biết sự luĂąn hồi tĂčy nghiệp duyĂȘn, người tu hĂ nh khĂ©o tạo nghiệp lĂ nh duyĂȘn tốt, để sự vận chuyển đĂșng theo sở nguyện của mĂŹnh. Sử dụng nghiệp duyĂȘn theo nguyện vọng sở thĂ­ch của mĂŹnh, lĂ  người thĂŽng suốt lĂœ luĂąn hồi. Biết rĂ” luĂąn hồi lĂ  biến thể chớ khĂŽng mất, người tu khĂŽng mắc kẹt hai cĂĄi chấp thường kiến vĂ  đoạn kiến. Từ nghiệp duyĂȘn tốt xấu &#273;ưa đến thĂ nh quả khổ vui ở mai kia. ChĂșng ta dại gĂŹ khĂŽng chọn nghiệp duyĂȘn tốt để được kết quả an vui. ĐĂąy lĂ  sự tu hĂ nh của người Phật tử trong cuộc luĂąn hồi.

2. Ứng dụng tu nhĂąn thừa, thiĂȘn thừa

Sau khi thĂ nh Phật, đức ThĂ­ch-ca đĂŁ từng bảo: “Ta xem thấy chĂșng sanh luĂąn hồi trong sĂĄu đường, như người mắt sĂĄng đứng trĂȘn lầu cao nhĂŹn xuống ngĂŁ tư đường, thấy người qua lại của mỗi con đường một cĂĄch rĂ” rĂ ng.” Trong sĂĄu con đường ấy lĂ : trời, người, a-tu-la, sĂșc sanh, ngạ quỉ, địa ngục. Ba con đường trĂȘn lĂ  tốt, ba con đường dưới lĂ  xấu. Ba con đường trĂȘn chọn kỹ chỉ cĂł cĂ”i trời, cĂ”i người cĂČn tu được. A-tu-la nĂłng nảy khĂł tu. VĂŹ thế người tu phải chọn hai con đường trĂȘn, gọi lĂ  NhĂąn thừa vĂ  ThiĂȘn thừa.

a) NhĂąn thừa

Tu nhĂąn thừa, trước phĂĄt nguyện qui y Tam Bảo để vạch một lối đi cho hiện tại vĂ  mai sau. Kế giữ năm giới lĂ  nền tảng tạo thĂ nh tư cĂĄch con người, lĂ  con người ai cũng xem sanh mạng mĂŹnh lĂ  tối thượng, tĂ i sản lĂ  huyết mạch, gia đĂŹnh lĂ  tổ ấm an vui. VĂŹ thế tuyệt đối khĂŽng được giết người, khĂŽng được trộm cướp của người, khĂŽng được phạm tĂ  dĂąm. Lại khĂŽng nĂłi dối để gĂąy uy tĂ­n, sự cảm thĂŽng trong gia đĂŹnh vĂ  ngoĂ i xĂŁ hội, khĂŽng uống rượu để mĂŹnh bĂŹnh tĩnh sĂĄng suốt vĂ  khỏi lĂ m phiền hĂ  mọi người chung quanh. Hiện tại lĂ  một con người đĂșng tư cĂĄch con người, vị lai cũng sẽ lĂ m người xứng đĂĄng danh nghĩa con người. ĐĂł lĂ  do thấy được nhĂąn, biết rĂ” quả vĂ  nhận được sự bất tận trong dĂČng sanh mạng của con người, nĂȘn ứng dụng tu như thế.

b) ThiĂȘn thừa

ChĂșng sanh ở cĂ”i Trời do phước đức đầy đủ nĂȘn dục lạc sung mĂŁn. ChĂșng ta muốn hưởng sự an vui ấy, ngay hiện tại cần phải tu mười điều lĂ nh, nhĂąn lĂ  nh đầy đủ sẽ được kết quả sanh cĂ”i Trời. Mười điều lĂ nh cĂł chia hai phần tiĂȘu cực vĂ  tĂ­ch cực. Mười điều lĂ nh tiĂȘu cực: khĂŽng giết người, khĂŽng trộm cướp, khĂŽng tĂ  dĂąm, khĂŽng nĂłi dối, khĂŽng nĂłi ly giĂĄn, khĂŽng nĂłi thĂȘu dệt, khĂŽng nĂłi ĂĄc khẩu, bớt tham lam, bớt nĂłng giận, khĂŽng tĂ  kiến. Mười điều lĂ nh tĂ­ch cực: cứu mạng chĂșng sanh, bố thĂ­, trinh bạch, nĂłi chĂąn thật, nĂłi hĂČa hợp, nĂłi đĂșng lĂœ, nĂłi nhĂŁ nhặn, tập từ bi, tập nhẫn nhục, chĂĄnh kiến. Mười điều nĂ y nhĂąn thĂč thắng nĂȘn được quả thĂč thắng nhất trong sĂĄu đường. VĂŹ thế, người Phật tử tu hĂ nh, nếu biết cĂČn luĂąn hồi nĂȘn chọn cĂĄi luĂąn hồi nĂ y lĂ  tốt đẹp hơn cả. ĐĂł lĂ  ứng dụng tu ThiĂȘn thừa, qua sự giĂĄc ngộ lĂœ NhĂąn quả, LuĂąn hồi.

III. GIÁC NGỘ LÝ VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, ỨNG DỤNG TU THANH VĂN THỪA.

a) GiĂĄc ngộ lĂœ vĂŽ thường, khổ, khĂŽng

Vạn vật trĂȘn nhĂąn gian nĂ y đều lĂ  tướng di động biến thiĂȘn, khĂŽng một vật nĂ o tạm yĂȘn vĂ  đứng nguyĂȘn một trạng thĂĄi. Sự di động biến thiĂȘn ấy gọi lĂ  vĂŽ thường. VĂŽ thường lĂ  một lẽ thật trĂčm trĂȘn vạn vật. ĐĂŁ cĂł vĂŽ thường phải đến biến hoại (khổ), đĂŁ biến hoại phải bị diệt mất (khĂŽng). Ba trạng thĂĄi nĂ y liĂȘn hệ dĩ nhiĂȘn với nhau. ĐĂŁ thừa nhận vĂŽ thường lĂ  thừa nhận KHỔ, thừa nhận khổ phải chấp nhận KHÔNG. Vạn vật cứ như thế mĂ  tiếp diễn liĂȘn miĂȘn bất tận.

b) Tu phĂĄp tứ đế

Đức Phật chứng kiến lẽ ấy, nĂȘn NgĂ i nĂłi phĂĄp Tứ đế. Tất cả lĂ  khổ, vĂŹ nĂł lĂ  tướng vĂŽ thường biến hoại. KHỔ lĂ  một lẽ thật nĂȘn nĂłi lĂ  Khổ đế. Nơi con người sanh khổ, giĂ  khổ, bệnh khổ, chết khổ. ĐĂąy lĂ  tướng vĂŽ thường biến hoại của con người. DĂč lĂ  người ở ngĂŽi vị nĂ o cũng phải chung chịu bốn tướng ấy. Thế nĂȘn khổ đế lĂ  luật chung của nhĂąn loại, khĂŽng riĂȘng bởi một cĂĄ nhĂąn nĂ o. Chẳng những thế mĂ  cĂČn, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, OĂĄn tắng hội khổ, vĂ  Ngũ ấm xĂ­ thạnh khổ. Nghĩa lĂ  ngoĂ i cĂĄi khổ biến hoại của bản thĂąn, cĂČn những cĂĄi khổ tĂŹnh cảm bất như Ăœ. Người thương yĂȘu mĂ  phải xa lĂŹa, khiến cho lĂČng dạ tan nĂĄt. Những điều mơ ước mong cầu mĂ  khĂŽng toại nguyện, quả lĂ  một tuyệt vọng, một bất mĂŁn tột cĂčng. Kẻ oĂĄn ghĂ©t mĂ  phải sống chung cĂčng, thật lĂ  sự bực bội khĂł tả. Tổng quĂĄt ngay nơi thĂąn năm ấm nĂ y lĂ  một khối chung hợp toĂ n những thứ biến hoại đau khổ. Kể cả những thứ khổ nhỏ nhiệm thĂŹ cĂł đến tĂĄm vạn bốn ngĂ n khổ.

Sự khổ nĂ y khĂŽng phải ngẫu nhiĂȘn mĂ  cĂł chĂ­nh nĂł phĂĄt xuất từ nguyĂȘn nhĂąn: si, tham, sĂąn, mạn, nghi, ĂĄc kiến. Nếu kể chi ly cĂł đến tĂĄm vạn bốn ngĂ n thứ trần lao phiền nĂŁo. CĂĄc thứ đĂł gọi chung lĂ  Tập đế. Do si mĂȘ khĂŽng biết thĂąn tĂąm như thật nĂȘn khởi tham ĂĄi thĂąn tĂąm. Bởi tham ĂĄi thĂąn tĂąm nĂȘn mong cầu mọi sự khoĂĄi lạc, gặp sự chống đối liền khởi tức giận. Do ĂĄi ngĂŁ nĂȘn khinh khi lấn lướt người. Bởi si mĂȘ nĂȘn nghi ngờ lẽ thật vĂ  khởi kiến chấp tĂ  ĂĄc. Tụ hợp những nguyĂȘn nhĂąn mĂȘ lầm tạm bợ nĂ y lĂ m ngĂŁ, quả thật lĂ  nhĂąn của khổ, nĂȘn gọi lĂ  Tập đế, hay Khổ tập.

Muốn cho quả khổ tan hoại, khĂŽng gĂŹ hơn đập thẳng nơi tập nhĂąn. Tập nhĂąn đĂŁ tiĂȘu diệt gọi lĂ  Diệt đế hay Khổ diệt. Bởi tập nhĂąn lĂ  mầm si mĂȘ biến hoại, nĂȘn khi diệt sạch chĂșng thĂŹ, trĂ­ tuệ phĂĄt sanh, nhĂąn sanh diệt cũng bặt dứt. Thế lĂ  chứng tứ quả Thanh văn được tịch diệt Niết-bĂ n.

Song muốn phĂĄ hoại tập nhĂąn cần phải cĂł phương tiện. Phương tiện nĂ y lĂ  ba mươi bảy Phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, Tứ chĂĄnh cần, Tứ như Ăœ tĂșc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giĂĄc chi, BĂĄt chĂĄnh đạo. Mỗi phĂĄp như Tứ niệm xứ... ứng dụng triệt để cũng cĂł thể tiĂȘu diệt được tập nhĂąn, khĂŽng nhất thiết phải tu đủ ba mươi bảy phẩm. Những phĂĄp nĂ y quả cĂł cĂŽng hiệu tiĂȘu diệt tập nhĂąn, nĂȘn gọi lĂ  Đạo đế hay Khổ đạo. Chữ đạo cĂł nghĩa lĂ  phương phĂĄp, ba mươi bảy phẩm nĂ y lĂ  những phương phĂĄp diệt sạch tập nhĂąn đau khổ.

Trong bốn đế nĂ y đứng về mặt nhĂąn quả mĂ  nĂłi: Khổ đế lĂ  quả, Tập đế lĂ  nhĂąn của dĂČng luĂąn hồi sanh tử. Diệt đế lĂ  quả, Đạo đế lĂ  nhĂąn của dĂČng giải thoĂĄt sanh tử. Thế nĂȘn cĂČn cĂł Tập đế quyết định phải cĂł Khổ đế, biết dụng tu Đạo đế đĂșng phĂĄp, nhất định sẽ đạt được Diệt đế. Thế lĂ  hai con đường luĂąn hồi đau khổ vĂ  tịch diệt Niết-bĂ n đĂŁ trưng bĂ y trước mắt chĂșng ta, tĂčy Ăœ chọn lấy mĂ  đi. ĐĂąy lĂ  một lẽ thật khĂŽng thể sai chạy, cho nĂȘn TĂŽn giả A-nan trĂŹnh lĂȘn Phật khi NgĂ i sắp niết-bĂ n: “Mặt trời cĂł thể lạnh, mặt trăng cĂł thể nĂłng, phĂĄp Tứ đế Phật nĂłi vẫn khĂŽng thay đổi!”

IV.- GIÁC NGỘ LÝ NHÂN DUYÊN ỨNG DỤNG TU DUYÊN GIÁC THỪA

a) GiĂĄc ngộ lĂœ duyĂȘn sanh vĂŽ ngĂŁ

Vạn vật cĂł hĂŹnh tướng đều do duyĂȘn hợp. KhĂŽng cĂł một vật tự thĂąn lĂ  một vật, mĂ  phải do chung hợp nhiều dữ kiện mới hĂŹnh thĂ nh. CĂĄi bĂ n khĂŽng tự lĂ  cĂĄi bĂ n, mĂ  phải cĂł gỗ, cĂł đinh, ĂŽng thợ mộc vĂ  dụng cụ mới tạo thĂ nh cĂĄi bĂ n. CĂĄi cĂąy khĂŽng tự lĂ  cĂĄi cĂąy, mĂ  phải cĂł hạt giống, cĂł phĂąn, cĂł đất, cĂł nước, cĂł ĂĄnh nắng vĂ  người săn sĂłc mới thĂ nh cĂąy. Con người khĂŽng tự lĂ  con người, mĂ  phải do tinh cha, huyết mẹ, nhờ sự bĂș sữa, ăn uống, hĂ­t thở... mới thĂ nh con người. TĂłm lại cả thế gian nĂ y khĂŽng cĂł một vật gĂŹ tự nĂł thĂ nh nĂł, mĂ  do duyĂȘn chung quanh hợp thĂ nh hĂŹnh.

ĐĂŁ do duyĂȘn hợp thĂŹ khĂŽng chủ thể, thế lĂ  vĂŽ ngĂŁ. Như thĂąn xĂĄc thịt chĂșng ta, nhĂ  Phật bảo lĂ  tứ đại hợp thĂ nh. Đất nước giĂł lửa lĂ  bốn thứ lớn, hợp thĂ nh con người cũng hợp thĂ nh sự vật. Thử phĂąn tĂ­ch con người, chất cứng lĂ  đất, chất ướt lĂ  nước, chất động lĂ  giĂł, chất ấm lĂ  lửa. Bốn chất nĂ y tĂŹm xem cĂĄi nĂ o lĂ  chủ? Nhẹ như chất giĂł vĂ  lửa mĂ  thiếu một, thử hỏi thĂąn nĂ y cĂČn chăng? Quả nhiĂȘn khĂŽng thể thiếu một chất nĂ o mĂ  thĂąn nĂ y cĂČn tồn tại. Thế thĂŹ bốn chất cĂł khả năng như nhau, vậy cĂĄi nĂ o lĂ  chủ? KhĂŽng cĂł chủ tức lĂ  vĂŽ ngĂŁ. ThĂąn đĂŁ vĂŽ ngĂŁ, tĂąm lại cĂł ngĂŁ chăng? NhĂ   Phật chia thĂąn nĂ y lĂ m năm nhĂłm: nhĂłm hĂŹnh sắc gọi lĂ  sắc uẩn, nhĂłm cảm thọ gọi lĂ  thọ uẩn, nhĂłm tưởng tượng gọi lĂ  tưởng uẩn, nhĂłm suy tư gọi lĂ  hĂ nh uẩn, nhĂłm phĂąn biệt gọi lĂ  thức uẩn. Bỏ phần sắc uẩn ra, cĂČn bốn thứ kia thuộc phần tĂąm thần. Thế thĂŹ bốn nhĂłm thọ tưởng hĂ nh thức cĂĄi nĂ o lĂ  chủ. Nếu cảm thọ lĂ  chủ thĂŹ tưởng tượng suy tư phĂąn biệt lĂ  gĂŹ? ChĂ­nh nơi tĂąm thần chĂșng ta cĂł đủ bốn nhĂłm ấy, mỗi thứ hoạt động một lĂŁnh vực riĂȘng. Thế nĂȘn phần tĂąm cũng khĂŽng chủ thể, ấy lĂ  tĂąm vĂŽ ngĂŁ.

b) Tu phĂĄp Thập nhị nhĂąn duyĂȘn

Mười hai nhĂąn duyĂȘn, khởi đầu lĂ  vĂŽ minh duyĂȘn hĂ nh, hĂ nh duyĂȘn thức, thức duyĂȘn danh sắc, danh sắc duyĂȘn lục nhập, lục nhập duyĂȘn xĂșc, xĂșc duyĂȘn thọ, thọ duyĂȘn ĂĄi, ĂĄi duyĂȘn thủ, thủ duyĂȘn hữu, hữu duyĂȘn sanh, sanh duyĂȘn lĂŁo tử. Thế lĂ  “cĂĄi nĂ y cĂł nĂȘn cĂĄi kia cĂł, cĂĄi nĂ y sanh nĂȘn cĂĄi kia sanh”. VĂŽ minh lĂ  mĂȘ lầm về bản ngĂŁ, nĂȘn mất thĂąn theo nghiệp dẫn lĂ  HĂ nh. Nghiệp thĂșc đẩy thức đi thọ sanh lĂ  Thức. Thức tựa vĂ o sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ lĂ  Danh sắc. Danh lĂ  thức, sắc lĂ  tinh huyết cha mẹ, hợp thĂ nh thai bĂ o. Thai bĂ o cĂł đủ sĂĄu căn lĂ  Lục nhập. Khi ra khỏi lĂČng mẹ sĂĄu căn tiếp xĂșc với sĂĄu trần lĂ  XĂșc. Do sự tiếp xĂșc cĂł cảm thọ khổ, vui, khĂŽng khổ khĂŽng vui lĂ  Thọ. Bởi cảm thọ nĂȘn sanh yĂȘu thĂ­ch lĂ  Ái. Từ yĂȘu thĂ­ch khởi tĂąm bảo thủ lĂ  Thủ. Do bảo thủ tạo thĂ nh nghiệp thiện ĂĄc lĂ  Hữu. ĐĂŁ cĂł nghiệp thiện ĂĄc lĂ  cĂł sanh đời sau lĂ  Sanh. ĐĂŁ cĂł sanh lĂ  phải giĂ  chết lĂ  LĂŁo tử. Trong mười hai nhĂąn duyĂȘn liĂȘn hệ quĂĄ khứ hiện tại vị lai, cứ thế xoay vần khĂŽng cĂł ngĂ y cĂčng. ĐĂąy lĂ  mười hai nhĂąn duyĂȘn theo chiều lưu chuyển.

Biết rĂ” thĂąn tĂąm nĂ y do nhĂąn duyĂȘn hĂČa hợp khĂŽng cĂł chủ thể lĂ  vĂŽ ngĂŁ. TrĂ­ tuệ đạt lĂœ vĂŽ ngĂŁ nĂ y dẹp tan mĂȘ lầm về bản ngĂŁ lĂ  VĂŽ minh. Thế lĂ  VĂŽ minh diệt nĂȘn HĂ nh diệt, HĂ nh diệt nĂȘn Thức diệt, Thức diệt nĂȘn Danh sắc diệt, Danh sắc diệt nĂȘn Lục nhập diệt, Lục nhập diệt nĂȘn XĂșc diệt, XĂșc diệt nĂȘn Thọ diệt, Thọ diệt nĂȘn Ái diệt, Ái diệt nĂȘn Thủ diệt, Thủ diệt nĂȘn Hữu diệt, Hữu diệt nĂȘn Sanh diệt, Sanh diệt nĂȘn LĂŁo tử diệt. Từ đĂąy vĂČng xĂșc xĂ­ch mười hai nhĂąn duyĂȘn tan rĂŁ. ChĂ­nh lĂ  cĂąu “cĂĄi nĂ y khĂŽng nĂȘn cĂĄi kia khĂŽng, cĂĄi nĂ y diệt nĂȘn cĂĄi kia diệt”. ĐĂąy lĂ  quĂĄn mười hai nhĂąn duyĂȘn theo chiều hoĂ n diệt.

Do thấu suốt nhĂąn duyĂȘn, đạt được trĂ­ vĂŽ ngĂŁ nĂȘn chứĂčng quả DuyĂȘn giĂĄc.

Ngang đĂąy chấm dứt sự luĂąn hồi, hằng an lạc Niết-bĂ n.

V.- GIÁC NGỘ LÝ DUYÊN KHỞI TÁNH KHÔNG, TU BỒ-TÁT THỪA

a/ GiĂĄc ngộ lĂœ duyĂȘn khởi tĂĄnh khĂŽng

Cũng đứng trĂȘn lĂœ duyĂȘn sanh, song Bồ-tĂĄt khĂŽng dừng lại ở chỗ thĂąn nĂ y do năm uẩn kết hợp lĂ  vĂŽ ngĂŁ, mĂ  cĂČn thấy năm uẩn tĂĄnh khĂŽng. Bởi vĂŹ thĂąn nĂ y lĂ  giả tướng do năm uẩn kết hợp, chĂ­nh năm uẩn cũng lĂ  giả tướng của cĂĄi khĂĄc kết hợp vĂ  cĂł cĂĄi khĂĄc cũng lĂ  giả tướng của cĂĄi khĂĄc nữa kết hợp... Tột cĂčng tất cả cĂĄc phĂĄp đều lĂ  duyĂȘn hợp khĂŽng cĂł chủ thể, lĂ  tĂĄnh khĂŽng. Bởi tĂĄnh khĂŽng do duyĂȘn hợp nĂȘn giả cĂł. VĂŹ cĂĄi cĂł ấy lĂ  tướng duyĂȘn hợp, nĂȘn giả dối tạm bợ như huyễn hĂła. Giả cĂł nĂȘn chẳng phải khĂŽng, cĂł một cĂĄch tạm bợ nĂȘn khĂŽng phải thật cĂł. Thế lĂ  khĂŽng mắc kẹt ở hai bĂȘn chấp khĂŽng vĂ  chấp cĂł. Đạt tột lĂœ duyĂȘn khởi tĂĄnh khĂŽng, Bồ-tĂĄt nhĂŹn sự vật như chĂ­nh bản thĂąn mĂŹnh, chỉ cĂł giả danh mĂ  khĂŽng cĂł thực thể. Bởi khĂŽng cĂł thực thể, nĂȘn cĂĄc phĂĄp thấy như bọt, bĂłng, huyễn hĂła. DuyĂȘn hợp thĂŹ cĂĄc phĂĄp cĂł, duyĂȘn tan thĂŹ cĂĄc phĂĄp khĂŽng. Sự cĂł khĂŽng ấy chẳng qua lĂ  tướng của duyĂȘn thĂŽi. Thế nĂȘn, Bồ-tĂĄt thấy thĂąn như huyễn, ngay khi sanh mĂ  biết vĂŽ sanh.

b/ Tu phĂĄp lục độ

Lục độ lĂ  sĂĄu phĂĄp: Bố thĂ­, TrĂŹ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, TrĂ­ tuệ. SĂĄu phĂĄp nĂ y tu được cứu kĂ­nh gọi lĂ  Lục Ba-la-mật. Bồ-tĂĄt do thấy cĂĄc phĂĄp như huyễn nĂȘn tu bố thĂ­ được cứu kĂ­nh. Bố thĂ­ cĂł chia: TĂ i thĂ­, PhĂĄp thĂ­, VĂŽ Ășy thĂ­. TĂ i thĂ­ lại cĂł ngoại tĂ i, nội tĂ i. Bồ-tĂĄt dĂčng của cải để cứu giĂșp người đĂłi khổ lĂ  bố thĂ­ ngoại tĂ i. CĂł khi cần đến sức lực, hoặc thĂąn phần của mĂŹnh để cứu giĂșp ng32;ời, Bồ-tĂĄt sẵn sĂ ng lĂ m lĂ  bố thĂ­ nội tĂ i. Song phần tĂ i thĂ­ chỉ lĂ  phương tiện đầu để thu nhiếp cảm tĂŹnh của người rồi sang phĂĄp thĂ­. PhĂĄp thĂ­ lĂ  đem chĂĄnh phĂĄp chỉ dạy cho người được tỉnh giĂĄc. GiĂĄo hĂła cho người được giĂĄc ngộ lĂ  phần giĂĄc tha của Bồ-tĂĄt. VĂŽ Ășy thĂ­ lĂ  dĂčng phương tiện giĂșp người qua cơn kinh sợ hĂŁi hĂčng. Trong mọi hoĂ n cảnh khủng khiếp của Bồ-tĂĄt đều dĂčng mọi phương tiện để an ủi cho người khỏi sợ. Song cĂĄi sợ to lớn nhất lĂ  biển khổ sanh tử, Bồ-tĂĄt thường chĂšo thuyền BĂĄt-nhĂŁ cứu người qua khỏi biển khổ lĂ  vĂŽ Ășy thĂ­. ĐĂŁ thấy cĂĄc phĂĄp như huyễn, nĂȘn Bồ-tĂĄt khĂŽng khước từ những điều khĂł bố thĂ­. VĂŹ thế Bố thĂ­ được ba-la-mật.

TrĂŹ giới lĂ  gĂŹn giữ giới phĂĄp của Phật răn cấm. Trong giới Bồ-tĂĄt cĂł mười giới trọng vĂ  bốn mươi tĂĄm giới khinh, từ kinh Phạm VĂ”ng. Hoặc Tam tụ tịnh giới của hĂ ng Bồ-tĂĄt. ĐĂąy lĂ  ba nhĂłm giới thanh tịnh Bồ-tĂĄt phải thực hĂ nh. Một lĂ  Nhiếp luật nghi giới, những phĂĄp nĂȘn lĂŹa Bồ-tĂĄt hằng lĂŹa. Hai lĂ  Nhiếp thiện phĂĄp giới, những phĂĄp nĂȘn chứĂčng, Bồ-tĂĄt đều tu chứĂčng. Ba lĂ  NhiĂȘu Ă­ch hữu tĂŹnh giới, Bồ-tĂĄt thường lĂ m lợi Ă­ch chĂșng sanh. Những giới phĂĄp nĂ y tu hĂ nh đến cứu kĂ­nh viĂȘn mĂŁn gọi lĂ  Giới ba-la-mật. ChĂ­nh vĂŹ thấy cĂĄc phĂĄp duyĂȘn khởi như huyễn nĂȘn Bồ-tĂĄt hay lĂ m được việc khĂł lĂ m.

Nhẫn nhục lĂ  sức cam chịu mọi hoĂ n cảnh khổ đau bức bĂĄch tủi nhục đến với tự thĂąn. ChĂșng ta chiến thắng mọi sự thĂșc giục bức bĂĄch của bản thĂąn tạo ra vĂ  chiến thắng những gĂŹ khổ đau tủi nhục từ bĂȘn ngoĂ i đưa đến. Cho đến những điều oan trĂĄi khĂŽng đĂąu, hoặc cực kỳ vĂŽ lĂœ, chĂșng ta cũng nhẫn chịu được. CĂł khi phải trả giĂĄ rất đắt về danh dự, về thĂąn thể, mĂ  vẫn cam chịu để trĂČn hạnh nhẫn nhục. Cho nĂȘn nhẫn nhục khi đến cứu kĂ­nh lĂ  một sức hĂčng dũng phi thường, vĂŹ đĂŁ chiến thắng hoĂ n toĂ n bản tĂĄnh ĂĄi ngĂŁ vĂ  bảo vệ ngĂŁ. Được thế mới gọi lĂ  Nhẫn nhục ba-la-mật.

Tinh tấn lĂ  cố gắng nỗ lực. Dốc hết khả năng để chiến thắng mĂŹnh, để chĂłng thĂ nh đạo qu&#7843;, lĂ  tinh tấn trong phần tự lợi. Dốc hết khả năng để cứu giĂșp người, để giĂĄo hĂła cho họ giĂĄc ngộ, lĂ  phần lợi tha. Ở hai bĂŹnh diện tự lợi lợi tha, Bồ-tĂĄt lĂșc nĂ o cũng nỗ lực một cĂĄch tột cĂčng, gọi lĂ  Tinh tấn ba-la-mật. Bởi Bồ-tĂĄt thấy đem thĂąn như huyễn độ hữu tĂŹnh như huyễn, nĂȘn khĂŽng bao giờ biết mỏi mệt vĂ  chĂĄn ngĂĄn.

Thiền định, “thiền” nguyĂȘn từ chữ Phạn DhyĂ ra (Thiền Na), Trung Hoa dịch lĂ  Tĩnh lự. CĂł nghĩa lĂ  do gĂĄ tĂąm một cảnh khiến những tĂąm lự lăng xăng được lặng yĂȘn. Song Thiền định trong nhĂ  Phật cũng cĂł nhiều lối, hoặc quĂĄn thĂąn tĂąm nĂ y vĂŽ chủ để ngộ ngĂŁ khĂŽng hoặc quĂĄn năm uẩn tĂĄnh khĂŽng để ngộĂ€ phĂĄp khĂŽng, hoặc tĂąm khĂŽng chấp cảnh khiến tĂąm cảnh nhất như. Bởi dừng được vọng tĂąm nĂȘn gọi lĂ  tĩnh lự. Thiền định đến tĂąm cảnh nhất như lĂ  Thiền ba-la-mật.

TrĂ­ tuệ lĂ  trĂ­ vĂŽ sư được hiển lộ viĂȘn mĂŁn. Bởi mĂąy mờ vọng lự dứt sạch, nĂȘn mặt trời trĂ­ tuệ vĂŽ sư chiếu sĂĄng rực rỡ. TrĂ­ tuệ nĂ y lĂ  do cĂŽng phu tu thiền định mĂ  phĂĄt xuất, chớ khĂŽng phải do học tập mĂ  được. Cho nĂȘn khi trĂ­ thể nĂ y hiện bĂ y thĂŹ vĂŽ minh phiền nĂŁo hoĂ n toĂ n tiĂȘu sạch. Thế lĂ  đầy đủ trĂ­ vĂŽ lậu thoĂĄt ly sanh tử luĂąn hồi. ĐĂąy lĂ  TrĂ­ tuệ ba-la-mật.

Lục độ cĂł nghĩa lĂ  do tu sĂĄu phĂĄp nĂ y đưa qua biển khổ sanh tử. Lại cĂł nghĩa tu mỗi phĂĄp qua mỗi cĂĄi dở: tu Bố thĂ­ độ bỏn sẻn, tu TrĂŹ giới độ phĂĄ giới, tu Nhẫn nhục độ nĂłng giận, tu Tinh tấn độ lười biếng, tu Thiền định độ tĂĄn loạn, tu TrĂ­ tuệ độ ngu si.

TĂłm lại, Ngũ thừa Phật giĂĄo lĂ  phương tiện hướng chĂșng sanh tiến lĂȘn, tĂčy căn cơ vĂ  sở nguyện mĂ  sự tiến lĂȘn ấy cĂł cao thấp khĂĄc nhau. ĐĂŁ lĂ  phương tiện thĂŹ chưa phải mục đĂ­ch chĂĄnh yếu của đức Phật muốn dạy. Nếu nhằm chỗ mục đĂ­ch chĂĄnh của Phật thĂŹ chỉ giĂĄo hĂła chĂșng sanh đều được thĂ nh Phật. Tuy nhiĂȘn lĂČng từ bi của đức Phật lĂ  như thế, song trĂŹnh độ căn cơ của chĂșng sanh thĂŹ chẳng đồng. Buộc lĂČng đức Phật phải mở rộng Ngũ thừa hoặc Tam thừa mĂ  giĂĄo hĂła chĂșng sanh. Nếu chĂșng ta ứng dụng tu hĂ nh một thừa trong năm thừa, mĂ  tĂąm niệm vẫn biết rĂ” rằng đĂąy lĂ  phương tiện để tiến lĂȘn, chớ khĂŽng phải chỗ an trụ vĩnh cửu, lĂ  khĂŽng cĂł lỗi lầm. Ngược lại, chĂșng ta tu theo thừa nĂ o chấp chặt vĂ o đĂł, khĂŽng chịu phĂĄt tĂąm hướng thượng, ấy lĂ  những kẻ rơi trong HĂła thĂ nh. ChĂșng ta lĂ  người cầu Phật đạo, phải tu đến bao giờ viĂȘn mĂŁn Phật đạo mới được dừng nghỉ. ĐĂąy lĂ  mục đĂ­ch tối thượng của người Phật tử chĂșng ta.

TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ĐẠO PHẬT QUA NGÀY  LỄ  VU-LAN

HĂŽm nay nhĂąn ngĂ y lễ Vu-lan, chĂșng tĂŽi cĂł một thời thuyết phĂĄp với đề tĂ i “TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ĐẠO PHẬT”. ChĂșng tĂŽi sẽ chỉ rĂ” tinh thần giĂĄc ngộ của lễ Vu-lan như thế nĂ o cho tất cả quĂ­ vị thấy, vĂŹ chĂ­nh đĂł lĂ  tinh thần giĂĄc ngộ của đạo Phật. Tinh thần giĂĄc ngộ đĂł sẽ diễn tiến từ thấp lĂȘn cao, đến chỗ tột đỉnh như thế nĂ o, chĂșng tĂŽi tuần tự giải thĂ­ch qua cho tất cả quĂ­ vị rĂ”. Trước tiĂȘn tĂŽi nĂłi thẳng về ngĂ y lễ Vu-lan.

Theo thường ở chĂča, ngĂ y rằm thĂĄng bảy lĂ  ngĂ y lễ “Tự tứ” của chư Tăng cũng gọi lĂ  Phật hoan hỉ nhật, cũng gọi lĂ  ngĂ y Vu-lan-bồn, dịch Ăąm tiếng Phạn. Ở Trung Hoa dịch nghĩa lĂ  Giải đảo huyền, tức lĂ  cứu hay cởi tội khổ bị treo ngược. NĂłi một cĂĄch khĂĄc lĂ  cứu tội khổ của những người đang đọa trong cảnh đau khổ địa ngục ngạ quỉ. ĐĂł lĂ  tĂȘn gọi, nhưng sở dĩ đặt ngĂ y lễ Vu-lan vĂ o ngĂ y rằm thĂĄng bảy lĂ  do Ăœ nghĩa nĂ o, tiĂȘu chuẩn nĂ o đức Phật nhắm như vậy?

ChĂșng tĂŽi lần lượt giải thĂ­ch cĂĄc tiĂȘu chuẩn đĂł. Bởi ngĂ y xưa, lĂșc đức Phật tại thế, chư Tăng hoặc bốn vị hay nhiều hơn, đều phĂąn tĂĄn đi nơi nĂ y nơi nọ giĂĄo hĂła. Đến mĂča hạ, ở Ấn Độ mưa nhiều, nước lũ cho nĂȘn sự đi lại khĂł khăn. Đức Phật ra lịnh cho chư Tăng đến mĂča hạ phải qui tụ một nơi để thĂșc liễm tu hĂ  nh vĂ  kiểm soĂĄt lẫn nhau, để tu hĂ nh thế nĂ o cho nghiĂȘm chỉnh. Trong ba thĂĄng hạ, tức lĂ  đến ngĂ y rằm thĂĄng bảy, chư Tăng nhắc nhở lẫn nhau trong hĂ nh động, ngĂŽn ngữ, tư tưởng cĂČn khuyết, cĂČn sơ sĂłt. Sau đĂł mỗi nhĂłm tĂčy phương tiện mĂ  đi giĂĄo hĂła khắp nơi. Như vậy, ba thĂĄng an cư tĂ­nh từ rằm thĂĄng tư đến rằm thĂĄng bảy. NgĂ y rằm thĂĄng bảy gọi lĂ  lễ “tự tứ”, cĂł nghĩa lĂ : Tự: mĂŹnh, Tứ: mặc tĂŹnh, tức lĂ  chĂ­nh mĂŹnh đi ra giữa đại chĂșng, giữa chư Tăng cầu thỉnh tất cả chư Tăng xĂ©t thấy mĂŹnh cĂł những sơ sĂłt nĂ o, những lỗi lầm nĂ o thĂŹ yĂȘu cầu hoan hỉ chỉ dạy để cho mĂŹnh nhận lấy lỗi lầm, ăn năn chừa cải. ĐĂł lĂ  Tự tứ.

Trong bĂ i văn tự tứ nĂłi thế nĂ y:

Một vị Tăng hay lĂ  vị Tỳ-kheo đến trước những vị Tỳ-kheo khĂĄc cĂł đức hạnh hơn thưa:

“Bạch Đại đức một lĂČng thương xĂłt, con lĂ  Tỳ-kheo A hay B gĂŹ đĂł, trong ba thĂĄng an cư, Đại đức hoặc thấy hoặc nghe hoặc nghi con cĂł lỗi lầm gĂŹ thĂŹ thương xĂłt chỉ dạy cho, con sẽ phĂĄt lồ sĂĄm hối đĂșng phĂĄp.”

Như vậy, trong ba thĂĄng an cư hoặc đĂ­ch thĂąn họ thấy những cĂĄi sơ sĂłt của mĂŹnh hoặc lĂ  họ nghe những người xung quanh nĂłi lại những cĂĄi sơ sĂłt của mĂŹnh, hoặc lĂ  họ thấy cĂĄi sơ sĂłt mĂ  khĂŽng biết cĂł đĂșng hay khĂŽng, trong lĂČng cĂČn nghi ngờ. Trong ba trường hợp đĂł, mĂŹnh đều ra cung thỉnh nĂłi thẳng, chỉ thẳng ra cho mĂŹnh biết dĂč cĂĄi đĂł chưa phải lĂ  tội. Họ cĂČn nghi ngờ mĂ  nĂłi ra mĂŹnh cũng sẵn sĂ ng nghe, xĂ©t thấy đĂșng lĂ  lỗi thĂŹ sĂĄm hối phĂĄt lồ, do đĂł tội lỗi sẽ giảm bớt. Như vậy mới lĂ  người lĂ m lễ tự tứ đĂșng phĂĄp. QuĂ­ vị thấy cĂł gĂŹ đặc biệt trong lễ tự tứ nĂ y khĂŽng?

Theo tĂąm lĂœ con người như quĂ­ vị thấy, tất cả chĂșng ta Ă­t cĂł người muốn nĂłi cĂĄi dở của mĂŹnh, hoặc che cĂĄi hay của mĂŹnh. CĂł người nĂ o muốn nghe người ta nĂłi cĂĄi xấu của mĂŹnh hay khĂŽng? Đa số đều muốn khoe cĂĄi hay mĂ  sợ thấy cĂĄi dở của mĂŹnh, cho nĂȘn luĂŽn luĂŽn người ta khoe cĂĄi hay vĂ   giấu cĂĄi dở mĂŹnh. ĐĂł lĂ  bệnh phổ thĂŽng của mọi người. CĂĄi bệnh đĂł lĂ m cho con người tiến hay lĂči? Nếu cĂł hay một chĂșt đem ra khoe khoang, cĂČn xấu thĂŹ che giấu để người ta khĂŽng thấy, đĂł lĂ  tĂąm niệm hiếu danh. Nếu mĂŹnh một lần lĂ m xấu giấu được, khĂŽng ai biết, khĂŽng ai chỉ, khĂŽng ai nhắc, thĂŹ lần xấu thứ hai, thứ ba sẽ theo đĂł mĂ  diễn tiến. CĂ ng che giấu tội lỗi thĂŹ tội lỗi cĂ ng nhiều. Cho nĂȘn cĂĄi bệnh che giấu khiến con người thoĂĄi bộ. LĂ m cho con người hư hỏng lĂ  bệnh hay khoe cĂĄi hay vĂ  che giấu cĂĄi dở của mĂŹnh.

Tinh thần người Phật tử lĂ  tinh thần tự giĂĄc, cho nĂȘn chĂșng ta phải tự giĂĄc cĂĄi gĂŹ chĂșng ta xấu. Lỡ phạm tội lỗi chĂșng ta phải nhĂŹn thẳng phải thấy rĂ” rĂ ng, tự tỉnh, tự giĂĄc. Thấy được tội lỗi của mĂŹnh, tự mĂŹnh hối cải. ĐĂł lĂ  tinh thần phĂĄt lồ. PhĂĄt lồ lĂ  gĂŹ? - LĂ  vạch cĂĄi lỗi của mĂŹnh trước mọi người, trước chư Tăng, trước quần chĂșng để cho người ta thấy rĂ” mĂŹnh cĂł cĂĄi dở đĂł, để mĂŹnh hứa trước mọi người sẽ cải tiến khĂŽng cĂČn dở nữa. ThĂĄng nĂ y tĂŽi cĂł cĂĄi dở đĂł, tĂŽi phĂĄt lồ với quĂ­ vị, quĂ­ vị đĂŁ nhận đĂŁ chứĂčng thật lời của tĂŽi rồi, hứa rằng thĂĄng sau tĂŽi sẽ tiến hơn khĂŽng cĂČn dở như vậy nữa. Như thế mỗi thĂĄng mỗi năm tĂŽi đều phĂĄt lồ, trước tĂŽi cĂł dở mười, cĂł yếu lắm đi nữa, lần lần tĂŽi cĂČn dở chĂ­n, dở tĂĄm rồi bảy chớ khĂŽng đến nỗi nĂ o trước sao, sau vậy. Nếu trước phĂĄt lồ rồi sau cũng phĂĄt lồ y như thế thĂŹ cĂł hổ thẹn hay khĂŽng. Tự nhiĂȘn mĂŹnh hổ thẹn, khĂŽng thể nĂ o chịu nổi. Giả sử mĂŹnh cĂł yếu đuối một lần phĂĄt lồ, lần sau cĂł phạm hay cĂł tội cũng rĂĄng nhẹ hơn một chĂșt, nếu nhiều lần như vậy tự nhiĂȘn lỗi cĂ ng ngĂ y cĂ ng giảm xuống. Tinh thần phĂĄt lồ lĂ  tinh thần tự giĂĄc. Nếu mĂŹnh khĂŽng biết lỗi thĂŹ lĂ m sao phĂĄt lồ. Biết lỗi lĂ  tỉnh hay mĂȘ? Nếu mĂȘ thĂŹ đĂąu biết lỗi. Người mĂȘ lĂ  người lĂ m quấy khĂŽng biết mĂŹnh lĂ  quấy, lĂ m sai khĂŽng dĂĄm nhận mĂŹnh lĂ  sai. Nếu mĂŹnh quấy tự biết mĂŹnh lĂ  quấy đĂł thật lĂ  tỉnh. Tỉnh tức lĂ  giĂĄc. Nhưng cĂł người cĂł tỉnh cĂł giĂĄc mĂ  khĂŽng dĂĄm nĂłi, khĂŽng dĂĄm trĂŹnh bĂ y thĂŹ sao? - ĐĂł lĂ  yếu đuối thiếu gan dạ. Cho nĂȘn đối với người tu phải cĂł tinh thần tự giĂĄc tức biết nhận sự sai lầm, những lỗi của mĂŹnh. Phải can đảm trĂŹnh bĂ y cĂĄi quấy của mĂŹnh trước quần chĂșng để người ta chứng nhận cho mĂŹnh điều đĂł. Hứa trước quần chĂșng mĂŹnh sẽ cải đổi, chớ khĂŽng hứa suĂŽng. Hứa như vậy để mĂ  tiến bộ. Do đĂł nĂȘn người tu theo đạo Phật lĂ  người biết tự giĂĄc. ĐĂł lĂ  tự nhận lỗi để phĂĄt lồ. Nhưng tự nhận lỗi khĂŽng chưa đủ. Khi cĂĄi giĂĄc mĂŹnh cĂČn yếu chưa đầy đủ, cho nĂȘn cĂł cĂĄi mĂŹnh biết cĂł cĂĄi mĂŹnh chưa biết, mĂŹnh dễ tha thứ cho mĂŹnh lắm, mĂŹnh dễ quĂȘn cĂĄi dở của mĂŹnh lắm. Cho nĂȘn đức Phật dạy chĂșng ta cần phải gan dạ hơn nữa, vĂ  phải can đảm nghe lời chỉ trĂ­ch của bạn bĂš, của những người thiện tri thức lớn hơn mĂŹnh. Như vậy khả dĩ bao nhiĂȘu lỗi lầm của mĂŹnh mới tiĂȘu tan được, mới cĂł thể ra ngoĂ i vĂČng lỗi lầm được. Nếu mĂŹnh khĂŽng gan dạ nghe, khĂŽng nhận những lời chỉ trĂ­ch thĂŹ mĂŹnh khĂł mĂ  tiến được. Cho nĂȘn tinh thần “Tự tứ” lĂ  tinh thần cầu những người chung quanh mĂŹnh thấy những điều sơ sĂłt những chỗ lỗi lầm do mĂŹnh khĂŽng thấy được, nhờ chỉ cho mĂŹnh nhắc cho mĂŹnh để cải tiến.

Như vậy người học đạo, người tu hĂ nh, nhất lĂ  người sống trong đoĂ n thể mĂ  biết tự giĂĄc phĂĄt lồ lỗi mĂŹnh vĂ  can đảm nghe lời chỉ dạy những lỗi lầm những sơ sĂłt của mĂŹnh, thĂŹ người đĂł cĂł tiến bộ hay khĂŽng? Đương nhiĂȘn chĂșng ta thấy tĂąm hồn con người đĂł lĂ  một tĂąm hồn tỉnh giĂĄc sĂĄng suốt vĂ  họ lĂ  con người cĂł Ăœ chĂ­ quả cảm để cầu tiến. Nếu khĂŽng cầu tiến thĂŹ đĂąu chịu nghe lời phĂȘ bĂŹnh của người. DĂĄm nghe lời phĂȘ bĂŹnh để chấp nhận sửa đổi đĂł lĂ  tinh thần cầu tiến mạnh mẽ vĂŽ cĂčng. Do đĂł hai điểm quan trọng nhất của tinh thần tự tứ lĂ  biết tự giĂĄc để phĂĄt lồ sĂĄm hối giữa đại chĂșng vĂ  thĂ nh tĂąm cầu xin chư Tăng vĂŹ mĂŹnh chỉ lỗi cho. Sau khi được chỉ lỗi, vui mừng sĂĄm hối trước đại chĂșng. Như vậy tức lĂ  con người tự giĂĄc nhận lỗi để sửa đổi. Họ sẽ từ từ vươn lĂȘn, chớ khĂŽng bao giờ đứng yĂȘn một chỗ. Cho nĂȘn người tu mĂ  thiếu tinh thần phĂĄt lồ vĂ  thiếu tinh thần tự tứ, người tu đĂł khĂł tiến được. VĂŹ vậy trong đoĂ n thể chư Tăng, đến ngĂ y rằm thĂĄng bảy tức lĂ  ngĂ y Tự tứ. NgĂ y mĂ  toĂ n thể đều ra giữa đại chĂșng phĂĄt lồ vĂ  cầu xin chư Tăng thấy, nghe, nghi những lỗi gĂŹ của mĂŹnh đem ra chỉ dạy cho, để mĂŹnh hứa nguyện sửa đổi. ĐĂł lĂ  ngĂ y đức Phật vui mừng nhất.

Bởi trĂŽng thấy đoĂ n thể đệ tử của mĂŹnh biết tiến bộ vĂ  biết tỉnh giĂĄc, nĂȘn Phật hoan hỉ. Nếu khĂŽng lĂ m đĂșng như vậy, đức Phật khĂŽng vui. NgĂ y đĂł lĂ  ngĂ y được đức Phật khuyến khĂ­ch cĂșng dường. VĂŹ sao? VĂŹ lĂ  ngĂ y chư Tăng cĂł tinh thần cao cả gan dạ nhận lỗi mĂŹnh, vĂ  những lời phĂȘ bĂŹnh chỉ trĂ­ch của chung quanh, hứa sửa đổi. Thật đĂł lĂ  ngĂ y quĂ­ giĂĄ đĂĄng khen. Cho nĂȘn Phật nĂłi chĂ­nh ngĂ y nĂ y mới lĂ  ngĂ y toĂ n thể Phật tử cĂșng dường cầu nguyện cĂł thể được như Ăœ. Nếu chư Tăng khĂŽng lĂ m được như vậy thĂŹ cầu nguyện chưa chắc được như Ăœ. Tại sao? VĂŹ người biết tỉnh giĂĄc lĂ  người cĂł Ăœ chĂ­ cầu tiến thĂŹ đối với việc lĂ m của họ cĂł thể việc gĂŹ cũng xong. Đối với sự giĂșp đỡ người thĂŹ việc giĂșp đỡ nĂ o cũng thĂ nh tựu. Bởi vĂŹ lĂșc nĂ o họ cũng tỉnh giĂĄc vĂ  lĂșc nĂ o cũng cầu tiến, người như vậy mới đạt được cĂĄi gĂŹ họ mong muốn. VĂ  muốn lợi Ă­ch cho người mới thĂ nh tựu viĂȘn mĂŁn. Cho nĂȘn đức Phật nĂłi chỉ cĂł ngĂ y Tự tứ cầu nguyện mới được như Ăœ. ThĂ nh thử đức Phật khuyến khĂ­ch, Phật tử thể theo tinh thần tự tứ mĂ  thực hiện lễ cầu nguyện. Nhưng thật ra nhằm khuyến khĂ­ch chư Tăng nhiều hơn, khuyến khĂ­ch tinh thần phĂĄt lồ vĂ  tinh thần tự tứ.

Nhưng gần đĂąy chĂșng ta đi ngược một chĂșt với tinh thần tự tứ của chư Tăng. Tỷ dụ như một chĂča cĂł một hai cĂŽ ni, một hai ĂŽng thầy, khĂŽng an cư, khĂŽng tự tứ mĂ  cũng tổ chứĂčc lễ Vu-lan long trọng, nĂłi rằng cĂșng dường ngĂ y Vu-lan lĂ  cĂł phước, nĂ o lĂ  giải đảo huyền, nĂ o lĂ  xĂĄ tội vong nhĂąn v.v... MĂ  khi đĂł quĂ­ vị chưa ĂĄp dụng đĂșng tinh thần tự tứ. Họ khĂŽng sống với tĂ­nh cĂĄch đoĂ n thể, khĂŽng sống đĂșng với tinh thần Phật muốn dạy, mĂ  họ hĂŽ hĂ o như vậy thĂŹ quĂ­ vị thấy cĂł hợp lĂœ hay khĂŽng? VĂŹ vậy chĂșng ta phải thấy rĂ” người tu theo đạo Phật lĂ  đi trĂȘn con đường giĂĄc ngộ. Một việc nĂ o cũng lĂ m đĂșng theo tinh thần giĂĄc ngộ. NgĂ y tự tứ lĂ  ngĂ y tự giĂĄc của mọi người. Sau khi xĂ©t lại cĂĄi sai lầm, cĂĄi sĂĄi quấy của mĂŹnh trong ba thĂĄng để mĂŹnh phĂĄt lồ sĂĄm hối vĂ  đồng thời nhờ chung quanh, những người cĂł tinh thần cương trực, chỉ những lỗi lầm sơ sĂłt của mĂŹnh. Như vậy sự tiến bộ của mĂŹnh cĂ ng ngĂ y cĂ ng vươn lĂȘn. Tinh thần giĂĄc ngộ như vậy mới lĂ  tinh thần giĂĄc ngộ mạnh mẽ sĂĄng suốt.

ĐĂł lĂ  tĂŽi nĂłi thẳng cho quĂ­ vị thấy tinh thần tự tứ của ngĂ y rằm thĂĄng bảy. VĂŹ vậy ngĂ y rằm thĂĄng bảy nĂ y mới nĂȘn lĂ m lễ Vu-lan, tức lĂ  Phật tử mới nĂȘn cĂșng dường để theo sở nguyện của mĂŹnh. CĂĄi sở nguyện được hay khĂŽng được, đĂł lĂ  vấn đề khĂĄc. Nhưng điều đĂĄng chĂș Ăœ hơn hết lĂ  đức Phật đặt trọng vấn đề tự tứ của chư Tăng, mới lĂ  ngĂ y quan trọng.

QuĂ­ vị nhớ trong kinh Vu-lan, chuyện bĂ  Thanh Đề, nhờ ngĂ i Mục-kiền-liĂȘn cĂșng dường chư Tăng ngĂ y rằm thĂĄng bảy mới thoĂĄt được nghiệp ngạ quỉ mĂ  sanh lĂȘn cung trời ThiĂȘn Hoa Quang. Như vậy tinh thần cầu nguyện đĂł ảnh hưởng thế nĂ o với người cĂł tội lỗi? Chỗ nĂ y tĂŽi nĂłi thĂȘm cho quĂ­ vị thấy tinh thần đạo Phật. ChĂ­nh những việc lĂ m đĂł khĂŽng nằm trong cĂĄc mĂȘ tĂ­n mĂ  nằm trong tự giĂĄc, tại sao vậy?

Trước tĂŽi xin kể những chuyện khĂĄc, dĂč chuyện nĂ y cĂł tĂ­nh cĂĄch ngụ ngĂŽn, nhưng để quĂ­ vị thấy tinh thần của đạo Phật. Như đức Phật kể lại tiền thĂąn của NgĂ i: “Thuở nọ NgĂ i lĂ  một đứa con bất hiếu. Khi NgĂ i chết rồi vĂ o địa ngục. Ngay trong ngục tối, NgĂ i thấy ở đĂ ng xa một đĂłm lửa sĂĄng rực đi đến dần dần tới NgĂ i. Tới gần NgĂ i  nhĂŹn rĂ” ra lĂ  người đang bị một vĂČng lửa chĂĄy đỏ rực trĂȘn đầu. Người đĂł la rĂȘn thảm thiết. Khi tới gần, NgĂ i hỏi: Anh ơi, anh lĂ m tội gĂŹ mĂ  chịu khổ lắm vậy? ChĂ ng đĂł nĂłi: KhĂŽng giấu gĂŹ ĂŽng, thuở xưa tĂŽi ở nhĂąn gian, vĂŹ bất hiếu với cha mẹ, nĂȘn giờ đĂąy tĂŽi mới khổ như thế nĂ y.

NgĂ i hỏi: Tới bao giờ anh mới hết tội đĂł?

ChĂ ng kia đĂĄp: Chừng nĂ o ở nhĂąn gian cĂł người nĂ o bất hiếu như tĂŽi, đến thế cho tĂŽi, thĂŹ tĂŽi mới hết.

Vừa nĂłi thĂŹ vĂČng lửa bĂȘn đầu anh kia chụp qua đầu của NgĂ i. NgĂ i bị đốt chĂĄy đỏ rực, đau khổ quĂĄ NgĂ i rĂȘn la thảm thiết. Khi tỉnh lại, NgĂ i hỏi: Đầu tĂŽi bị vĂČng lửa đốt chĂĄy như thế nĂ y, thưa anh chừng nĂ o mới hết, mới khỏi cĂĄi khổ nĂ y? Anh kia nĂłi: Chừng nĂ o cĂł người ở trĂȘn nhĂąn gian bất hiếu như ĂŽng, xuống thế cho ĂŽng thĂŹ ĂŽng mới hết.

Khi đĂł NgĂ i liền nhớ cĂĄi khổ bị đốt như thế nĂ y đau đớn vĂŽ ngần, nếu cĂł người chịu khổ như mĂŹnh thĂŹ tội nghiệp họ quĂĄ, chi bằng để một mĂŹnh mĂŹnh chịu khổ thĂŽi. Cho nĂȘn lĂșc đĂł NgĂ i liền phĂĄt nguyện: ‘Nguyện tất cả người trĂȘn thế gian, từ đĂąy về sau đừng cĂł ai bất hiếu như tĂŽi, để một mĂŹnh tĂŽi chịu cĂĄi khổ nĂ y suốt đời suốt kiếp.’ NgĂ i vừa nguyện xong, bất thần vĂČng lửa bay đĂąu mất. NgĂ i thấy NgĂ i sanh lại ở chỗ khĂĄc tốt đẹp, khĂŽng cĂČn vĂČng lửa nữa.”

Qua cĂąu chuyện đĂł tuy cĂł tĂ­nh cĂĄch ngụ ngĂŽn nhưng cho chĂșng ta thấy rĂ” một khi phĂĄt tĂąm từ bi rộng lớn, phĂĄt tĂąm đạo đức, thĂŹ bao nhiĂȘu cĂĄi khổ cĂĄi xấu tan đi.

NgĂ i kể thĂȘm một cĂąu chuyện nữa: “Một thuở nọ NgĂ i cũng lĂ  một người đi săn bắn tĂ n bạo. NgĂ i chết vĂ  rơi vĂ o địa ngục. Khi đĂł quỉ sứ bắt NgĂ i kĂ©o trĂȘn một chiếc xe cồng kềnh, phĂ­a sau cĂł người cầm roi đĂĄnh. NgĂ i kĂ©o nặng nề quĂĄ. KĂ©o qua chỗ tra tấn người, NgĂ i thấy những người khĂĄc bị đĂĄnh đập hĂ nh hạ đau khổ rĂȘn siết quĂĄ đỗi. NgĂ i động lĂČng thương nguyện rằng: ‘TĂŽi xin thế tất cả cĂĄi đau khổ của những người ở trong đĂąy! Tất cả cĂĄi khổ của những người đang chịu, xin để cho mĂŹnh tĂŽi chịu.’ NgĂ i vừa phĂĄt nguyện như vậy thĂŹ tự thấy NgĂ i khĂŽng cĂČn ở địa ngục nữa.”

Qua hai cĂąu chuyện trĂȘn đĂł, chĂșng ta thấy bĂ  Thanh Đề, sở dĩ ra khỏi vĂČng ngạ quỉ khĂŽng phải chư Tăng cĂł tĂ i xuống đĂł dẫn bĂ  lĂȘn. KhĂŽng phải cĂł một ĂŽng DiĂȘm vương hay ĂŽng chĂșa ngục nĂ o mở thả bĂ , Ăąn xĂĄ cho bĂ . Cũng khĂŽng phải ĂŽng Phật trĂȘn đĂ i sen xuống cứu bĂ , mĂ  chĂ­nh vĂŹ tinh thần sĂĄng suốt vĂ  Ăœ chĂ­ mạnh mẽ cầu tiến của chư Tăng đồng chung một tĂąm niệm hướng về bĂ , mong bĂ  cải đổi tĂąm niệm xấu xa. Do sự giao cảm đĂł mĂ  bĂ  tỉnh giĂĄc, chĂ­nh bĂ  tỉnh giĂĄc biết được tội lỗi của bĂ , nĂȘn bĂ  hối hận chừa bỏ. Do đĂł bĂ  thoĂĄt khỏi cĂĄi khổ ngạ quỉ. ThoĂĄt khỏi lĂ  do tĂąm hối cải tỉnh giĂĄc chớ khĂŽng phải do sức bĂȘn ngoĂ i bắt mĂŹnh hay thả mĂŹnh. ĐĂł lĂ  sự thật do tinh thần tỉnh giĂĄc của con người mĂ  ra. Chỗ đĂł đối với quĂ­ vị hơi lạ, nhưng sự thật lĂ  thế.

ChĂșng ta thấy rằng tất cả cĂĄi khổ lĂ  gốc ở mĂȘ lầm. MĂȘ lầm nĂȘn mới cĂł hiểu sai quấy tự mĂŹnh thấy mĂŹnh khổ. ThĂ­ dụ chĂșng ta gặp một người mĂ  mĂŹnh cĂł ĂĄc cảm, thấy mặt họ mĂŹnh vui hay buồn? Người mĂ  mĂŹnh cĂł ĂĄc cảm thấy mặt họ lĂ  mặt đổi sắc, cảm thấy buồn cảm thấy khổ, khi phải đối đầu với họ. Nếu khi đĂł mĂŹnh dẹp phiền nĂŁo, cĂł tĂąm niệm sĂĄng suốt hơn, vĂ  tự hỏi tại sao mĂŹnh xấu như vậy? Tại sao mĂŹnh cĂł ĂĄc cảm với người ta? Người ta cũng tốt, tại sao mĂŹnh cĂł niệm xấu với họ. Tự hỏi như vậy lĂ  mĂŹnh cĂł thể vui cười cĂčng họ vĂ  khĂŽng cĂČn bực bội khĂł chịu nữa. Quan niệm bực bội khĂł chịu đĂł lĂ  bởi mĂŹnh cố chấp, mĂŹnh ghen ghĂ©t, mĂŹnh xấu xa đối với mọi người. Gặp họ thấy họ lĂ  mĂŹnh cảm như cĂł cĂĄi gĂŹ bực bội, rồi tự mĂŹnh chuốc khổ. Hết khổ khĂŽng phải Phật cứu mĂŹnh mĂ  chĂ­nh lĂ  nhờ mĂŹnh đổi được quan niệm của mĂŹnh.

Đến đĂąy tĂŽi kể một cĂąu chuyện trong Thiền tĂŽng. Vị Tổ thứ tư Thiền tĂŽng lĂ  Tổ Đạo TĂ­n, lĂșc cĂČn lĂ m Sa-di khi gặp Tổ Tăng XĂĄn (Tổ thứ ba ở Trung Hoa), NgĂ i thưa: Bạch HĂČa thượng dạy cho con phương phĂĄp giải thoĂĄt.

Tổ nhĂŹn sững vĂ o mặt hỏi: Ai trĂłi buộc chĂș?

NgĂ i quĂœnh lĂȘn khĂŽng biết ai trĂłi buộc mĂŹnh. NhĂŹn lại mĂŹnh một hồi, NgĂ i thưa: Bạch HĂČa thượng khĂŽng ai trĂłi buộc con hết.

Tổ bảo: Như vậy cầu giải thoĂĄt lĂ m gĂŹ?

NgĂ i liền tỉnh ngộ.

VĂŹ mĂŹnh đeo một quan niệm đen tối nĂȘn cảm thấy mĂŹnh xấu xa đau khổ. Giờ đĂąy mĂŹnh xem cĂĄi xấu xa đau khổ đĂł nĂł cĂł từ đĂąu? Khi tĂŹm lại thĂŹ quan niệm xấu xa đau khổ khĂŽng cĂČn nữa. NhĂŹn thẳng nĂł thĂŹ khĂŽng thấy cĂł, lĂșc đĂł liền hết khổ. Hết khổ ngay trong cĂĄi mĂŹnh nhĂŹn thẳng lại nĂł, mĂŹnh trĂŽng khĂŽng thấy nĂł. Như vậy để thấy rĂ” cĂĄi khổ hay khĂŽng khổ gốc ở mĂȘ lầm hay giĂĄc ngộ. Cho nĂȘn người giĂĄc ngộ lĂ  người thoĂĄt khổ, người mĂȘ lầm lĂ  người đau khổ.

ĐĂł lĂ  then chốt của đạo Phật. Đạo Phật cứu khổ khĂŽng cĂł nghĩa lĂ  cứu người nĂ y ở trong địa ngục đem bỏ trĂȘn trời. Hay lĂ  đem người nĂ y ở trong ngạ quỉ đưa lĂȘn một cĂ”i nĂ o khĂĄc. Cứu khổ chĂ­nh lĂ  chỉ dạy cho người ta giĂĄc ngộ. MĂ  giĂĄc ngộ rồi liền đĂł được giải thoĂĄt.

TĂŽi thĂ­ dụ một cĂĄch cụ thể hơn. ThĂ­ dụ cĂł người bị bệnh ghiền ĂĄ phiện. Khi họ bị ghiền mĂ  khĂŽng cĂł tiền để mua ĂĄ phiện, họ phải ụa mửa đủ thứ hết. HĂŽm nĂ o đĂąy họ tỉnh giĂĄc, họ thấy cĂĄi ghiền ĂĄ phiện nĂ y lĂ  tai họa lớn. Thấy mĂŹnh bị hao mĂČn khĂ­ lực, tĂ i sản tiĂȘu hao, lĂ m mọi người lo sợ v.v... bĂąy giờ nhất định cương quyết bỏ, khĂŽng ghiền nữa. Khi họ giĂĄc ngộ, biết được tai họa của nĂł, cương quyết bỏ, thĂŹ từ đĂł về sau họ sẽ thắng được bệnh ghiền. Thắng được bệnh ghiền lĂ  họ hết khổ. MĂ  hết khổ đĂł lĂ  do ai? Do họ tự giĂĄc. Phải vậy khĂŽng? Họ biết được cĂĄi dở, cả quyết chừa thĂŹ họ hết khổ. Nếu họ khĂŽng biết cĂĄi đĂł dở, khĂŽng biết cĂĄi đĂł lĂ  tai họa thÏ  họ cứ đi sĂąu, đi sĂąu mĂŁi khĂŽng bao giờ ra khỏi khổ. Cho nĂȘn cĂł giĂĄc ngộ mới được giải thoĂĄt. CĂł giĂĄc ngộ mới hết khổ. ĐĂł lĂ  sự thật mĂ  lĂąu nay chĂșng ta Ă­t cĂł quan niệm rĂ”. ChĂșng ta cứ tưởng rằng đi đến chĂča cầu cĂșng rồi Phật lĂ m cho mĂŹnh hết khổ. ĐĂł lĂ  cĂĄi hiểu lệch lạc c911;a chĂșng ta. Tinh thần Phật tử đi chĂča phải lĂ  tinh thần cầu học đạo để thấy phương phĂĄp tu hĂ nh, để mĂŹnh được giĂĄc ngộ. MĂ  giĂĄc ngộ chĂ­nh lĂ  tự mĂŹnh cứu khổ cho mĂŹnh, chớ khĂŽng phải ai cứu khổ cho mĂŹnh được. VĂŹ vậy đức Phật đĂŁ từng nĂłi: “Ta khĂŽng cĂł quyền ban ơn giĂĄng họa cho ai.” Nếu NgĂ i cĂł quyền ban ơn giĂĄng họa cho người thĂŹ NgĂ i thĂ nh thần linh mất rồi, khĂŽng phải lĂ  Phật nữa. ChĂ­nh NgĂ i dạy phương phĂĄp giĂĄc ngộ, tự chĂșng ta bỏ đi cĂĄi mĂȘ lầm, cĂĄi sĂĄi quấy của mĂŹnh. ĐĂł lĂ  cứu khổ, lĂ  điều căn bản của đạo Phật.

HĂŽm nay lĂ  ngĂ y lễ Vu-lan, chĂșng ta phải biết rĂ” tinh thần Vu-lan. ĐĂł lĂ  tinh thần tự giĂĄc vĂ  cầu tiến. Tự giĂĄc bằng cĂĄch nhĂŹn thẳng lại những cĂĄi sĂĄi quấy, những lỗi lầm của mĂŹnh. Can đảm ra trước quần chĂșng để xin phĂĄt lồ sĂĄm hối. Cầu tiến bằng cĂĄch mong mọi người chung quanh nhĂŹn thấy cĂĄi sơ sĂłt lỗi lầm của mĂŹnh, chỉ bảo cho mĂŹnh chừa cải. ĐĂł mới đĂșng lĂ  tinh thần Vu-lan. ĐĂșng tinh thần đĂł thĂŹ việc lĂ m nĂ o cũng thĂ nh tựu như Ăœ. Do đĂł trong đạo Phật, thường nĂłi ngĂ y tự tứ lĂ  ngĂ y cĂł cĂŽng đức lớn.

Lễ Vu-lan, tinh thần giĂĄc ngộ lĂ  thế đĂł, khĂŽng phải ỷ vĂ o sức cầu nguyện mĂ  khĂŽng tự giĂĄc. Đức Phật chọn ngĂ y tự tứ để khuyĂȘn Phật tử lĂ m lễ Vu-lan lĂ  do Ăœ nghĩa nĂ y.

Giờ đĂąy chĂșng tĂŽi nĂłi tới giĂĄc ngộ. CĂł phải giĂĄc ngộ ở chừng nĂ y thĂŽi hay cĂČn phải giĂĄc ngộ thế nĂ o nữa? Ở đĂąy chĂșng tĂŽi cũng lược nĂȘu lĂȘn qua một Ă­t điểm giĂĄc ngộ để quĂ­ vị thấy. Với tinh thần Vu-lan giĂĄc ngộ của những người biết tự giĂĄc vĂ  biết cầu tiến. Ở trong phạm vi phĂ m phu cĂČn lĂ  phĂ m Tăng chĂșng ta phải mong giĂĄc ngộ vĂ  cầu tiến như thế.

Tiến dần lĂȘn những bậc ThĂĄnh tăng thĂŹ sự giĂĄc ngộ thế nĂ o? ĐĂąy tĂŽi kể trong đạo Phật cĂł những vị ThĂĄnh tăng chứng quả Thanh văn, DuyĂȘn giĂĄc hay lĂ  BĂ­ch-chi Phật đến Bồ-tĂĄt v.v... Những vị giĂĄc ngộ đĂł như thế nĂ o? Những hĂ ng Thanh văn sau khi nghe Phật nĂłi phĂĄp Tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế vĂ  Đạo đế, cĂĄc vị nhN53;n đĂșng như thật, đĂșng tinh thần giĂĄc ngộ. Nhận rĂ” rĂ ng khĂŽng nghi ngờ gọi lĂ  chứng đạo hay thấy đạo. Khi thấy đạo, chứng đạo rồi bước vĂ o hĂ ng Tu-đĂ -hoĂ n lần đến A-la-hĂĄn. Như vậy chỗ giĂĄc ngộ đĂł như thế nĂ o? ThĂ­ dụ như nghe đức Phật nĂłi: “tất cả thế gian lĂ  khổ” chư Tỳ-kheo thấy như thế nĂ o? Biết lời Phật đĂșng hay lĂ  khĂŽng đĂșng? Phần nhiều vị nĂłi thế gian lĂ  khổ, cứ nghĩ khổ lĂ  đĂłi khổ, lĂ  lạnh khổ lĂ  đau ốm v.v... Cho những điều khổ đĂł lĂ  khổ của Phật nĂłi. Sự thật đức Phật nĂłi thế gian khổ, lĂ  vĂŽ thường. Tại sao vĂŽ thường lĂ  gốc của khổ? Bởi vĂŹ thĂŽng thường kể nĂ o Tứ khổ, nĂ o BĂĄt khổ. Tứ khổ lĂ  sanh lĂŁo bệnh tử. BĂĄt khổ lĂ  Tứ khổ thĂȘm cầu bất đắc khổ, ĂĄi biệt ly khổ, oĂĄn tắng hội khổ, vĂ  ngũ ấm xĂ­ thạnh khổ. Như vậy cĂĄi khổ đĂł ở trong qui luật vĂŽ thường. Người ta ai khĂŽng nghĩ rằng mĂŹnh sanh ra lớn lĂȘn, trong khi tuổi trẻ cĂČn khỏe mạnh sung tĂșc, Ă­t năm thấy mĂŹnh giĂ  mặt nhăn mĂĄ cĂłp. LĂșc đĂł cĂł buồn hay khĂŽng? Răng lung lay nhai khĂŽng biết ngon, mắt mờ thấy khĂŽng xa khĂŽng rĂ”. Tất cả những hiện tượng đĂł đều lĂ  hiện tượng khiến mĂŹnh khĂŽng được vui. KhĂŽng được vui tức lĂ  khổ, lĂ  bất như Ăœ. Thường thường cĂĄi khổ lĂ  cĂĄi bất như Ăœ? Ý mĂŹnh khĂŽng muốn bị mắt mờ tai điếc, răng rụng, mĂĄ cĂłp, mĂ  tất cả cĂĄi đĂł nĂł tới, mĂŹnh cĂł vui hay khĂŽng? ĐĂł lĂ  bất như Ăœ, mĂ  bất như Ăœ lĂ  khổ. CĂĄi khổ đĂł lĂ  gĂŹ? - LĂ  vĂŽ thường. MĂŹnh đang mạnh khỏe, hoạt động tự do, tới lui tự tại, phĂĄt lĂȘn đau rĂȘn hĂŹ hĂŹ đi khĂŽng được, hoạt động khĂŽng được, mĂŹnh cĂł khổ hay khĂŽng? ĐĂł lĂ  bất như Ăœ, đĂł lĂ  khổ. Như vậy sanh giĂ  bệnh chết đều lĂ  tướng trạng vĂŽ thường, đều lĂ  khổ. CĂĄi khổ đĂł cĂł người nĂ o khỏi hay khĂŽng? Nếu nĂłi khổ do đĂłi rĂĄch thĂŹ đức Phật nĂłi khĂŽng phải chĂąn lĂœ, mĂ  nĂłi riĂȘng cho một nhĂłm người nĂ o thĂŽi, vĂŹ cĂł người khĂŽng đĂłi khĂŽng rĂĄch thĂŹ họ khĂŽng khổ. Khổ lĂ  nĂłi chung cho toĂ n thể con người. Con người nĂ o cũng nằm trong luật VĂŽ thường. MĂ  đĂŁ nằm trong vĂŽ thường thĂŹ bất như Ăœ. ĐĂŁ bất như Ăœ thĂŹ khổ đau. CĂĄi khổ đĂł nếu chĂșng ta thấy tường tận tức lĂ  nhận chĂąn được khổ đế. Nhận chĂąn được khổ đế rồi, vậy khổ từ đĂąu mĂ  cĂł? - Từ tập đế. Tập đế lĂ  gĂŹ? Đức Phật nĂłi lĂ  tham sĂąn si. Nếu nĂłi rộ;ng ra thĂŹ mạn, nghi, ĂĄc kiến, tức lĂ  sĂĄu thứ căn bản phiền nĂŁo, nĂłi rộng nữa thĂŹ tới mấy chục thứ phiền nĂŁo. TĂłm lại tất cả phiền nĂŁo gốc từ tham sĂąn si mĂ  ra.

Sở dĩ chĂșng ta thấy chĂșng ta giĂ  nĂȘn buồn, bất như Ăœ lĂ  tại sao? LĂ  tại chĂșng ta cĂł lĂČng tham muốn mĂŹnh được trẻ mĂŁi. Nếu chĂșng ta khĂŽng cĂł lĂČng tham muốn trẻ hoĂ i thĂŹ giĂ  đến cĂł buồn khĂŽng? TĂłm lại trong ba cĂĄi tham sĂąn si, si lĂ  gốc. Tại si mĂ  mĂŹnh khĂŽng thấy được vĂŽ thường, khĂŽng nhận được lĂœ vĂŽ thường nĂȘn mĂŹnh mới tham hoĂ i, mới nghĩ tới sống mĂŁi. Phải vậy khĂŽng? Nghe đến cĂĄi chết lĂ  run lĂȘn, nghe đến cĂĄi giĂ  thĂŹ buồn đi. ĐĂł lĂ  tham. Nếu mĂŹnh biết rĂ” được lĂœ vĂŽ thường lĂ  mĂŹnh phĂĄ được cĂĄi si rồi. Trong cĂĄi vĂŽ thường mĂ  nghĩ lĂ  thường, lĂ  si mĂȘ. Biết rĂ” lĂœ vĂŽ thường mong cầu được trẻ mĂŁi, tham được khỏi chết  v.v... khĂŽng cĂČn nữa. MĂ  cĂĄi tham khĂŽng cĂČn thĂŹ cĂĄi giĂ  chết cĂČn khĂŽng? Như vậy phĂĄ được cĂĄi si thĂŹ khổ theo đĂł mĂ  hết.

CĂĄi sĂąn cũng vậy. Sở dĩ chĂșng ta thấy người khĂĄc mĂŹnh ghĂ©t mĂ  gặp mặt nhau thĂŹ bực bội gọi lĂ  oĂĄn tắng hội khổ. ChĂșng ta nhận được lĂœ vĂŽ thường rồi phải biết rằng con người mĂŹnh lĂ  vĂŽ thường mọi người cũng vĂŽ thường, thĂŹ giận nhau hờn nhau lĂ m gĂŹ? Tha thứ cho rồi, mĂŹnh cĂł sống đời đĂąu mĂ  ĂŽm ấp giận hờn. Tha thứ được thĂŹ mĂŹnh hết khổ, cho nĂȘn nhận chĂąn được lĂœ vĂŽ thường thĂŹ tĂąm sĂąn dịu xuống. Dịu xuống thĂŹ bớt khổ. Như vậy tham sĂąn si lĂ  gốc của khổ lĂ  Tập đế. Khổ lĂ  quả, tham sĂąn si lĂ  nhĂąn. Tham sĂąn si giảm thĂŹ khổ quả theo đĂł mĂ  giảm bớt. QuĂ­ vị thấy chĂșng ta tỉnh giĂĄc hay lĂ  chĂșng ta giĂĄc ngộ được nhĂąn khổ thĂŹ cĂĄi quả khổ theo đĂł mĂ  hết. Sở dĩ chĂșng ta khổ lĂ  vĂŹ chĂșng ta tham danh, tham lợi, tham đủ thứ. Cho nĂȘn mất một cĂĄi thĂŹ chĂșng ta khổ một cĂĄi, mất nhiều cĂĄi thĂŹ chĂșng ta khổ nhiều cĂĄi. ChĂșng ta tham nĂȘn muốn cĂĄi gĂŹ cũng gom về mĂŹnh cho nhiều. Mất lĂ  đau khổ liền. Như vậy khổ lĂ  tự lĂČng tham. Nếu chĂșng ta biết tất cả chĂșng ta đều lĂ  vĂŽ thường, đĂŁ lĂ  vĂŽ thường thĂŹ phải lĂ m sao?  - KhĂŽng nĂȘn ĂŽm ấp. ĐĂŁ lĂ  vĂŽ thường thĂŹ phải chia sớt nhau. VĂŽ thường mĂ  ĂŽm giữ, điều đĂł khĂŽng phải lĂ  vĂŽ thường. Phải vậy khĂŽng? Nếu biết được lĂœ vĂŽ thường thĂŹ chĂșng ta phải san sẻ phải chia sớt. Như vậy lĂ  chĂșng ta dứt lĂČng tham, tức hết khổ. ChĂșng ta lĂ m bể cĂĄi chĂ©n, buồn hai ba ngĂ y. Bởi tại chĂșng ta tưởng cĂĄi chĂ©n lĂ  cĂČn hoĂ i, nĂȘn lỡ bể chĂșng ta buồn. Nếu biết đĂł lĂ  vĂŽ thường lỡ bể rồi thĂŹ thĂŽi. DĂš dặt mai đừng cho cho bể nữa. CĂĄi khĂĄc cũng thế. Biết được lĂœ vĂŽ thường nĂȘn chĂșng ta khĂŽng ĂŽm ấp, khĂŽng gĂŹn giữ riĂȘng cho bản thĂąn mĂŹnh. ThĂąn mĂŹnh lĂ  vĂŽ thường sự vật cũng vĂŽ thường, tại sao mĂŹnh cứ gom gĂłp? Tại sao mĂŹnh cứ giữ gĂŹn? Khi gom gĂłp gĂŹn giữ đĂł lĂ  thỏa mĂŁn lĂČng tham. Khi biết được vĂŽ thường thĂŹ đĂąu cĂČn tham nữa. Hết tham lĂ  mĂŹnh hết khổ. ChĂ­nh vĂŹ ngộ được lĂœ vĂŽ thường, theo đĂł khổ sẽ giảm. VĂŹ vậy nĂȘn cĂĄc vị A-la-hĂĄn khĂŽng cĂČn khổ nữa. CĂČn mĂŹnh chưa biết được lĂœ vĂŽ thường nĂȘn mới khổ. Nhưng cĂł nhiều người nĂłi: “NĂłi như thầy cĂĄi gĂŹ cũng vĂŽ thường hết thĂŹ ai muốn lĂ m gĂŹ nữa.” Như vậy lĂ  lầm Ăœ của Phật. Đức Phật nĂłi vĂŽ thường để mĂ  tiến bộ chớ khĂŽng phải vĂŽ thường để mĂ  buĂŽng tay.

QuĂ­ vị nhớ bĂ i kinh nhật tụng hằng ngĂ y ở chĂča, tụng kinh Di-đĂ  rồi chĂșng ta tụng thĂȘm:

Thị nhật dĩ quĂĄ

Mạng diệc tĂčy giảm

Như thiểu thủy ngư

Tư hữu hĂ  lạc

Đại chĂșng đường cần tinh tiến

Như cứu đầu nhiĂȘn

Đản niệm vĂŽ thường

Thận vật phĂłng dật.

Nghĩa lĂ : NgĂ y nay đĂŁ qua, mạng sống theo đĂł mĂČn đi, như cĂĄ cạn nước, cĂČn cĂł gĂŹ vui? Thế nĂȘn, toĂ n thể đại chĂșng gắng mĂ  tinh tấn. Như cứu lửa chĂĄy đầu, chỉ nhớ vĂŽ thường, dĂš dặt chớ buĂŽng lung.

Hiểu được lĂœ vĂŽ thường rồi phải nỗ lực việc đĂĄng lĂ m phải lĂ m liền đừng chần chờ. Thấy người ta khổ, đĂłi rĂĄch mĂŹnh cĂł thể giĂșp được, khĂŽng nĂȘn nĂłi để mai mốt sẽ giĂșp. Điều đĂł khĂŽng phải lĂ  hiểu lĂœ vĂŽ thường rồi. Biết được lĂœ vĂŽ thường cĂĄi đĂĄng lĂ m phải lĂ m ngay. Mai mốt biết mĂŹnh cĂČn hay khĂŽng? Việc phải lĂ m lĂ  lĂ m liền. GiĂșp được cĂĄi lĂ  phải giĂșp liền. Tu được lĂ  cố gắng tu liền chớ đừng chờ tới mai tới mốt. ChĂ­nh đĂł lĂ  biết lĂœ vĂŽ thường. Cho nĂȘn cĂ ng nghĩ đến vĂŽ thường cĂ ng gắng lĂ m lĂ nh lĂ m phải, cĂ ng gắng giĂșp Ă­ch cho mọi người vĂ  cĂ ng cố gắng tiến tu. ĐĂł lĂ  hiểu lĂœ vĂŽ thường. Chớ nĂłi vĂŽ thường rồi buĂŽng tay chờ chết lĂ  trĂĄi với Ăœ của đức Phật dạy. VĂŹ vậy cho nĂȘn, chĂșng ta hiểu rĂ” được tinh thần đĂł, hiểu được lĂœ vĂŽ thường rồi, chĂșng ta mới cĂł thể thương nhau, giĂșp đỡ nhau mĂ  khĂŽng cĂł lĂČng tham gom gĂłp về mĂŹnh.

ĐĂł lĂ  tinh thần của đạo Phật.

ThĂ­ dụ chĂșng ta đi chung một chiếc tĂ u, chiếc tĂ u bị giĂŽng bĂŁo muốn chĂŹm. Tất cả người trong tĂ u đều lĂ  người thĂąn vĂ  biết số phận của mĂŹnh mong manh rồi. Giả sử lĂșc đĂł cĂł người bị sĂłng nhồi ngĂŁ qua mĂŹnh người kia hoặc lĂ  tĂ© đạp lĂȘn chĂąn người khĂĄc. LĂșc đĂł những người bị tĂ© vĂŽ mĂŹnh, hoặc bị đạp trĂȘn chĂąn cĂł nĂȘn giận khĂŽng? Hẳn lĂ  khĂŽng? VĂŹ lĂșc đĂł ai cũng cĂł tĂąm niệm rằng mạng sống mĂŹnh khĂŽng cĂČn bao lĂąu nữa, giận hờn lĂ m chi. Lo sao cho khỏi cĂĄi khổ nạn nĂ y, thĂŹ giờ đĂąu mĂ  giận hờn. ĐĂąy cũng vậy. Nếu chĂșng ta hiểu lĂœ vĂŽ thường lĂ  sao? Như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật hỏi cĂĄc vị Tỳ-kheo: “Mạng người sống được bao lĂąu?” Một thầy Tỳ-kheo trả lời: “Sống được vĂ i năm.” NgĂ i nĂłi: “Ngươi chưa hiểu đạo.” Thầy Tỳ-kheo khĂĄc trả lời: “Sống được trong một bữa ăn.” NgĂ i nĂłi: “Ngươi chưa hiểu đạo.” Đến vị sau nĂłi: “Chỉ sống trong hơi thở.” NgĂ i gật đầu nĂłi: “Ông thấy đạo rồi.” Như vậy thấy đạo lĂ  thấy được lĂœ vĂŽ thường. Nếu mĂŹnh thấy mạng sống trong hơi thở, khi hơ;i thở nĂ y cĂČn thĂŹ chĂșng ta phải lĂ m lợi mĂŹnh lợi người chứ. Mạng sống đĂŁ mong manh như vậy, tại sao mĂŹnh cĂČn ĂŽm ấp giận người nĂ y buồn người kia, trĂĄch người nọ. Như vậy cĂł phải tự mĂŹnh giết mĂČn mĂŹnh hay khĂŽng? MĂ  giết mĂČn một cĂĄch vĂŽ Ă­ch. VĂŹ chĂșng ta biết lĂœ vĂŽ thường nĂȘn phải vươn lĂȘn, phải lĂ m lợi mĂŹnh lợi người, đừng sơ sĂłt một giờ phĂșt quĂ­ bĂĄu nĂ o hết. ĐĂł mới lĂ  hiểu được tinh thần vĂŽ thường. Biết vĂŽ thường mĂ  tinh tấn như cứu lửa chĂĄy đầu. QuĂœ vị thấy cĂł ai bị lửa chĂĄy đầu mĂ  cĂČn đi chơi thong thả hay khĂŽng? Hay phải tay quơ miệng la đủ thứ hết. ĐĂąu cĂł thể chần chờ được. ChĂ­nh chĂșng ta cũng vậy. Nhận được lĂœ vĂŽ thường của Phật dạy, chĂșng ta phải tỉnh giĂĄc phải cố gắng lĂ m lợi Ă­ch cho mĂŹnh cho người. ĐĂł lĂ  tinh thần vĂŽ thường. TĂŽi đĂŁ nĂłi cĂĄi khổ đế vĂ  tập nhĂąn của khổ đế.

Tiếp theo đĂąy lĂ  diệt đế vĂ  đạo đế, tức lĂ  diệt được hết tập nhĂąn. Tập nhĂąn lĂ  gĂŹ? LĂ  tham sĂąn si. Nếu diệt được thĂŹ an nhiĂȘn tự tại, đĂł lĂ  Niết-bĂ n. Muốn diệt được hết tập nhĂąn phải lĂ m sao? Tức lĂ  phải tu Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, BĂĄt chĂĄnh đạo v.v... ĐĂł lĂ  những phương phĂĄp diệt hết mầm đau khổ. Như vậy thấy rĂ” phĂĄp tứ đế thĂŹ chứng được quả A-la-hĂĄn. ĐĂł lĂ  cĂĄi giĂĄc ngộ của bậc thĂĄnh, nhĂ  Phật gọi lĂ  hĂ ng thĂĄnh nhị thừa.

Tiến lĂȘn một bậc nữa cĂł những vị ra đời ở thế gian mĂ  khĂŽng gặp Phật phĂĄp, khĂŽng nghe được phĂĄp Tứ đế của Phật, bỗng nhiĂȘn thấy những cuộc hưng suy của cuộc đời hoặc lĂ  thấy mĂča thu lĂĄ rụng, mĂča xuĂąn cĂąy cối đĂąm chồi nẩy lộc v.v... tức lĂ  sự doanh hư tiểu trưởng của sự vật rồi tự nhiĂȘn giĂĄc ngộ được lĂœ vĂŽ thường. ĐĂł lĂ  bậc Độc giĂĄc. Tự mĂŹnh giĂĄc ngộ khĂŽng qua lời Phật dạy, khỏi nghe giĂĄo lĂœ mĂ  được giĂĄc ngộ. Kế đến lĂ  bậc DuyĂȘn giĂĄc. CĂł những hĂ ng nghe đức Phật nĂłi về mười hai nhĂąn duyĂȘn: vĂŽ minh duyĂȘn hĂ nh... cho tới lĂŁo bệnh tử. Mười hai nhĂąn duyĂȘn đĂł như sợi dĂąy chuyền nĂł liĂȘn kết khĂŽng rời. Thấy rĂ” được lĂœ mười hai nhĂąn duyĂȘn tiến tu để được giải thoĂĄt đĂł gọi lĂ  bậc DuyĂȘn giĂĄc. Như vậy chĂșng ta thấy lĂ  A-la-hĂĄn lĂ  DuyĂȘn giĂĄc cũng gọi lĂ  người giĂĄc ngộ, giĂĄc ngộ, ở khĂ­a cạnh nĂ y hay ở khĂ­a cạnh khĂĄc.

Cho tới giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh mĂ  ở đĂąy chĂșng ta đang thực hĂ nh. GiĂĄc ngộ của hĂ ng Bồ-tĂĄt như trong cĂĄc kinh: kinh PhĂĄp Hoa, kinh Lăng NghiĂȘm, kinh Niết-bĂ n v.v... lĂ  chỉ cho giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh của đạo Phật. GiĂĄc ngộ cứu kĂ­nh đĂł lĂ  giĂĄc ngộ thế nĂ o? Bởi vĂŹ hĂ ng Nhị thừa chĂșng tĂŽi thường gọi lĂ  Thanh văn hay DuyĂȘn giĂĄc đều lĂ  nằm trong cĂĄc phĂĄp đối đĂŁi. Như hĂ ng Thanh văn thĂŹ thấy cĂł KHỔ, TẬP lĂ  nhĂąn quả của luĂąn hồi. DIỆT, ĐẠO lĂ  nhĂąn quả của giải thoĂĄt. Tức lĂ  bĂȘn nĂ y lĂ  luĂąn hồi, bĂȘn kia lĂ  giải thoĂĄt, cĂł đối đĂŁi. HĂ ng DuyĂȘn giĂĄc cũng vậy, thấy mười hai nhĂąn duyĂȘn đi chiều thuận lĂ  luĂąn hồi. Ngược lại đi chiều hoĂ n diệt lĂ  giải thoĂĄt, tức vĂŽ minh diệt thĂŹ hĂ nh diệt v.v... Như vậy cũng lĂ  ở trong đối đĂŁi mĂ  ở trong đối đĂŁi thĂŹ giĂĄc ngộ đĂł chưa phải lĂ  cứu kĂ­nh, theo tinh thần kinh Niết-bĂ n.

Cho nĂȘn trong kinh Niết-bĂ n cĂł thĂ­ dụ gọi “XuĂąn trĂŹ thập lịch”. Tức lĂ  mĂča XuĂąn lặn dưới ao mĂČ lĂȘn một hĂČn sỏi, hĂČn gạch. XuĂąn trĂŹ lĂ  cĂĄi ao mĂča XuĂąn, thập lịch lĂ  lượm gạch hay ngĂłi. VĂŹ trong đĂł đức Phật nĂłi: ThĂ­ như mĂča XuĂąn ao nước trong, cĂł một số người bơi thuyền ở dưới ao chơi. Bỗng nhiĂȘn cĂł người cầm hĂČn ngọc quĂ­ buĂŽng tay rớt xuống ao. Rớt rồi bao nhiĂȘu người lặn xuống mĂČ. CĂł người được hĂČn sỏi, mừng quĂœnh đưa lĂȘn nĂłi tĂŽi được ngọc rồi, nhưng giơ tay lĂȘn lĂ  hĂČn gạch chớ khĂŽng phải ngọc. Khi nhiều người Ăča nhau lặn mĂČ, nước đục ngầu, khĂŽng thấy được hĂČn ngọc. Kẻ nắm gạch, người nắm ngĂłi gĂŹ đĂł v.v... đưa lĂȘn hĂŽ lĂ  được ngọc mĂ  sự thật khĂŽng phải. Người khĂŽn ngoan chờ cho nước lắng lặng trong trẻo, mắt nhĂŹn kỹ thấy viĂȘn ngọc đang ở chỗ nĂ o, nhảy xuống một cĂĄch từ từ, lượm lĂȘn nĂłi tĂŽi được hĂČn ngọc, thĂŹ chừng đĂł mới lĂ  ngọc thật. Như vậy thĂ­ dụ đĂł nĂłi cĂĄi gĂŹ? Tuy hĂ ng Thanh văn DuyĂȘn giĂĄc cũng thấy được đạo, ngộ được đạo, nhưng mĂ  giĂĄc ngộ ở một khĂ­a cạnh của sự đối đĂŁi, cũng như người lặn xuống ao lượm được gạch tưởng lĂ  ngọc. Chỉ cĂł Bồ-tĂĄt lĂ  sĂĄng suốt, đợi n&#432;ớc trong trẻo thấy rĂ” rĂ ng hĂČn ngọc nĂł nằm ở chỗ nĂ o, mới lặn ngay chỗ đĂł nắm đưa lĂȘn. Chừng đĂł mới lĂ  ngọc thật. CĂĄc hĂ ng Bồ-tĂĄt khĂŽng mĂČ ngọc trong khi nước cĂČn đục, mĂ  đợi nước trong rồi tự mĂŹnh thấy ngọc, thấy rồi mới nắm lấy được hĂČn ngọc. QuĂ­ vị nhớ trong kinh PhĂĄp Hoa, đức Phật nĂłi: cĂĄc hĂ ng Thanh văn được Niết-bĂ n. Niết-bĂ n đĂł đức Phật cho lĂ  gĂŹ? LĂ  “HĂła thĂ nh” lĂ  cĂĄi thĂ nh HĂła ra để tạm nghỉ chớ khĂŽng phải lĂ  thật. MĂ  thật thĂŹ phải tới “Bảo sở” tức lĂ  tới nơi chĂąn chĂĄnh, mới lĂ  thật. ĐĂł lĂ  để thĂ­ dụ cho Bồ-tĂĄt.

Như vậy tại sao tĂŽi nĂłi thĂ­ dụ đĂł? Bởi vĂŹ hĂ ng Bồ-tĂĄt dụ cho người ngồi trĂȘn thuyền đợi nước trong thấy hĂČn ngọc nằm ngay chỗ nĂ o, rồi mới lặn nhĂš nhẹ, từ từ đến ngay chỗ đĂł nắm lĂȘn. Chừng đĂł mới thật lĂ  được hĂČn ngọc. NĂłi tĂłm lại thấy rồi mới nắm lĂȘn. Như vậy đĂșng lĂ  tinh thần của Thiền tĂŽng gọi lĂ  KIẾN TÁNH KHỞI TU. Thấy được cĂĄi đĂł rồi mới khởi tu, đĂł lĂ  tinh thần cứu kĂ­nh của Phật giĂĄo. VĂŹ Phật giĂĄo đi đến chỗ cứu kĂ­nh khĂŽng cĂČn đối đĂŁi. CĂČn đối đĂŁi lĂ  chưa đến giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh. Thế nĂȘn trong kinh BĂĄt-nhĂŁ mở đầu cho Đại thừa nĂłi: “Sắc bất dị khĂŽng, khĂŽng bất dị sắc, sắc tức thị khĂŽng, khĂŽng tức thị sắc.” Mới nghe khĂŽng ai hiểu gĂŹ hết, gĂŹ mĂ  sắc sắc khĂŽng khĂŽng. Nhưng sự thật đĂł lĂ  một lẽ thật cứu kĂ­nh, bởi chĂșng ta mĂȘ lầm, nhĂŹn tướng trạng thĂŽ, thấy cĂĄi bĂ n nĂ y gọi lĂ  sắc, cĂČn ở chỗ trống nĂ y gọi lĂ  khĂŽng. MĂŹnh cho sắc với khĂŽng lĂ  hai cĂĄi khĂĄc nhau. Phải vậy khĂŽng? ĐĂąy lĂ  sắc, đĂąy lĂ  khĂŽng, hai cĂĄi khĂĄc nhau, một cĂĄi cĂł tướng trạng cĂł hĂŹnh dĂĄng sờ mĂł được, cĂČn một cĂĄi trống rỗng khĂŽng cĂł gĂŹ hết. ĐĂł lĂ  chỗ chĂșng ta thường lầm. Chỗ trống khĂŽng chĂșng ta cho đĂł lĂ  khĂŽng nhưng con mắt Phật giĂĄo khĂŽng phải vậy. Ngay cĂĄi cĂł nĂł cĂł cĂĄi khĂŽng, ngay cĂĄi khĂŽng đĂŁ cĂł cĂĄi cĂł. CĂĄi cĂł thĂŽ thiển nĂ y chĂșng ta nhĂŹn thấy một hĂŹnh sắc dầy đặc, nhưng với kĂ­nh hiển vi mấy trăm lần thĂŹ chĂșng ta thấy nĂł thưa hở. Như gương mặt chĂșng ta thấy như lĂĄng, nhưng với kĂ­nh phĂłng đại vĂ i chục lần thĂŽi thĂŹ sẽ thấy nĂł sần sĂči, cĂł hang lỗ. Như vậy nĂł cĂł hay lĂ  khĂŽng cĂł lĂ  tại con mắt thĂŽ hay tế. Nơi hĂŹnh tướng nĂ y cĂł lồng cĂĄi khĂŽng trong đĂł, cĂČn ngay chỗ khĂŽng nĂ y cĂł cĂĄi sắc trong đĂł. Như chỗ khĂŽng nĂ y cĂł ĂĄnh sĂĄng xuyĂȘn qua thĂŹ chĂșng ta sẽ thấy bao nhiĂȘu lĂ  bụi bặm lăng xăng ở giữa nĂ y. Như vậy nĂł đĂąu phải lĂ  khĂŽng. NĂł chỉ khĂŽng lĂ  khĂŽng tướng trạng thĂŽ kệch mĂ  cĂł những tướng vi tế trong đĂł, chớ khĂŽng phải lĂ  khĂŽng hẳn. ChĂșng ta cứ cực đoan cho đĂąy lĂ  khĂŽng hẳn hay cĂł hẳn, thĂ nh ra khĂŽng nhĂŹn tường tận cĂĄc phĂĄp ở đời.

Người hiểu đạo thấy trong cĂĄi cĂł đĂŁ lồng cĂĄi khĂŽng, trong cĂĄi khĂŽng đĂŁ lẫn cĂĄi cĂł. Thấy như vậy, cĂĄc NgĂ i thấy khĂŽng cĂČn cĂł hai riĂȘng rẽ, khĂŽng cĂČn cĂł hai đối đĂŁi. CĂČn thấy hai đối đĂŁi lĂ  chưa phải thấy cĂĄi thật. Nếu tới chỗ thật lĂ  khĂŽng cĂł hai. MĂ  nĂłi như vậy thĂŹ ai cũng khĂŽng chấp nhận hết. Tại sao vậy? - Bởi vĂŹ tới giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh thĂŹ khĂŽng hai mĂ  cĂČn cĂł hai thĂŹ chưa phải giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh. Nhưng mĂ  lĂ m sao quĂ­ vị thấy khĂŽng hai cho được. VĂŹ thế gian nĂ y lĂ  thế gian đối đĂŁi. Thật ra nếu quĂ­ vị xĂ©t cho tường tận, thật tĂŹnh cĂČn đối đĂŁi thĂŹ chưa phải cứu kĂ­nh. Tại sao? Bởi vĂŹ cĂĄi thể cứu kĂ­nh nĂł khĂŽng hai. Cũng như Phật vĂ  chĂșng ta. ChĂșng ta thấy Phật lĂ  giĂĄc ngộ cĂČn chĂșng ta lĂ  mĂȘ lầm. Phật vĂ  chĂșng ta lĂ  một hay hai. Nếu chĂșng ta thấy Phật vĂ  chĂșng ta lĂ  một hay lĂ  hai thĂŹ khĂŽng biết ai trĂșng ai trật. ThĂŽng thường nĂłi nếu khĂŽng lĂ  hai thĂŹ lĂ  một chớ gĂŹ?

CĂł thể tĂŽi đi từ từ cho quĂ­ vị thấy. ChĂșng ta thấy đức Phật với chĂșng ta lĂ  hai, vĂŹ Phật lĂ  giĂĄc mĂ  chĂșng ta lĂ  mĂȘ, cho nĂȘn lĂ  hai. Nhưng mĂ  chĂșng ta mĂȘ lĂ  mĂȘ cĂĄi gĂŹ? Phật giĂĄc lĂ  giĂĄc cĂĄi gĂŹ chứ? ChĂ­nh cĂĄi đĂł mới lĂ  quan trọng. TĂŽi thĂ­ dụ bĂąy giờ đem vĂ ng lĂ m ra chiếc vĂČng tay, vĂ  chiếc cĂ  rĂĄ. ĐĂąy lĂ  chiếc vĂČng, đĂąy lĂ  chiếc cĂ  rĂĄ, như vậy quĂ­ vị thấy hai hay lĂ  một? Đương nhiĂȘn lĂ  hai rồi, vĂČng khĂĄc cĂ  rĂĄ khĂĄc. ĐĂł lĂ  ta nhĂŹn trĂȘn giả tướng của hai mĂłn đĂł. Nếu nĂłi về thể, hai mĂłn đĂł lĂ  một hay lĂ  hai? - LĂ  một. Như vậy trĂȘn hai cĂĄi, thể cĂ  rĂĄ vĂ  vĂČng cũng lĂ  vĂ ng thĂŽi. VĂ ng cĂł một cĂł hai khĂŽng? VĂ ng lĂ  vĂ ng nĂł khĂŽng cĂł một hai. CĂł một hai lĂ  lập ra để đối đĂŁi chiếc cĂ  rĂĄ lĂ  một chiếc vĂČng lĂ  hai, chớ vĂ ng lĂ  vĂ ng khĂŽng cĂł một, hai. ThĂ nh ra một hai lĂ  đối đĂŁi trĂȘn giả tướng của hai mĂłn đồ thĂŽi. CĂČn cĂĄi thể của mĂłn đồ lĂ  vĂ ng khĂŽng nĂłi một hai. NĂłi một hai lĂ  nĂłi cĂĄi giả tướng. Cho nĂȘn cĂČn cĂł một hai lĂ  cĂČn trong đối đĂŁi. VĂŹ vậy mĂ  cĂł vị Tăng hỏi vị Thiền sư: “Phật vĂ  chĂșng sanh lĂ  m&#7897;t hay lĂ  hai?” NgĂ i trả lời:

Duy dư nhất đoĂĄ tại

Minh nhật khủng tĂčy phong.

Dịch:

Chỉ cĂČn thừa một đĂła

NgĂ y mai ngại giĂł rơi.

NgĂ i khĂŽng nĂłi hai hay một mĂ  nĂłi bĂąy giờ tĂŽi chỉ thấy cĂČn thừa một đĂła hoa, ngĂ y mai e giĂł cũng rụng luĂŽn. Như vậy giai đoạn đầu thấy Phật vĂ  chĂșng sanh lĂ  hai, nhưng bước vĂ o giai đoạn kế thấy Phật vĂ  chĂșng sanh khĂŽng lĂ  hai nữa, nĂȘn gọi lĂ  một. MĂ  cĂĄi một đĂł tạm thời thĂŽi, chớ cĂĄi một đĂł khĂŽng phải lĂ  cứu kĂ­nh. VĂŹ cĂĄi một đĂł tạm đặt với cĂĄi hai, đến cứu kĂ­nh một cũng khĂŽng cĂČn. Cho nĂȘn bĂąy giờ tạm thấy cĂČn một đĂła hoa, ngĂ y mai giĂł thổi, nĂł cũng rơi luĂŽn khĂŽng cĂČn nữa. CĂČn nĂłi một lĂ  nĂłi tạm chớ nĂł khĂŽng thật. CĂČn nĂłi một lĂ  đối với hai. Tới chỗ cứu kĂ­nh thĂŹ cĂĄi hai khĂŽng cĂČn nữa. NĂłi như vậy cho quĂ­ vị thấy chỗ giĂĄc ngộ đĂł cần phải thấy như thế. Cho nĂȘn Thiền tĂŽng kể rằng sau khi ngộ đạo, đức Phật nĂłi như trong kinh Hoa NghiĂȘm chĂ©p: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chĂșng sanh đều cĂł đầy đủ trĂ­ tuệ đức tướng Như Lai, vĂŹ bị vọng tưởng mĂȘ lầm che lấp khĂŽng thấy, khĂŽng hiểu khĂŽng biết.”

NgĂ i thấy rĂ” chĂșng sanh ai cũng đều cĂł trĂ­ tuệ đức tướng Phật hết. Như vậy thĂ nh Phật lĂ  thĂ nh cĂĄi chĂșng sanh sẵn cĂł. Ngộ đạo lĂ  ngộ cĂĄi sẵn cĂł ở chĂșng sanh, vĂ  chĂșng sanh mĂȘ lĂ  mĂȘ cĂĄi sẵn cĂł mĂ  quĂȘn đi. CĂĄi mĂŹnh sẵn cĂł mĂ  quĂȘn đi gọi lĂ  mĂȘ. ThĂ nh Phật khĂŽng cĂł gĂŹ lạ, lĂ  nhận được cĂĄi sẵn cĂł của chĂ­nh mĂŹnh. VĂŹ vậy cĂł một vị Thiền sư ở trong hội ngĂ i Qui TĂŽng, nửa đĂȘm la: “TĂŽi ngộ rồi, tĂŽi ngộ rồi.” Trong đại chĂșng ai cũng lấy lĂ m lạ khĂŽng biết ĂŽng ấy ngộ cĂĄi gĂŹ? SĂĄng hĂŽm sau ngĂ i Qui TĂŽng lĂȘn phĂĄp tĂČa hỏi: “Vị Tăng hồi hĂŽm nĂłi ngộ rồi ra đĂąy xem.” Vị Tăng bước ra. NgĂ i hỏi: “Ông thấy cĂĄi gĂŹ mĂ  nĂłi ngộ?” Ông ấy trả lời bằng cĂąu: “Sư cĂŽ thị nữ nhĂąn tĂĄc.” Nghĩa lĂ : Sư cĂŽ vốn lĂ  người nữ lĂ m ra chớ khĂŽng cĂł gĂŹ lạ hết. NgĂ i Qui TĂŽng gật đầu nĂłi: ChĂ­nh ĂŽng ngộ.

Như vậy ngộ lĂ  cĂĄi gĂŹ? Thường thường chĂșng ta tưởng ngộ lĂ  ngộ cĂĄi gĂŹ ở bĂȘn trời kia, chớ khĂŽng ngờ chĂ­nh ngộ lĂ  ngộ cĂĄi sẵn cĂł của mĂŹnh. MĂŹnh cứ nĂłi thĂ nh Phật lĂ  cĂł hĂ o quang rực rỡ hay cĂł gĂŹ lạ. Những cĂĄi đĂł phải cĂł mới lĂ  Phật, khĂŽng ngờ thĂ nh Phật lĂ  SỐNG LẠI VỚI CÁI SẴN CÓ CỦA CHÍNH MÌNH. CĂĄi sẵn cĂł của chĂ­nh mĂŹnh, nếu mĂŹnh sống được với chĂ­nh nĂł, mĂŹnh trở về với chĂ­nh nĂł, đĂł gọi lĂ  giĂĄc ngộ thĂ nh Phật. Tại sao vậy? VĂŹ cĂĄi mĂŹnh cĂł mĂ  mĂŹnh bỏ quĂȘn gọi lĂ  mĂȘ, giờ đĂąy mĂŹnh biết được gọi lĂ  giĂĄc. GiĂĄc tức lĂ  ngộ. Người giĂĄc ngộ tức lĂ  Phật, chớ khĂŽng cĂł gĂŹ lạ hết.

Như vậy nĂłi ni cĂŽ tưởng đĂąu cĂĄi gĂŹ xa lạ linh thiĂȘng cao cả, nhưng sự thật ni cĂŽ vốn lĂ  một cĂŽ gĂĄi. BĂąy giờ cạo đầu mặc ĂĄo thĂ nh sư cĂŽ chớ cĂł gĂŹ lạ đĂąu? NĂłi Phật, tưởng Phật ở đĂąu vĂ  cĂł gĂŹ lạ đời, khĂŽng ngờ cũng chĂ­nh lĂ  cĂĄi sẵn cĂł của mĂŹnh chớ khĂŽng phải đĂąu lạ. Cho nĂȘn một vị khĂĄc, sau khi ngộ đạo cũng lĂ m bĂ i thơ, cĂąu chĂłt ĂŽng nĂłi rằng: LĂœ Bạch nguyĂȘn lai thị tĂș tĂ i. Tức lĂ  ĂŽng LĂœ ThĂĄi Bạch, nhĂ  thơ ai nghe nĂłi cũng nể. MĂ  xĂ©t kỹ lại  ĂŽng cũng chỉ lĂ  ĂŽng tĂș tĂ i như bao nhiĂȘu ĂŽng tĂș tĂ i khĂĄc, chớ khĂŽng cĂł gĂŹ lạ. ChĂ­nh cĂĄi  đĂł lĂ  để chỉ cho cĂĄi ngộ lĂ  ngộ cĂĄi sẵn cĂł của mĂŹnh. VĂŹ vậy đức Phật sau khi thĂ nh Phật, NgĂ i nĂłi: “Ta lĂ  Phật đĂŁ thĂ nh, cĂĄc ngươi lĂ  Phật sẽ thĂ nh.” Bởi vĂŹ NgĂ i cĂł cĂĄi đĂł, tất cả chĂșng sanh cũng cĂł cĂĄi đĂł. KhĂŽng phải NgĂ i ngộ cĂĄi gĂŹ khĂĄc, mĂ  ngộ ngay trong thĂąn tứ đại ngũ uẩn nĂ y lĂ  cĂĄi thĂąn vĂŽ thường sanh diệt, cĂł sẵn cĂĄi khĂŽng sanh khĂŽng diệt. Nhận được cĂĄi khĂŽng sanh khĂŽng diệt nơi mĂŹnh gọi đĂł lĂ  ngộ đạo, chớ khĂŽng phải tĂŹm cĂĄi gĂŹ xa xĂŽi. MĂ  cĂĄi khĂŽng sanh khĂŽng diệt đĂł nơi phĂ m phu cũng cĂł. Cũng như sư cĂŽ cĂł sẵn ở những cĂŽ cư sĩ đầu cĂł tĂłc, chớ cĂł gĂŹ lạ đĂąu. Chỉ cần một khi nĂ o đĂł thay đổi hĂŹnh thức, đổi thay tĂąm niệm lĂ  thĂ nh sư cĂŽ chớ gĂŹ? Như vạĂąy khĂŽng cĂł gĂŹ xa lạ, mĂ  mĂŹnh tưởng cĂĄi đĂł ở đĂąu, từ phương trời nĂ o đến. Thế nĂȘn tinh thần giĂĄc ngộ của đạo Phật lĂ  giĂĄc ngộ ngay cĂĄi thực tế hiện tại. VĂŹ vậy người giĂĄc ngộ rồi thĂŹ khĂŽng cĂČn thấy hai. ĐĂł mới lĂ  giĂĄc ngộ cứu kĂ­nh.

KhĂŽng thấy hai cho nĂȘn khĂŽng nghĩ rằng cĂ”i mĂŹnh đĂąy lĂ  cĂ”i Ta-bĂ  khổ, cĂČn cĂ”i Cực Lạc lĂ  cĂ”i Phật A-di-đĂ  an vui. QuĂ­ vị cĂł nghĩ bỏ cĂ”i nĂ y chạy qua bĂȘn kia vui hay khĂŽng? Nếu ngay trong cĂ”i khổ, khĂ©o biết thĂŹ mĂŹnh được vui rồi. MĂŹnh mĂȘ thĂŹ tạo nghiệp xấu xa lĂ  khổ. Ngay trong cĂĄi khổ mĂ  biết chuyển hướng, biết thay đổi tĂąm niệm, biết lĂ m những điều lĂ nh điều phải, biết chia cơm xẻ ĂĄo với mọi người, biết sống trong tĂŹnh đoĂ n kết anh em, tự nhiĂȘn mĂŹnh vui. CĂĄi khổ lĂ  cũng tự mĂŹnh tạo, tự mĂŹnh cĂł những tham, tự mĂŹnh cĂł những sĂąn, tự mĂŹnh cĂł những si, rồi mĂŹnh đau khổ. Phải vậy khĂŽng? Nếu dẹp bỏ tham sĂąn si rồi, ngay cĂ”i nĂ y cĂł phải lĂ  cực lạc hay chưa? Vậy cĂł nĂȘn tĂŹm cực lạc bĂȘn kia hay khĂŽng? Nếu chĂșng ta thấy bĂȘn kia lĂ  Cực Lạc, bĂȘn nĂ y lĂ  Ta-bĂ , lĂ  cĂČn thấy hai. MĂ  cĂČn thấy hai lĂ  cĂČn thấy đối đĂŁi, chưa lĂ  lẽ thật. Vậy người hiểu đạo đĂșng theo tinh thần Đại thừa lĂ  ngay ở trong cĂĄc cảnh khổ, ngay trong cĂĄi chỗ mĂ  người ta cho lĂ  xấu xa mĂŹnh khĂ©o chuyển thĂ nh an lạc, tốt đẹp, chớ khĂŽng phải bỏ đĂąy cầu kia.

ĐĂł lĂ  tinh thần đạo Phật. Đạo Phật khĂŽng cĂł bỏ để trốn để cầu. CĂł nhiều người lầm nghĩ rằng mĂŹnh tu lĂ  phải trốn thiĂȘn hạ, phải bỏ hết những cĂĄi gĂŹ đĂąu đĂąu. ĐĂł lĂ  lầm lẫn. Tu lĂ  chĂ­nh mĂŹnh phải thay đổi những cĂĄi tĂąm xấu xa của mĂŹnh lĂ  tham sĂąn si. Nếu chuyển được tham sĂąn si thĂŹ Ta-bĂ  thĂ nh Cực Lạc. CĂČn khĂŽng chuyển được tham sĂąn si, ĂŽm tĂąm niệm tham sĂąn si, cầu về Cực Lạc, Cực Lạc cũng biến thĂ nh Ta-bĂ . VĂŹ cĂČn tham sĂąn si, thĂŹ ở đĂąu cũng rầy lộn đĂĄnh lộn. MĂ  rầy lộn đĂĄnh lộn, giĂ nh giựt đĂł lĂ  gốc của Ta-bĂ . Cho nĂȘn chĂșng ta chuyển đổi được tĂąm niệm tham sĂąn si thĂŹ ngay Ta-bĂ  thĂ nh Cực Lạc. CĂČn khĂŽng chuyển đổi được tĂąm niệm tham sĂąn si thĂŹ Cực Lạc biến thĂ nh Ta-bĂ . ĐĂł lĂ  sự thật cho nĂȘn hiểu đạo thĂŹ chĂșng ta nĂȘn hiểu như vậy. Ngay trong cuộc đời nĂ y, dĂč ở trong hoĂ n cảnh nĂ o đi nữa, chĂșng ta cũng vẫn an vui. ChĂșng ta thấy đĂąy khĂŽng phải lĂ  khổ, chĂ­nh đĂąy nếu ta khĂ©o chuyển thĂŹ cĂ”i nĂ y lĂ  cĂ”i Cực Lạc, chớ khĂŽng phải chờ về Cực Lạc mới thấy Cực Lạc. Như vậy tinh thần đạo Phật đến chỗ cứu kĂ­nh giĂĄc ngộ mới thấy rằng chĂ­nh mĂŹnh vĂ  mọi người, chĂ­nh mĂŹnh vĂ  cĂĄc hoĂ n cảnh đều khĂŽng phải lĂ  vấn đề hai ba. Ngay nơi tĂąm niệm mĂŹnh chuyển hướng hết những cĂĄi xấu xa của mĂŹnh thĂŹ hoĂ n cảnh nĂ o cũng lĂ  hoĂ n cảnh tốt đẹp. Ở trong chỗ nĂ o cũng lĂ  chỗ tiến bộ, chớ khĂŽng phải xấu xa. Xấu xa chĂ­nh vĂŹ cĂĄi ấp ủ tham lam, ấp ủ sĂąn si của mĂŹnh nĂȘn thấy xấu xa. Dứt hết những cĂĄi đĂł thĂŹ tự nhiĂȘn nĂł sĂĄng sủa tốt đẹp.

Thế nĂȘn cĂĄc Thiền sư lĂșc nĂ o cũng thấy cĂ”i đời lĂ  đẹp. Đẹp như một bĂ i thơ. Tại vĂŹ thấy ở đĂąu cũng lĂ  tốt, ở đĂąu cũng lĂ  sĂĄng sủa. CĂČn chĂșng ta vĂŹ mang cặp kĂ­nh ủ rũ buồn bĂŁ, nĂȘn thấy cĂĄi gĂŹ cũng buồn. Phải vậy khĂŽng? Nếu mĂŹnh mang cặp kĂ­nh tươi sĂĄng trong lĂČng, nhĂŹn cĂĄi gĂŹ mĂ  khĂŽng vui. Phải vậy khĂŽng? Khi nĂ o trong quĂ­ vị tĂąm hồn đương ưu tư buồn bĂŁ thÏ  nhĂŹn thấy cĂĄi gĂŹ cũng buồn bĂŁ theo. Nếu tĂąm hồn quĂ­ vị sĂĄng suốt phấn khởi vui vẻ thĂŹ nhĂŹn cĂĄi gĂŹ chẳng vui vẻ. Cho nĂȘn chĂșng ta cần tạo một tĂąm hồn vui vẻ sĂĄng sủa vĂ  tỉnh giĂĄc thĂŹ ngoại cảnh theo đĂł mĂ  sĂĄng sủa. NĂł khĂŽng cĂČn tối tăm mờ mịt nữa. Tối tăm mờ mịt đĂł lĂ  cĂĄi mĂȘ đen tối của tham sĂąn si, chớ khĂŽng phải gĂŹ khĂĄc.

HĂŽm nay lĂ  ngĂ y Phật hoan hỉ tĂŽi nhắc lại những điểm then chốt cho tất cả quĂ­ vị cĂčng chĂșng tĂŽi, mọi người chĂșng ta đều nỗ lực vươn lĂȘn. LĂ m sao luĂŽn luĂŽn tỉnh giĂĄc từ thấp lĂȘn cao vĂ  luĂŽn luĂŽn với tĂąm niệm cầu tiến lợi mĂŹnh lợi người để cho chĂ­nh mĂŹnh cĂ ng ngĂ y cĂ ng được an vui, xĂŁ hội cĂ ng ngĂ y cĂ ng thĂȘm tốt đẹp. ĐĂł mới lĂ  tinh thần giĂĄc ngộ của đạo Phật.

PHÁP TU CĂN BẢN CỦA PHẬT TỬ (PHẬT PHÁP HÓA NHÂN GIAN)

Đa số người xưng lĂ  Phật tử mĂ  khĂŽng biết rĂ” đường lối tu hĂ nh, ai bĂ y sao lĂ m vậy, trở thĂ nh mĂȘ tĂ­n sai lầm, khiến người đời phĂȘ bĂŹnh đạo Phật lĂ  huyền hoặc, lĂ  vĂŽ Ă­ch. Để bổ cứu những sai lầm ấy, chĂșng ta phải biết rĂ” đĂąu lĂ  phĂĄp tu căn bản phải hĂ nh, đĂąu lĂ  lối tu siĂȘu thoĂĄt phải đến. Ứng dụng Phật phĂĄp ngay trong cuộc sống thực tế của chĂșng ta, để minh chứng rĂ” rĂ ng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phĂșc cụ thể lại cho con người. Được thế, chĂșng ta mới khỏi hối hận lĂ  đệ tử của Phật mĂ  lĂ m nhục nhĂŁ cho đạo Phật.

PHÁP  TU  CĂN  BẢN

Bước đầu trĂȘn đường tu hĂ nh của người Phật tử, phải “chuyển ba nghiệp ĂĄc thĂ nh ba nghiệp lĂ nh”. Ba nghiệp lĂ  thĂąn miệng Ăœ của chĂșng ta. Khi xưa chưa biết tu, chĂșng ta buĂŽng lung thĂąn miệng Ăœ lĂ m những việc xấu xa tĂ n bạo độc ĂĄc. ĐĂŁ tạo những điều xấu xa tĂ n bạo độc ĂĄc lĂ  lĂ m đau khổ cho mĂŹnh, cho người, cho gia đĂŹnh, cho xĂŁ hội. Những kẻ cướp của giết người sớm muộn gĂŹ cũng ngồi khĂĄm, cha mẹ vợ con ở nhĂ  đau khổ, gia đĂŹnh của nạn nhĂąn cũng khổ đau, chĂĄnh quyền cũng phải bận tĂąm điều tra truy nĂŁ. Chỉ một việc lĂ m cuồng dại độc ĂĄc của một vĂ i người, khiến guồng mĂĄy xĂŁ hội bị rối bời. HĂ nh động ấy gọi lĂ  tạo nghiệp ĂĄc. NgĂ y nay biết tu, chĂșng ta chuyển thĂąn miệng Ăœ lĂ m việc tốt đẹp thanh cao hiền thiện. Thấy người trĂȘn đường bị tai nạn xe cộ, mĂ  khĂŽng cĂł thĂąn nhĂąn, chĂșng ta thĂ nh thật xĂłt thương, dĂčng lời hiền hĂČa an ủi, đĂ­ch thĂąn săn sĂłc chở đến bệnh viện... đĂąy lĂ  tạo nghiệp lĂ nh. LĂ m được việc lĂ nh bản thĂąn chĂșng ta đĂŁ vui, người bị tai nạn cũng bớt khổ, người chung quanh trĂŽng thấy cũng tĂĄn thĂ nh. HĂ nh động lĂ nh nĂ y lĂ  cụ thểĂž xĂąy dựng xĂŁ hội tốt đẹp. HĂ nh động xấu mĂ  cứ lặp đi lặp lại mĂŁi lĂ  nghiệp ĂĄc, vĂŹ đĂŁ thĂ nh thĂłi quen khĂł sửa đổi. VĂ­ như người uống rượu, uống một vĂ i lần khĂŽng thĂ nh ghiền (nghiện), ngĂ y nay uống ngĂ y mai uống, uống nhiều ngĂ y như vậy thĂ nh người ghiền rượu. CĂĄi ghiền lĂ  thĂłi quen, gọi lĂ  nghiệp. Người thấy ai thiếu thốn liền giĂșp đỡ, lĂșc nĂ o cũng thế, lĂąu ngĂ y thĂ nh thĂłi quen lĂ  nghiệp lĂ nh. Cũng lĂ  thĂłi quen, một thĂłi quen đưa đến đau khổ, một thĂłi quen khiến đến an lạc. VĂŹ thế, người Phật tử phải trĂĄnh thĂłi quen đau khổ, phải tạo thĂłi quen an lạc, đĂł lĂ  tu chuyển nghiệp ĂĄc thĂ nh nghiệp lĂ nh. Kẻ ngu muội mới tĂŹm hạnh phĂșc trĂȘn đau khổ của người khĂĄc, người sĂĄng suốt chỉ thấy hạnh phĂșc khi giĂșp người khĂĄc hết khổ.

QUAN  NIỆM  SAI  LẦM

CĂł nhiều Phật tử phĂĄt tĂąm qui y chỉ vĂŹ cầu cho gia đĂŹnh bĂŹnh an, cuộc sống được mọi sự như Ăœ. VĂŹ thế, gia đĂŹnh cĂł người bệnh hoạn hay xảy ra tai nạn gĂŹ thĂŹ thỉnh thầy cầu an. Nếu thầy bận việc khĂŽng đi thĂŹ phiền nĂŁo, giận khĂŽng đi chĂča. Trong cuộc sống gặp nhiều điều bất như Ăœ thĂŹ buồn, cho rằng Phật khĂŽng hộ độ. Nghe miếu BĂ , miếu Ông nĂ o linh ứng liền đến đĂł cầu xin. Chỉ vĂŹ mong được bĂŹnh an mĂ  đi chĂča, đến với đạo, khi mục đĂ­ch ấy khĂŽng thĂ nh thĂŹ họ bỏ đạo dễ dĂ ng. Lại cĂł những người sau khi qui y rồi thĂŹ mọi việc đều giao phĂł cho thầy, cất nhĂ  cũng thỉnh thầy coi ngĂ y, gả cưới con cĂĄi cũng thỉnh thầy xem tuổi, đau ốm bệnh hoạn cũng thỉnh thầy cầu an, ma chay cũng thỉnh thầy cầu siĂȘu. Thầy lĂ  người chịu mọi trọng trĂĄch trong gia đĂŹnh, nếu thầy khĂŽng chiều theo lĂ  buồn, khĂŽng đi chĂča. Lối qui y nĂ y, giống hệt đi đĂłng tiền bảo hiểm cho cĂĄ nhĂąn vĂ  gia đĂŹnh vậy.

Lại cĂł những người tu một cĂĄch hời hợt, chỉ biết giờ tụng kinh, giờ niệm Phật, ngĂ y ăn chay lĂ  tu. NgoĂ i những giờ đĂł ra, mọi việc đều như ai, ăn miếng trả miếng khĂŽng thua kĂ©m. Một ngĂ y mười hai giờ, chĂșng ta chỉ tu cĂł một hai giờ, lĂ m sao đủ? Mười giờ tạo ĂĄc, hai giờ tu thiện thĂŹ quĂĄ Ă­t oi. Hoặc một thĂĄng ăn sĂĄu ngĂ y chay, chỉ tu trong sĂĄu ngĂ y nĂ y, cĂČn hai mươi bốn ngĂ y kia khĂŽng tu thĂŹ cĂł thấm vĂ o đĂąu. CĂł khi ai lỡ xĂșc phạm đến họ trong những ngĂ y chay, họ sẽ nĂłi “hĂŽm nay tĂŽi ăn chay, nếu khĂŽng ăn chay thĂŹ biết!” Tu như thế, quả thật rất hời hợt.

CĂČn tệ hại hơn, cĂł người sợ tu thiền đổ nghiệp. Mỗi khi phĂĄt nguyện tụng kinh PhĂĄp Hoa chẳng hạn, ở gia đĂŹnh cĂł xảy ra tai biến gĂŹ, liền đổ thừa tại tụng kinh đổ nghiệp. KhĂŽng biết đổ nghiệp lĂ  rơi rớt hết hay sanh ra nghiệp? Nếu đổ nghiệp lĂ  rơi rớt hết thĂŹ cố gắng tụng cho nĂł rớt sạch luĂŽn. Nếu đổ nghiệp lĂ  sanh ra nghiệp thĂŹ điều nĂ y thật lĂ  vĂŽ lĂœ. VĂŹ giờ tụng kinh thĂŹ ba nghiệp thanh tịnh - thĂąn nghiĂȘm trang lĂ  thĂąn nghiệp thanh tịnh  miệng tụng lời Phật lĂ  khẩu nghiệp thanh tịnh - Ăœ duyĂȘn theo lời kinh lĂ  Ăœ nghiệp thanh tịnh - lĂ m sao sanh ra ĂĄc nghiệp được? Tin như thế thật lĂ  hoĂ n toĂ n vĂŽ căn cứ. Người Phật tử phải sĂĄng suốt khĂŽng nĂȘn tin theo lối nhảm nhĂ­ ấy.

TU  LÀ  TUYÊN  CHIẾN  VỚI  MA  QUÂN

Người phĂĄt tĂąm tu hĂ nh như một chiến sĩ tuyĂȘn chiến với ma quĂąn. ChĂșng ta phải hĂčng dũng quyết chiến. Trước tiĂȘn, chĂșng ta chiến đấu với bọn ma phiền nĂŁo nghiệp chướng của mĂŹnh. VĂ­ như người vừa phĂĄt nguyện tu hạnh nhẫn nhục, liền bị người thĂła mạ, tĂąm sĂąn hận nổi lĂȘn, ngay đĂąy phải dẹp bỏ, đĂš bẹp nĂł lĂ  thắng, để nĂł phĂĄt hiện ra miệng, ra thĂąn lĂ  thua. CĂł người trước đĂŁ ghiền (nghiện) rượu, nay phĂĄt tĂąm qui y thọ trĂŹ năm giới ngang đĂąy phải bỏ (cai) rượu, nếu can đảm bỏ được lĂ  thắng, bỏ khĂŽng được lĂ  thua. Thắng được cơn giận dữ nổi lĂȘn lĂ  thắng ma phiền nĂŁo, thắng được bệnh ghiền lĂąu năm lĂ  thắng ma nghiệp chướng. Phiền nĂŁo nghiệp chướng của chĂșng ta rất nhiều rất nặng, chiến thắng được nĂł phải lĂ  một dũng sĩ kiĂȘn cường. Hai thứ nĂ y lĂ  nội ma.

Những khĂł khăn chướng ngại do ngoại cảnh gĂąy nĂȘn lĂ  ngoại ma. Một người tuổi độ ba mươi, đĂŁ cĂł gia đĂŹnh, vừa thọ ngũ giới xong, liền cĂł một người đẹp đeo đuổi mến yĂȘu. Chiến thắng tĂŹnh cảm bất hợp phĂĄp nĂ y lĂ  một trận chiến gay go, nếu đương sự khĂŽng can đảm quyết liệt, khĂł mĂ  giữ toĂ n vẹn được giới thứ ba đĂŁ thọ. Một người khĂĄc sau khi qui y thọ giới rồi, nguyện bỏ (cai) rượu, trong lĂșc tranh đấu một mất một cĂČn với con ma ghiền, lại gặp bạn bĂš mời đi nhậu, cĂČn dĂčng nhiều thủ thuật bắt Ă©p, trường hợp nĂ y khĂŽng phải lĂ  người cĂł Ăœ chĂ­ kiĂȘn cường thĂŹ khĂł mĂ  thắng được, ngoại cảnh chướng ngại nhiều khĂł thể kể hết, người Phật tử hĂčng dũng quyết thắng, đừng để giN63;c ngoại ma ĂĄp đảo phải đầu hĂ ng.

ĐĂŁ lĂ  chiến đấu thĂŹ phải đương đầu, vĂŹ vậy chĂșng ta khĂŽng thể khiếp nhược yếu hĂšn chỉ một bề cầu được bĂŹnh an. Người chiến sĩ cĂł đối đầu với giặc, chiến thắng được giặc, mới thăng quan tiến chức, mới cĂł ngĂ y ca khĂșc khải hoĂ n, quĂ ng vĂČng hoa danh dự vĂ o cổ. Người tu cũng vậy, chiến thắng được nội ma, ngoại ma, mới cĂł ngĂ y bước lĂȘn đĂ i vinh quang của con người vẹn toĂ n đức hạnh. ĐĂŁ lĂ  chiến sĩ thĂŹ mắt phải sĂĄng, tai phải thĂ­nh luĂŽn luĂŽn theo dĂ”i mọi hĂ nh động của kẻ thĂč. Một phĂșt giĂąy hời hợt sơ suất cĂł thể tĂĄn thĂąn mất mạng. Người tu cũng thế, phải thấy rĂ” từng tĂąm niệm, từng hĂ nh động của mĂŹnh, một phĂșt giĂąy lơi lỏng, bọn giặc phiền nĂŁo nổi dậy, phải bị mất giới thĂąn tuệ mạng. Do đĂł, khĂŽng thể chỉ tu trong giờ tụng kinh, niệm Phật, ăn chay mĂ  phải tu trong mọi lĂșc mọi giờ. Được vậy mới mong chiến thắng bọn ma quĂąn.

Tu lĂ  dẹp bỏ những thĂłi hư tật xấu, tuổi trẻ chưa tập nhiễm những cĂĄi dở ấy, ngang đĂąy biết tu thĂŹ dễ biết dường nĂ o. Người chưa biết uống rượu, khĂŽng tập uống rượu thật lĂ  dễ. Người đĂŁ ghiền rượu, bỏ khĂŽng uống rượu lĂ  thiĂȘn nan vạn nan. Biết tu từ thuở nhỏ thĂŹ thuận lợi dễ dĂ ng biết mấy, để đa mang nhiều bệnh nhiều tật rồi mới tu, thật lĂ  khĂł khăn trăm bề. Song người cĂł Ăœ chĂ­ mĂŁnh liệt thĂŹ cĂĄi khĂł nĂ o cũng lĂ m được.

CỤ  THỂ  HÓA  PHÁP  TU  CĂN  BẢN

Để cụ thể hĂła phĂĄp tu căn bản nĂ y, đức Phật bắt buộc người Phật tử sau khi qui y Tam Bảo phải thọ trĂŹ năm giới. Trong năm giới ba giới đầu lĂ  giữ thĂąn khĂŽng tạo nghiệp ĂĄc, hai giới sau giữ khẩu khĂŽng tạo nghiệp ĂĄc. Thế lĂ , người Phật tử chỉ mới chuyển hai nghiệp. Chuyển hai nghiệp thĂŽi, mĂ  cĂŽng hiệu lợi Ă­ch đĂŁ to lớn lắm rồi. Như người khĂŽng sĂĄt sanh, lĂ  khĂŽng giết người (chỉ trừ trường hO07;p nghĩa vụ quĂąn sự), khĂŽng trộm cướp, khĂŽng tĂ  dĂąm, khĂŽng nĂłi dối, khĂŽng uống rượu, bản thĂąn họ đĂŁ lĂ  một con người tốt. Họ lại giảm được bao nhiĂȘu việc lo Ăąu sợ sệt tốn hao trong cuộc sống hiện tại. Cha mẹ anh em vợ chồng con cĂĄi nhờ đĂł được an ổn vui tươi. Mọi người trong xĂŁ hội khỏi phải phiền hĂ  lo Ăąu vĂŹ họ. ChĂșng ta cĂł thể hĂŹnh dung trong một xĂłm, mĂ  mọi người đều giữ năm giới hết, trong xĂłm đĂł cĂł xảy ra chuyện giết hại, trộm cướp, lừa đảo, hiếp dĂąm vĂ  say sưa phĂĄ lĂ ng phĂĄ xĂłm khĂŽng? Chắc hẳn lĂ  khĂŽng, trừ phi những kẻ khĂĄc xĂąm nhập vĂ o. ChĂșng ta hiện nay đi đĂąu cũng lo Ăąu sợ sệt lĂ  tại sao? Phải chăng, vĂŹ sợ người hĂŁm hại, sợ người mĂłc tĂși giựt đồ, sợ người lường gạt... ChĂĄnh quyền phải bận tĂąm nhọc sức điều tra theo dĂ”i, vĂŹ dĂąn chĂșng khĂŽng biết tu. Nếu người dĂąn biết tu vĂ  chịu tu như vậy, chĂĄnh quyền sẽ thảnh thơi nhĂ n rỗi biết chừng nĂ o. Bởi vĂŹ con người ai cũng cĂł sẵn những thĂłi xấu, nếu khĂŽng cấm đoĂĄn hạn chế, nĂł sẽ tạo ra lắm chuyện xấu xa hĂšn hạ khổ đau cho nhau. VĂŹ lĂČng từ bi, đức Phật như bắt buộc cĂĄc đệ tử của NgĂ i phải tuĂąn theo những điều cấm đoĂĄn, nhờ đĂł sẽ dẹp bớt những thĂłi xấu, nết tốt dần dần tăng trưởng, khổ đau sẽ tiĂȘu mĂČn, an vui thĂȘm lớn. ĐĂąy lĂ  chủ đĂ­ch cứu khổ của đạo Phật.

Để thĂ nh một con người hoĂ n hảo hơn, Phật dạy phải tu Thập thiện. PhĂĄp Thập thiện mới thật sự đầy đủ tu chuyển ba nghiệp. Chuyển ba nghiệp ĂĄc của thĂąn, khĂŽng sĂĄt sanh, khĂŽng trộm cướp, khĂŽng tĂ  dĂąm. Chuyển bốn nghiệp ĂĄc của khẩu: khĂŽng nĂłi dối, khĂŽng nĂłi lật lọng (ly giĂĄn), khĂŽng nĂłi hung ĂĄc, khĂŽng nĂłi vĂŽ nghĩa (thĂȘu dệt), chuyển ba nghiệp ĂĄc của Ăœ: bớt tham, bớt sĂąn, khĂŽng tĂ  kiến (chấp lệch, sai). Mười điều lĂ nh nĂ y xĂąy dựng một con người toĂ n hảo. ChĂșng ta phĂąn tĂ­ch từ tế đến thĂŽ sẽ thấy phĂĄp Thập thiện cĂŽng hiệu khĂŽng thể kể hết. Một con người khĂŽng bị tham lam xĂși giục thĂŹ sẽ lĂ m chủ mĂŹnh trước mọi thứ cĂĄm dỗ của trần gian. TĂ i sắc danh lợi khĂŽng lung lạc được, người nĂ y mới hoĂ n toĂ n thanh bạch cao thượng. KhĂŽng bị nĂłng giận ĂĄp đảo, chĂșng ta mới bĂŹnh tĩnh sĂĄng suốt giải quyết mọi vấn đề. LĂ m chủ được nĂłng giận, chĂșng ta khĂŽng nĂłi lời thĂŽ ĂĄc, khĂŽng cĂł hĂ nh động tĂ n nhẫn. Đời chĂșng ta khĂŽng bị hối hận bao giờ, người thĂąn chĂșng ta khĂŽng hề chĂĄn ghĂ©t. Sự việc xảy đến, giải quyết một cĂĄch sĂĄng suốt khĂŽn ngoan chĂșng ta mới đủ khả năng đảm đang việc lớn được. Mọi lĂœ thuyết, mọi vấn đề, chĂșng ta khĂŽng thấy một chiều, khĂŽng nhĂŹn phiến diện, quần chĂșng mới dễ cảm thĂŽng, mới thật lĂČng yĂȘu mến. TĂ  kiến lĂ  cĂĄi thấy lệch lạc, thấy sai lầm cục bộ, dễ sanh tranh cĂŁi, dễ sanh oĂĄn hờn. KhĂŽng tĂ  kiến lĂ  một tĂąm hồn cởi mở, bao dung, suốt thĂŽng, trong sĂĄng. KhĂŽng tĂ  kiến, chĂșng ta hĂČa hợp được mọi người, mọi chĂĄnh kiến khĂĄc nhau. Cuộc sống hạnh phĂșc hay khổ đau, nẩy mầm từ thĂŽng cảm nhau hay chống đối nhau. KhĂŽng tĂ  kiến mĂ  lại cĂł chĂĄnh kiến, thật hạnh phĂșc thay cho kiếp con người. ThĂąn khẩu trở thĂ nh hay hoặc dở đều phĂĄt nguồn từ Ăœ tốt hay xấu. Sở dĩ Thập thiện xĂąy dựng con người hoĂ n hảo lĂ  chĂș trọng đến Ăœ nghiệp. PhĂĄp ngũ giới mới chuyển hĂła hai phần nổi, thĂąn khẩu mĂ  thĂŽi. Bởi vậy Phật tử chĂșng ta khĂŽng phải chỉ dừng ở Ngũ giới mĂ  phải tiến lĂȘn Thập thiện mới thật đầy đủ.

TU  CHUYỂN   BA  NGHIỆP  LÀ  CĂN BẢN  PHẬT  PHÁP

Đời Đường ở Trung Hoa, cĂł một Thiền sư thấy trĂȘn cĂąy cĂł chỗ thuận tiện ngồi tu được, ĂŽng liền gĂĄc cĂąy bẻ nhĂĄnh lĂłt thĂ nh chỗ ngồi, giống như ổ quạ vĂ  ngồi đĂł tu. Thời gian sau, ĂŽng ngộ đạo tại đĂąy, dĂąn chĂșng gọi NgĂ i lĂ  Ô SĂ o Thiền sư (Thiền sư ngồi trong ổ quạ). Ông Bạch Cư Dị, nhĂ  văn nổi tiếng thời ấy, được cử lĂ m quan ở huyện nĂ y, nghe danh tiếng Thiền sư Ô SĂ o, ĂŽng liền đến hỏi đạo. Khi gặp nhau, ĂŽng hỏi nhiều cĂąu, cĂąu chĂłt: “Thế nĂ o lĂ  đại Ăœ Phật phĂĄp?” Thiền sư Ô SĂ o ngồi trĂȘn ổ quạ đĂĄp: “Chư ĂĄc mạc tĂĄc, chĂșng thiện phụng hĂ nh, tự tịnh kỳ Ăœ, thị chư Phật giĂĄo.” (Chớ tạo cĂĄc điều ĂĄc, vĂąng lĂ m mọi việc lĂ nh, giữ tĂąm Ăœ trong sạch, đĂąy lời dạy chư Phật.) Ông Bạch Cư Dị cười thưa: “BĂ i kệ NgĂ i dạy, con nĂ­t tĂĄm tuổi cũng thuộc rồi.” Thiền sư bảo: “Phải, con nĂ­t tĂĄm tuổi cũng thuộc, song ĂŽng giĂ  tĂĄm mươi lĂ m chưa xong.” Bạch Cư Dị đảnh lễ rồi lui về.

Qua cĂąu chuyện nĂ y, chĂșng ta thấy cốt yếu của đạo Phật lĂ  dạy Phật tử phải chuyển ba nghiệp ĂĄc thĂ nh ba nghiệp thiện. “Chớ tạo cĂĄc điều ĂĄc” lĂ  dừng ba nghiệp ĂĄc. “VĂąng lĂ m mọi việc lĂ nh” lĂ  tu ba nghiệp lĂ nh. “Giữ tĂąm Ăœ thanh tịnh” phải chĂș tĂąm nhiều về Ăœ nghiệp. Ý nghiệp thanh tịnh thĂŹ thĂąn khẩu mới tốt, mới thanh tịnh. Ý nghiệp lĂ  chủ động, nĂȘn dĂ nh riĂȘng một cĂąu để thấy tầm vĂłc quan trọng của nĂł. Dạy tu chuyển ba nghiệp thanh tịnh nĂ y, khĂŽng phải chỉ riĂȘng Phật ThĂ­ch-ca dạy mĂ  chư Phật đều dạy như thế, “đĂąy lời dạy chư Phật”. CĂČn một điểm quan trọng chĂșng ta phải chĂș Ăœ, Bạch Cư Dị nghe bĂ i kệ nĂ y thấy dễ nhớ dễ hiểu nĂȘn xem thường bảo rằng “con nĂ­t tĂĄm tuổi cũng thuộc”. Thiền sư giĂĄng cho ĂŽng một đĂČn đau điếng bằng cĂąu, “con nĂ­t tĂĄm tuổi cũng thuộc, song ĂŽng giĂ  tĂĄm mươi lĂ m chưa xong”. Đạo lĂ  để hĂ nh để tu chớ khĂŽng phải hiểu nhớ suĂŽng. Nếu hỏi đạo để hiểu nhớ, chỉ lĂ  việc đĂča cợt vĂŽ Ă­ch. Ứng dụng lời Phật dạy vĂ o cuộc sống, mới thấy hữu Ă­ch thật sự. Dầu một thứ thuốc hay đến đĂąu, nếu người ta chỉ biết tĂȘn, đọc nhĂŁn hiệu, nghiĂȘn cứu cĂŽng thức, mĂ  khĂŽng chịu uống thĂŹ con bệnh khĂŽng bao giờ lĂ nh. Phật tử chịu thực hĂ nh lời Phật dạy, như con bệnh chịu uống thuốc, mọi bệnh khổ khĂŽng cĂČn đeo bĂĄm chĂșng ta. Học Phật phĂĄp để hiểu để nĂłi, như người khoe ăn nhiều thứ bĂĄnh vẽ, mĂ  bụng vẫn đĂłi. Người học đạo để hĂ nh, để tu mới thật chĂąn chĂĄnh Phật tử.

Kết thĂșc bĂ i nĂ y, chĂșng ta thấy trọng tĂąm chủ yếu đạo Phật dạy “chuyển hĂła ba nghiệp ĂĄc thĂ nh ba nghiệp thiện”, lĂ  căn bản bước đầu khĂŽng thể thiếu, ở mỗi người Phật tử. Mỗi người hoĂ n thiện thĂŹ xĂŁ hội mới toĂ n mỹ. ChĂșng ta tu chuyển nghiệp ĂĄc thĂ nh nghiệp thiện lĂ  tự mĂŹnh thẳng tiến trĂȘn bước đường đạo đức, đĂłng gĂłp sự vui tươi an lạc cho gia đĂŹnh mĂŹnh, xĂąy dựng hoĂ n hảo cho xĂŁ hội văn minh. Văn minh ở đĂąy lĂ  văn minh đạo đức, văn minh của tĂŹnh thương chia ngọt sẻ bĂči, văn minh của những con người thanh bai cao thượng. Cho nĂȘn trong kinh Thập Thiện nĂłi người tu Thập thiện sẽ được sanh lĂȘn cĂ”i trời, gọi lĂ  ThiĂȘn thừa Phật giĂĄo. Song với chĂșng tĂŽi, người tu Thập thiện lĂ  con người hoĂ n hảo, trong xĂŁ hội cĂł đa số người tu Thập thiện lĂ  xĂŁ hội văn minh hoĂ n hảo. ĐĂąy lĂ  Phật phĂĄp giĂĄo hĂła dĂąn gian.

TU TRONG MỌI HOÀN CẢNH

CĂł nhiều người nghĩ rằng, tu lĂ  phần riĂȘng của những kẻ rảnh rang nhĂ n hạ, những người thừa của thừa tiền, cĂČn mĂŹnh lĂ m đầu tắt mặt tối, cơm khĂŽng đủ no ĂĄo khĂŽng đủ ấm, cĂł thĂŹ giờ đĂąu mĂ  nĂłi chuyện tu. Hoặc cĂł những người nghĩ, tu lĂ  việc của những kẻ thiếu phước bần hĂ n, cĂŽ quả, tật nguyền, nhờ tu họ được an ủi bớt khổ, cĂČn ta phước nhiều của lắm, thĂąn quyến đầy đĂ n, đẹp đẽ sang trọng mĂ  tu lĂ m gĂŹ. Lại cĂł người nghĩ, tu lĂ  việc của những kẻ tội lỗi ĂĄc độc, bởi họ tạo nhiều tội lỗi nĂȘn phải tu để chuộc tội, cĂČn tĂŽi hiền lĂ nh cĂł lĂ m gĂŹ hại ai đĂąu mĂ  tu. Bởi cĂł những quan niệm nĂ y, nĂȘn người ta khĂŽng mĂ ng khĂŽng nghĩ đến tu. Họ đĂąu biết rằng, mọi chĂșng ta trong tĂąm niệm cĂł cả xấu lẫn tốt, nếu thả nổi mặc tĂŹnh niệm xấu hoĂ nh hĂ nh, lĂ  sống theo bản năng, mất hết tư cĂĄch của con người vĂ  sẽ gĂąy tội lỗi ngập trời. Để hạn chế tĂąm niệm xấu, khiến nĂł tiĂȘu mĂČn, khởi dậy tĂąm niệm tốt, khiến nĂł tăng trưởng, đĂąy lĂ  việc lĂ m của người tu. CĂł giảm tĂąm niệm xấu, tăng tĂąm niệm tốt, người nĂ y mới đủ tư cĂĄch con người vĂ  lĂ m nhiều việc tốt đẹp với mọi người chung quanh. Thế lĂ , cĂł hoĂ n cảnh nĂ o mĂ  chẳng nĂȘn tu?

TU TRONG CẢNH BẬN RỘN

CĂł những người bận lo sinh kế gia đĂŹnh, tửng bưng sĂĄng đĂŁ cĂł mặt ở chợ, đến sẩm tối mới về tới nhĂ , rồi lo ăn uống giặt giũ cho con cĂĄi lĂ  tối mĂČ, cĂł rảnh lĂșc nĂ o đĂąu mĂ  tu? Nếu bảo những người nĂ y phải tụng kinh, phải lần chuỗi niệm Phật, chắc hẳn khĂŽng thế nĂ o lĂ m được. Nhưng tu ở đĂąy lĂ , bỏ Ăœ nghĩ xấu, nuĂŽi dưỡng Ăœ nghĩ tốt, bỏ lời nĂłi dữ, nĂłi lời nĂłi lĂ nh, dừng những hĂ nh động ĂĄc, tạo những hĂ nh động thiện, cĂł mất thĂŹ giờ chĂșt nĂ o mĂ  tu khĂŽng được. TrĂĄi lại, chĂ­nh khi buĂŽn bĂĄn lĂ m ăn ấy, chĂșng ta cĂł Ăœ nghĩ tốt, thốt lời nĂłi lĂ nh, cĂł hĂ nh động thiện, người khĂĄch hĂ ng mến thương, khiến khĂĄch mua hĂ ng cĂ ng lĂșc cĂ ng đĂŽng, việc lĂ m ăn dễ phĂĄt đạt. VĂ­ như cĂŽ bĂĄn hĂ ng cĂł khĂĄch đến mua, giĂĄ mĂłn hĂ ng một ngĂ n đồng, cĂŽ nĂłi một ngĂ n hai, chờ khĂĄch trả một ngĂ n lĂ  cĂŽ bĂĄn. Song trớ trĂȘu, người khĂĄch khĂŽng trả một ngĂ n, mĂ  trả ba trăm. Trường hợp nĂ y, nếu cĂŽ bĂĄn hĂ ng khĂŽng biết tu thĂŹ nổi giận quĂĄt thĂĄo ầm ĩ, gĂąy ra cuộc cĂŁi vĂŁ ồn Ă o. Ngược lại, cĂŽ bĂĄn hĂ ng biết tu, chỉ cần cười, nĂłi nhẹ nhĂ ng “trả chưa tới giĂĄ, bĂĄn khĂŽng được”. Mọi việc ĂȘm ĂĄi, khĂŽng ai thiệt thĂČi gĂŹ, mai kia người khĂĄch ấy cĂČn cĂł thể đến gian hĂ ng nĂ y mua hĂ ng. Trước những cảnh bất như Ăœ, chĂșng ta biết kềm hĂŁm sự nĂłng giận, biết lựa lời ĂŽn hĂČa để đĂĄp, biết giữ thĂĄi độ bĂŹnh tĩnh, lĂ  khĂ©o tu. Ở giữa chợ, mỗi ngĂ y sự bất như Ăœ diễn ra liĂȘn tục, nĂȘn tu hĂ nh lĂ  điều tối cần cho người sống trong hoĂ n cảnh nĂ y. VĂŹ thế người xưa nĂłi: “Nhất tu thị, nhị tu sơn.”

Nếu lĂ  người nĂŽng phu lĂ m nghề ruộng khi vĂĄc cuốc ra đồng, chĂșng ta nghĩ “cần mẫn lĂ m cho lĂșa trĂșng, để cĂł cơm cho gia đĂŹnh mĂŹnh ăn, vơi ra giĂșp đồng bĂ o mĂŹnh cĂčng cĂł cơm ăn”. Quan niệm ấy lĂ  Ăœ nghĩ lĂ nh, đĂł lĂ  tu. Thấy thửa ruộng bĂȘn cạnh tốt hơn ruộng mĂŹnh, khĂŽng cĂł tĂąm đố kỵ, mĂ  lĂČng mừng thầm bạn mĂŹnh được lĂșa trĂșng, gia đĂŹnh ấm no..., mĂŹnh gắng học hỏi theo cĂĄch lĂ m ăn ấy, đĂąy lĂ  tĂąm niệm của người biết tu. Lại, khi lĂ m việc đắp bờ cuốc ruộng, trong tĂąm vừa nảy ra niệm xấu, ta liền diệt trừ, trong tĂąm nảy ra niệm tốt, ta liền khơi dậy cho nĂł tăng trưởng, ấy lĂ  tu, một cuốc lĂ  một cĂąu niệm Phật, hoặc một cuốc tận kim cang địa ấy lĂ  tu.

LĂ  học trĂČ bận việc học hĂ nh, cĂŽng phu tu khĂŽng hề chướng ngại. Khi cắp sĂĄch đi học, em nghĩ “ta cố gắng học cho giỏi, để mai kia giĂșp cha mẹ khi tuổi giĂ , cĂł tĂ i để gĂłp cĂŽng mĂŹnh xĂąy dựng quĂȘ hương tốt đẹp hơn”, đĂł lĂ  em tu. Thầy giĂĄo, cĂŽ giĂĄo nhọc sức giảng dạy bĂ i vở, em lắng nghe vĂ  cố học thuộc, vĂŹ thương sợ thầy cĂŽ buồn, đấ;y lĂ  em biết tu. Bạn bĂš trong lớp cĂł những trĂČ học giỏi hơn em, em khĂŽng ganh tỵ, trĂĄi lại cĂČn kĂ­nh phục để bắt chước theo, ấy lĂ  tĂąm niệm người tu. Người tu lĂ  người biết phục thiện, mỗi khi cĂł lỗi lầm bị rầy, bị phạt, biết lỗi sửa ngay, khĂŽng oĂĄn hờn trĂĄch mĂłc. CĂł những đứa học hĂ nh thua kĂ©m vĂ  thiếu phương tiện hơn em, em thương mến hướng dẫn vĂ  giĂșp đỡ nĂł, lĂ  em khĂ©o tu. XĂŁ hội ngĂ y mai sĂĄng sủa hơn, tốt đẹp hơn, chĂ­nh nhờ những mầm non biết tu.

TU TRONG CẢNH NGHÈO KHÓ

ChĂșng ta nghĂšo tiền nghĂšo của chớ đĂąu cĂł nghĂšo Ăœ nghĩ, lời nĂłi, hĂ nh động. Chuyển hĂła Ăœ nghĩ xấu thĂ nh tốt, lời nĂłi dữ thĂ nh hiền, hĂ nh động ĂĄc thĂ nh thiện lĂ  tu. Việc nĂ y đĂąu đĂČi cĂł tiền cĂł của, nhĂ n rỗi mới lĂ m được. ChĂ­nh trong cuộc sống vất vả nghĂšo nĂ n của chĂșng ta cần thiết phải cĂł nĂł. Như cĂł người nghĂšo khĂł vất vả mĂ  lĂČng tốt, lời nĂłi hiền hĂČa, hĂ nh động lương thiện, khiến mọi người thương mến giĂșp đỡ, nhờ đĂł mọi khĂł khăn giảm bớt đi. Ngược lại, nếu ở trong cảnh khĂł khăn mĂ  Ăœ ngang ngạnh, lời nĂłi hung dữ, hĂ nh động bạo ngược, khiến ai nghe thấy cũng ghĂ©t cũng lĂĄnh xa, nhờ điều gĂŹ họ cũng khĂŽng giĂșp, thĂŹ khĂł khăn lại cĂ ng khĂł khăn hơn. Hơn nữa, tĂąm hồn trong sĂĄng, lời nĂłi hiền hĂČa, hĂ nh động thanh cao, dĂč chĂșng ta sống trong cảnh nghĂšo vẫn thấy ĂȘm đềm hạnh phĂșc. Chồng biết nhường vợ, vợ biết kĂ­nh chồng, con hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ thương yĂȘu con cĂĄi, gọi lĂ  cuộc sống hạt muối cắn hai, thật lĂ  lĂœ tưởng biết bao.

TU TRONG CẢNH BỆNH HOẠN

BĂŹnh thường người ta cho khi bệnh hoạn lĂ  chướng ngại tu hĂ nh, đĂąy cũng lĂ  quan niệm sai lầm về việc tu. Nếu thấy tụng kinh, tọa thiền mới lĂ  tu, khi bệnh hoạn tụng kinh khĂŽng nổi, tọa thiền khĂŽng được, đĂł lĂ  chướng ngại tu. Song tu cốt ngăn ngừa phiền nĂŁo, chiến thắng vọng tưởng, dĂč cĂł tụng kinh tọa thiền, khĂŽng tụng kinh tọa thiền đều tu được. Nếu cĂł người bệnh nặng khĂŽng đi đứng được, nằm một ch&#7895;, khi ấy nằm nhiếp tĂąm niệm Phật, niệm chĂ­ tử, chẳng buồn nghĩ đến ai, lo việc gĂŹ, chỉ một bề niệm Phật thĂŽi. ĐĂąy lĂ  tu đại tinh tấn theo phĂĄp mĂŽn Tịnh độ, đĂąu cĂł chướng ngại gĂŹ. Hoặc cĂł người bệnh, khĂŽng niệm Phật mĂ  thĂ­ch quĂĄn chiếu, liền quĂĄn thĂąn nĂ y thấy nĂł lĂ  gốc khổ đau, lĂ  tướng vĂŽ thường, lĂ  hiện tượng nhớp nhĂșa, lĂ  khĂŽng cĂł chủ, nương thĂąn bệnh quĂĄn chiếu tường tận như vậy, thấy được tướng thật của thĂąn, đĂąy lĂ  phĂĄp trĂ­ tuệ sẽ gần với Niết-bĂ n, lĂ  tu thiền. Khổ nỗi, người Phật tử bĂŹnh thường tinh tấn tu hĂ nh, gặp lĂșc bệnh hoạn lại thối chuyển, sanh phiền nĂŁo với con chĂĄu, đĂąy lĂ  việc đĂĄng tiếc. Khi mạnh chĂșng ta tu, để khi yếu bệnh cĂł đủ đạo lực tiếp tục, vĂŹ lĂșc nĂ y lĂ  lĂșc gần với tử thần, lĂ  phĂșt chiến đấu cuối cĂčng, nếu ngang đĂąy mĂ  dừng, mĂ  hướng đi chiều khĂĄc, thật lĂ  một việc hoĂ i cĂŽng vĂŽ Ă­ch. Bởi vậy nĂȘn, Phật tử chĂșng ta phải thấy khi bệnh lĂ  cơ hội tốt, dồn hết tĂąm lực vĂ o sự tu, chuyĂȘn tĂąm khĂŽng lơi niệm, được vậy lĂ  gần với Phật, gần Niết-bĂ n, mới mong thoĂĄt khỏi khổ luĂąn hồi muĂŽn kiếp.

TU TRONG CẢNH TẠI GIA

CĂł một số Phật tử nghĩ rằng, ở tại gia phiền rộn khĂł tu, được xuất gia rảnh rang tu hĂ nh mới giải thoĂĄt. Quan niệm nĂ y cũng khĂŽng đĂșng. Nếu thấy tại gia lĂ  nhiều việc, vĂ o chĂča chắc gĂŹ Ă­t việc? Người xưa nĂłi: “Ca-sa vị trước hiềm đa sự, trước dĩ ca-sa sự cĂĄnh đa.” (Ca-sa chưa mặc than nhiều việc, được mặc ca-sa việc lại nhiều.) CĂąu nĂ y thật lĂ  chua chĂĄt đối với người tu. ĐĂąy quả lĂ  sợ ĂŽng tĂĄo gặp ĂŽng lĂČ, chạy ĂŽ mồ mắc ĂŽ mả. ChĂșng ta đĂąu khĂŽng nghe quĂ­ thầy trụ trĂŹ thường than: “Trụ trĂŹ lĂ m dĂąu trăm họ.” Thế lĂ  Ă­t việc hay nhiều việc, phiền rộn hay rảnh rang. Yếu điểm tu hĂ nh lĂ  hiểu đạo, vững lĂČng tin. Đủ hai điểm nĂ y, ở tại gia hay xuất gia đều tu được. Nếu khĂŽng đủ hai điểm nĂ y, dĂč ở chĂča chưa chắc đĂŁ tu được. ChĂșng ta phải khĂ©o linh động trong mọi hoĂ n cảnh, đừng đĂČi hỏi phải cảnh thế ấy tu mới được. Sự đĂČi hỏi đĂł lĂ  cĂĄi cớ để chĂșng ta khĂŽng tu. VĂŹ cĂł những người khĂŽng thể t841;o được hoĂ n cảnh như Ăœ. CĂł những Phật tử nam cũng như nữ, con cĂĄi đầy đĂ n đầy đống mĂ  cứ nằng nặc đĂČi xuất gia, quăng đại cho người ở nhĂ  lĂ m sao thĂŹ lĂ m. Nếu thỏa mĂŁn nguyện vọng, vĂ o chĂča một lĂșc, gặp khi gia đĂŹnh thiếu thốn, con cĂĄi nheo nhĂłc, nĂłng lĂČng rồi gởi ca-sa cho chĂča trở về nhĂ . ĐĂąy lĂ  việc lĂ m nĂŽng nổi.

CHỨNG MINH MỌI HOÀN CẢNH ĐỀU TU ĐƯỢC

NgĂ y xưa, đời Đường ở Trung Hoa cĂł gia đĂŹnh ĂŽng BĂ ng Long Uẩn, vẫn lĂ m cư sĩ tại gia, mĂ  tu đến được chỗ sanh tử tự tại. Trong giới học Phật từ trước đến nay vẫn ngưỡng mộ cĂŽng đức tu hĂ nh của gia đĂŹnh ĂŽng. Như trong bĂ i sĂĄm tu Tịnh độ đĂŁ đọc buổi tối, cĂł cĂąu “in như thiền định họ BĂ ng thuở xưa...” Ông BĂ ng Long Uẩn trước theo Nho học, sau nghiĂȘn cứu Phật thấy thĂ­ch thĂș, ĂŽng tĂŹm đến tham vấn cĂĄc Thiền sư. Ban đầu, ĂŽng đến hỏi Thiền sư Hy ThiĂȘn (Thạch Đầu): “Người khĂŽng cĂčng muĂŽn phĂĄp lĂ m bạn lĂ  người gĂŹ?” Hy ThiĂȘn liền bụm miệng ĂŽng. Ngay đĂąy ĂŽng được ngộ. Sau ĂŽng đến tham vấn MĂŁ Tổ (Đạo Nhất), cũng đem cĂąu ấy ra hỏi. MĂŁ Tổ bảo: “Ông hớp một ngụm cạn hết sĂŽng TĂąy Giang, ta sẽ vĂŹ ĂŽng nĂłi.” Ông cĂ ng tin sĂąu hơn.

Gia đĂŹng ĂŽng, hai ĂŽng bĂ  vĂ  một con trai, một con gĂĄi. Ông cất nhĂ  gần chĂąn nĂși, mỗi ngĂ y chẻ tre đan sĂĄo, cĂŽ con gĂĄi gĂĄnh ra chợ bĂĄn. Sống đạm bạc qua ngĂ y để tu hĂ nh. Một hĂŽm, trong nhĂ  cĂčng ngồi bĂ n việc đạo, ĂŽng nĂłi: “Nan nan nan, thập tạ du ma thọ thượng thang.” (KhĂł khĂł khĂł, mười tạ dầu mĂš trĂȘn cĂąy vuốt.) BĂ  đĂĄp: “Dị dị dị, bĂĄch thảo thượng đầu Tổ sư Ăœ.” (Dễ dễ dễ, trĂȘn đầu trăm cỏ Ăœ Tổ sư.) CĂŽ con gĂĄi tĂȘn Linh Chiếu đĂĄp: “DĂŁ bất dị, dĂŁ bất nan, cơ lai khiết phạn, khốn lai thĂčy.” (Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khĂł, đĂłi đến thĂŹ ăn mệt ngủ khĂČ.) Với cĂĄi nhĂŹn của ĂŽng, thấy sự tu hĂ nh thật khĂł khăn vĂŽ kể, giống như người trĂšo lĂȘn cĂąy cao mĂ  bị thoa dầu, trĂšo lĂȘn tuột xuống, khĂŽng cĂł chỗ để bĂĄm. TrĂĄi lại, bĂ  thấy việc tu rất dễ, vĂŹ nhĂŹn ở đĂąu cũng thấy Ăœ Tổ sư trĂ n khắp. CĂŽ Linh Chiếu dung hĂČa, khĂŽng nĂłi khĂł, khĂŽng nĂłi dễ, khĂł dễ lĂ  hai bĂȘn, vượt qua hai bĂȘn (nhị kiến) tĂąm sẽ thanh tịnh thản nhiĂȘn, khi ấy chỉ đĂłi đến thĂŹ ăn, mệt đến thĂŹ ngủ. CĂąu nĂłi của cĂŽ Linh Chiếu dễ bị người sau hiểu lầm, người ta nghĩ rằng tu thiền lĂ  đĂłi ăn mệt ngủ, rồi sống theo bản năng, thật lĂ  tai họa, chủ yếu cĂŽ nĂłi lĂ , khi nĂ o tĂąm ta khĂŽng cĂČn mắc kẹt hai bĂȘn, khĂł dễ, tốt xấu, hơn thua, hay dở..., mới đến chỗ đĂłi ăn mệt ngủ.

Lại, ĂŽng cĂł lĂ m bĂ i kệ nĂłi sự đoĂ n tụ của gia đĂŹnh ĂŽng như sau:

Hữu nam bất thĂș

Hữu nữ bất giĂĄ

Đại gia đoĂ n biến đầu

Cộng thuyết vĂŽ sanh thoại.

Dịch:

CĂł con trai khĂŽng cưới vợ

CĂł con gĂĄi khĂŽng gả chồng

Cả nhĂ  cĂčng sum họp

Đồng bĂ n lời vĂŽ sanh.

Về giĂ , một hĂŽm ĂŽng lĂȘn ngựa giữa ngồi chuẩn bị tịch, bảo Linh Chiếu: “Con ra sĂąn xem đĂșng ngọ vĂŽ cho cha hay.” CĂŽ Linh Chiếu ra xem trở vĂ o thưa: “Gần đĂșng ngọ, mặt trời bị nguyệt thực, cha ra xem.” Ông ra sĂąn xem, trở vĂ o, thấy Linh Chiếu lĂȘn ngựa giữa ngồi kiết giĂ  tịch. Ông nĂłi: “Con gĂĄi ta lanh lợi quĂĄ!” Lo mai tĂĄng Linh Chiếu xong, ĂŽng bĂĄo tin cho thĂąn hữu hay sắp tịch. HĂŽm ấy bạn bĂš tụ hội, ĂŽng nằm gối đầu trĂȘn đầu gối ChĂąu Mục CĂŽng, nhắm mắt thị tịch. Tin nĂ y đến bĂ  Long Uẩn, bĂ  ra đồng cho con trai hay, người con trai đang đĂĄnh trĂąu cĂ y ruộng, bĂ  bảo: “Con ơi! Ông giĂ  vĂŽ tri vĂ  con bĂ© ngu si  đĂŁ bỏ mĂŹnh đi rồi.” Người con trai thưa: “Vậy hở mẹ!” Liền đứng thẳng tịch. BĂ  nĂłi: “Thằng ngu si nĂ y cũng đi nữa.” BĂ  lo mai tĂĄng con trai xong, lĂȘn nĂși tịch. ĐĂąy lĂ  hiện tượng sanh tử tự tại của gia đĂŹnh ĂŽng BĂ ng Long Uẩn. Ông Long Uẩn đan sĂĄo, cĂŽ Linh Chiếu bĂĄn sĂĄo ngoĂ i chợ, con trai ĂŽng cuốc cĂ y ngoĂ i ruộng, bĂ  Long Uẩn ở nhĂ  nấu cơm, đều tu hĂ nh đắc lực đến sanh tử tự tại. Tại sao chĂșng ta lại đổ tại hoĂ n cảnh nĂ y, hoĂ n cảnh nọ, tu khĂŽng được?

Đến đời Trần ở Việt Nam, vua Trần ThĂĄnh TĂŽng vĂ  Tuệ Trung Thượng Sĩ, một ĂŽng vua, một ĂŽng quan vẫn tu hĂ nh đắc lực. ChĂșng ta ĂŽn lại cĂąu chuyện sau đĂąy. NhĂąn ngĂ y lĂ m tuần cho HoĂ ng thĂĄi hậu, vua ThĂĄnh TĂŽng thỉnh cĂĄc bậc tĂŽn tĂșc đến dự trai, trong đĂł cĂł Tuệ Trung Thượng Sĩ. NhĂ  vua yĂȘu cầu cĂĄc NgĂ i trĂŹnh bĂ i kệ ngắn để thấy chỗ kiến giải của cĂĄc ngĂ i, qua nhiều bĂ i kệ, nhĂ  vua khĂŽng hĂ i lĂČng bĂšn trao giấy bĂșt cho Thượng Sĩ. Thượng Sĩ viết một mạch:

Kiến giải trĂŹnh kiến giải

Tợ niết mục tĂĄc quĂĄi

Niết mục tĂĄc quĂĄi liễu

Minh minh thường tự tại.

Dịch:

Kiến giải trĂŹnh kiến giải

Như dụi mắt thấy quĂĄi

Dụi mắt thấy quĂĄi rồi

RĂ” rĂ ng thường tự tại.

NhĂ  vua đọc xong, liền phĂȘ tiếp ở sau:

Minh minh thường tự tại

Diệc niết mục tĂĄc quĂĄi

Kiến quĂĄi bất kiến quĂĄi

Kỳ quĂĄi tất tự hoại.

Dịch:

RĂ” rĂ ng thường tự tại

Cũng dụi mắt thấy quĂĄi

Thấy quĂĄi chẳng thấy quĂĄi

QuĂĄi ấy ắt tự hoại.

Kiến giải của chĂșng ta khĂŽng thật, giống như dụi mắt trong hư khĂŽng cĂł những đốm hoa. Khi con mắt bĂŹnh thường trở lại thĂŹ những đốm hoa khĂŽng cĂČn. Những đốm hoa mất đi, ấy lĂ  con mắt sĂĄng. TĂąm chĂșng ta bị kiến giải che mờ, một khi kiến giải lặng mất, lĂșc ấy mới lĂ  tĂąm chĂąn thật sĂĄng suốt. Vua ThĂĄnh TĂŽng vĂ  Thượng Sĩ chỗ thấy như nhau, khĂĄc nhau chỉ đối ngược Ăœ trước sau mĂ  thĂŽi. Thượng Sĩ nĂłi con mắt dụi thấy hoa đốm, khi hết lĂČa con mắt trước đĂŁ sĂĄng rỡ. ThĂĄnh TĂŽng nĂłi con mắt trước đĂŁ sĂĄng rĂ”, do dụi nĂȘn thấy hoa đốm, chĂ­nh khi thấy hoa đốm, biết lĂ  khĂŽng thật thĂŹ hoa đốm tự mất, trở lại con mắt sĂĄng như trước.

Vua ThĂĄnh TĂŽng đau nặng, Thượng Sĩ biĂȘn thơ hỏi thăm. Vua trả lời bằng hai cĂąu thơ:

ViĂȘm viĂȘm thử khĂ­ hạn thĂŽng thĂąn

Vị tằng uyển ngĂŁ nương sanh khố.

Dịch:

Hừng hực hơi nĂłng toĂĄt mồ hĂŽi

Chiếc khố mẹ sanh chưa từng ướt.

Thượng Sĩ bệnh sơ sĂ i, NgĂ i kĂȘ một giường gỗ nằm tại Dưỡng ChĂąn Trang. NgĂ i nằm nghiĂȘng bĂȘn phải theo phĂ©p cĂĄt tường, mắt nhắm lại, người hầu vĂ  thĂȘ thiếp khĂłc rống lĂȘn. NgĂ i mở mắt ngồi dậy, sai lấy nước rửa tay sĂșc miệng, liền quở nhẹ rằng:

Sống chết lĂ  lẽ thường, buồn thảm luyến tiếc chi, lĂ m nĂŁo chĂąn tĂĄnh ta.4

NĂłi xong, NgĂ i nằm xuống yĂȘn lặng mĂ  tịch.

Một ĂŽng vua khi sắp chết, thấy thĂąn tứ đại tan rĂŁ đau đớn, song cĂČn một cĂĄi chưa bao giờ tan rĂŁ, đĂąy lĂ  “chiếc khố mẹ sanh”. Một ĂŽng quan sống trong cảnh thĂȘ thiếp tĂŽi tớ đầy nhĂ , mĂ  vẫn nhẹ nhĂ ng thanh thản ra đi, trước mọi người khĂłc than luyến tiếc. Nếu vĂŹ bận rộn khĂł tu, ai bận rộn hơn một ĂŽng vua, nhất lĂ  ĂŽng vua vĂŹ dĂąn vĂŹ nước trước cuộc xĂąm lăng của phương Bắc. Ai bị rĂ ng buộc hơn một ĂŽng quan, cĂł đủ thĂȘ thiếp tĂŽi tớ đầy nhĂ . Những vị nĂ y tu được, chĂșng ta khĂŽng cĂČn lĂœ do gĂŹ thối thĂĄc khĂł tu.

TĂłm lại, chĂșng ta lĂ  con người chưa cĂł ai toĂ n hảo, cần phải biết tu để chận đứng những điều xấu dở xuất phĂĄt từ ba nghiệp của mĂŹnh. Đồng thời chĂșng ta khĂ©o nuĂŽi dưỡng những hĂ nh động tốt đẹp từ thĂąn miệng Ăœ phĂĄt ra. Dừng ĂĄc nuĂŽi thiện lĂ  điều khĂŽng thể thiếu, nơi con người muốn vươn lĂȘn. Khước từ tu hĂ nh, lĂ  chĂșng ta khước từ sự tiến bộ, lĂ  khước từ mọi đẹp đẽ cao quĂ­, khước từ sự an vui hạnh phĂșc. Nếu ai quyết chĂ­ vươn lĂȘn, muốn sống cuộc đời an lạc, muốn gia đĂŹnh hạnh phĂșc, muốn xứ sở huy hoĂ ng, tu lĂ  chủ yếu thực hiện những điều mong muốn ấy.

HOA SEN TRONG BÙN

CĂł lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chĂșng ta tu khĂŽng thể nĂ o giĂĄc ngộ thĂ nh Phật. VĂŹ đức Phật ra đời cĂł những nhĂąn duyĂȘn kỳ đặc, bản chất NgĂ i đĂŁ thĂĄnh sẵn rồi; cĂČn chĂșng ta nĂ o lĂ  ham mĂȘ dục lạc, nĂ o lĂ  tội lỗi đầy đầu, nĂ o lĂ  sanh nhằm thời mạt phĂĄp căn cơ y&#7871;u kĂ©m ngu độn v.v... lĂ m sao tu thĂ nh Phật được? Ở đĂąy chĂșng ta hĂŁy nhĂŹn ThĂĄi tử lĂ  một con người, thật lĂ  người để lấy lĂ m mẫu mực hướng theo tu hĂ nh.

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA (Siddharta) SỐNG TRONG HOÀNG CUNG

Khi lĂ  một ĂŽng hoĂ ng ở trong cung cấm, ThĂĄi tử bị mọi thứ dục lạc bủa vĂąy: nĂ o lĂ  vợ đẹp, hầu xinh, NgĂ i cĂł cả thảy ba bĂ  vợ, bĂ  Cu-tỳ-gia (Gapica), bĂ  Gia-du-đĂ -la (Yasodhara), bĂ  Lộc Giả (Urganica) vĂ  cung phi mỹ nữ. NĂ o lĂ  đĂ n ngọt hĂĄt hay, cả ngĂ y Ăąm thanh dằng dặc khĂŽng dừng nghỉ. NĂ o lĂ  sự chiều chuộng của vua cha, xĂąy cung điện thĂ­ch hợp bốn mĂča, tạo cảnh vui thĂ­ch khĂŽng để NgĂ i cĂł một phĂșt đăm chiĂȘu. ĐĂąy lĂ  cảnh thiĂȘn đĂ ng ngay trong trần thế, NgĂ i vui hưởng cảnh nĂ y đến năm mười chĂ­n tuổi.

THÁI TỬ ĐI TU VÀ THÀNH PHẬT

Chỉ một lần ThĂĄi tử trĂŽng thấy cảnh giĂ , bệnh, chết của con người, NgĂ i khổ đau trằn trọc. Tại sao người ta phải chấp nhận lớp người nĂ y sanh ra, giĂ , bệnh, chết, rồi lớp khĂĄc tiếp tục, cứ thế tiếp tục mĂŁi khĂŽng cĂł ngĂ y cĂčng? NgĂ i cương quyết đập tan cĂĄi tiền lệ ấy. VĂŹ thế, bao đĂȘm NgĂ i thức trắng, lĂČng NgĂ i băn khoăn đau xĂłt giĂ y vĂČ, cốt tĂŹm ra lối thoĂĄt để cứu mĂŹnh, cứu chĂșng sanh. Từ đĂąy, sắc đẹp hĂĄt hay, trở thĂ nh trơ trẽn tầm thường trước mắt NgĂ i. Thức ngon vị ngọt, trở thĂ nh nhạt nhẽo chĂĄn ngĂĄn, khi chĂșng để vĂ o miệng NgĂ i. NgĂ i ĂȘ chề ngĂĄn ngẩm mọi thứ dục lạc tạm bợ trĂĄ hĂŹnh. NgĂ i cương quyết rời hoĂ ng cung xuất gia tầm đạo. Mặc dĂč con đường nĂ y giăng trải trước mắt NgĂ i muĂŽn vĂ n nguy hiểm thập tử nhất sanh, NgĂ i chấp nhận phải dấn bước. Thế lĂ  NgĂ i xuất gia lĂșc mười chĂ­n tuổi.

Bao nhiĂȘu năm lang thang trong rừng sĂąu học đạo, con người vương giả của NgĂ i đĂŁ pha mĂ u sương giĂł, đĂŁ từng trải mọi thứ đắng cay, song Ăœ chĂ­ kiĂȘn cường quả cảm của NgĂ i khĂŽng suy giảm. Học đạo khĂŽng thỏa mĂŁn, NgĂ i nguyện thực hĂ nh khổ hạnh tột cĂčng. Nhưng thĂąn sắp hoại mĂ  đạo chưa thấy, NgĂ i phải sống trung hĂČa vĂ  đến dưới cội bồ-đề ngồi tu bốn mươi chĂ­n ngĂ y đĂȘm liền ngộ đạo. Ngang đĂąy, NgĂ i thĂ nh Phật hiệu lĂ  ThĂ­ch-ca MĂąu-ni. ĐĂŁ qua rồi, con đường tầm đạo ngĂłt mười một năm.

Sau khi NgĂ i thĂ nh Phật, NgĂ i nhĂŹn hồ sen thấy cĂł những hoa đĂŁ nở trĂČn đầy, cĂł những hoa cĂČn bĂșp son trinh, cĂł những hoa đang trụ hĂŹnh trong nước, cĂł những mầm sen cĂČn vĂči trong bĂčn nhơ. Song tất cả đều cĂł khả năng nở trĂČn khoe sắc, nhả hương tinh khiết. ChĂșng đồng trong lĂČng đất nhớp nhĂșa vươn lĂȘn, khi được hớp sương phơi nắng, chĂșng đều trĂČn đủ sắc hương như nhau. NgĂ i thấy con người cũng thế, khi sanh ra vĂ  lớn lĂȘn trong vĂČng mĂȘ dục, một phen tỉnh giĂĄc con người sẽ tiến lĂȘn bậc giĂĄc ngộ khĂł gĂŹ. Thế lĂ , NgĂ i lấy hoa sen để biểu trưng cuộc sống vĂ  giĂĄo lĂœ của NgĂ i. Kinh Diệu PhĂĄp LiĂȘn Hoa lĂ  hĂŹnh ảnh cụ thể nhất.

PHẬT NGỒI TRÊN ĐÀI SEN

ChĂșng ta đọc lịch sử Phật, ai cũng biết Bồ-tĂĄt đến cội bồ-đề trải cỏ lĂ m tĂČa ngồi, vĂ  thĂ nh đạo ngay dưới cội cĂąy nĂ y. Hiện nay chĂșng ta thờ Phật đĂșng theo tĂ i liệu lịch sử, phải để NgĂ i ngồi trĂȘn tĂČa cỏ. Tại sao ngĂ y nay chĂča nĂ o thờ Phật cũng ngồi trĂȘn tĂČa sen? ĐĂąy lĂ  để biểu trưng con người của NgĂ i. VĂŹ trước kia lĂ  ĂŽng hoĂ ng, NgĂ i cũng nhiễm ĂŽ ngũ dục, như mầm sen cĂČn ở trong bĂčn. Khi NgĂ i vượt thĂ nh xuất gia lĂ  mầm sen ra khỏi bĂčn, mĂ  cĂČn ở trong nước. LĂșc NgĂ i ngồi tu ở dưới cội bồ-đề vĂ  thĂ nh đạo lĂ  hoa sen ra khỏi nước nở trĂČn đầy hương thơm ngĂ o ngạt. Hoa sen lại tượng trưng cho sự bĂŹnh đẳng giữa mọi người. ĐĂŁ lĂ  mầm sen thĂŹ mầm sen nĂ o cũng cĂł khả năng vươn lĂȘn khỏi bĂčn, khỏi nước vĂ  trổ hoa tươi thắm hương thơm ngạt ngĂ o. ĐĂŁ lĂ  con người thĂŹ con người nĂ o cũng cĂł khả năng thoĂĄt khỏi dục lạc ĂŽ nhiễm, thức tỉnh tu hĂ nh vĂ  đạt thĂ nh đạo quả. Phật quả khĂŽng phải của riĂȘng một người nĂ o, mĂ  của chung tất cả ai cĂł Ăœ chĂ­ thoĂĄt trần, cĂł quyết tĂąm đạt đạo. VĂŹ vậy, Phật quả gọi lĂ  VĂŽ thượng giĂĄc, lĂ  giĂĄc ngộ khĂŽng ai trĂȘn, song cĂł người bằng; Phật cũng dĂčng hĂŹnh ảnh hoa sen để nhắc nhở Phật tử, ở giữa chốn ĂŽ nhiễm mĂ  khĂ©o vượt ra bằng trĂ­ tuệ sĂĄng ngời của mĂŹnh.

BĂ i kệ nĂłi :

Như giữa đống rĂĄc nhớp. Quăng bỏ nơi bờ đầm

Chỗ ấy hoa sen nở. Thơm sạch đẹp Ăœ người.

Cũng vậy, giữa quần sanh. Uế, nhiễm, mĂč, phĂ m tục

Đệ tử bậc ChĂĄnh GiĂĄc. SĂĄng ngời với trĂ­ tuệ.

(PhĂĄp cĂș cĂąu 58-59)

Hoa sen mọc chỗ nhớp nhĂșa mĂ  thơm tho tươi đẹp, sống trong đời nhiễm nhơ mĂč tối, người Phật tử chĂșng ta phải khĂ©o dĂčng trĂ­ tuệ vượt ra để cứu mĂŹnh, vĂ  cứu người. CĂĄi quĂ­ của hoa sen lĂ  sanh từ chốn bĂčn lầy mĂ  tinh khiết, cĂĄi cao cả của người tu lĂ  sống trong mọi dục lạc nhiễm ĂŽ mĂ  vượt ra an toĂ n siĂȘu thoĂĄt. Hoa hường, hoa lan thơm hơn hoa sen, mĂ  khĂŽng được nhắc tới, vĂŹ sanh ở chỗ đất sạch. Nếu ThĂĄi tử lĂ  người từ trĂȘn trời rơi xuống mĂ  đắc đạo thĂŹ khĂŽng cĂł giĂĄ trị gĂŹ. ChĂ­nh trong vĂČng kềm tỏa của dục trần, mĂ  thoĂĄt được mới lĂ  bậc đại hĂčng.

CÁ NHẢY KHỎI LƯỚI

Đời Tống ở Trung Hoa cĂł hai Thượng tọa ThĂąm vĂ  Minh. Hai vị cĂł duyĂȘn sự cĂčng sang đĂČ qua sĂŽng HoĂ i. Đang sang sĂŽng, thấy người bủa lưới đang kĂ©o, cĂł con cĂĄ to nhảy khỏi lưới ra ngoĂ i. Thượng tọa ThĂąm vỗ tay khen: “Hay thay! Như Thiền sư.” Thượng tọa Minh khĂŽng đồng Ăœ bảo: “Phải ở ngoĂ i lưới mới hay, đợi vĂ o lưới rồi mới nhảy lĂ  muộn.” Thượng tọa ThĂąm nĂłi: “Huynh Minh chưa hiểu.” Đi hơn dặm đường, Thượng tọa Minh bỗng nhận ra chỗ sai, liền sĂĄm hối.

<div height="08">

Qua cĂąu chuyện trĂȘn, chĂșng ta thấy thế nĂ o? Con cĂĄ trong lưới nhảy lĂ  hay, con cĂĄ thong dong ngoĂ i lưới lĂ  hay? Đạo lĂœ nhĂ  Phật dạy, trong cảnh bủa vĂąy của phiền nĂŁo mĂ  thoĂĄt ra được mới thật lĂ  hay. ĐĂąy mới thi thố được sức mạnh phi thường của con người thoĂĄt tục. Nếu ở ngoĂ i lưới nĂłi gĂŹ nhảy, khĂŽng nhảy lĂ m sao biết được sức mạnh của mĂŹnh. Hơn nữa, bản thĂąn con người đầy đủ tam bĂ nh (tam độc), lục tặc (sĂĄu giặc) lại sĂĄu trần dụ dỗ cuốn lĂŽi, nếu khĂŽng phải lĂ  bậc siĂȘu quần bạt tụy lĂ m sao thắng trận giặc nội cĂŽng ngoại kĂ­ch nĂ y. CĂčng lĂ  cĂĄ, bao nhiĂȘu con khĂĄc bị lưới cuốn khĂŽng thể giĂŁy vĂčng, cuối cĂčng bị người đĂĄnh cĂĄ bắt bỏ vĂ o giỏ, chỉ một con nĂ y nhảy vọt khỏi lưới, khĂŽng đồng với người xuất trần thoĂĄt tục lĂ  gĂŹ? Nếu chĂșng ta sanh ra đĂŁ lĂ  ThĂĄnh thĂŹ cĂČn nĂłi gĂŹ tu. ChĂ­nh vĂŹ chĂșng ta mang đầy đủ thĂłi hư tật xấu trong mĂŹnh, chứa đầy tham sĂąn si trong lĂČng, cho nĂȘn gặp cảnh thĂŹ nhiễm, trĂĄi Ăœ thĂŹ sĂąn, quẳng chĂșng thoĂĄt ra, thật lĂ  điều khĂł khăn trăm phần, ai lĂ m được điều đĂł, đĂĄng cho chĂșng ta chấp tay tĂĄn thĂĄn. VĂŹ thế, Tuệ Trung Thượng Sĩ đĂŁ lĂ m bĂ i kệ:

XUẤT TRẦN

Tằng vi vật dục dịch lao khu

BĂ i lạc trần hiĂȘu thế ngoại du

TĂĄn thủ na biĂȘn siĂȘu Phật Tổ

Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu.

Dịch:

Ra khĂłi bụi hồng

ĐĂŁ từng ham muốn phải long đong

NĂ©m quĂĄch mĂ  ra khỏi bụi hồng

BuĂŽng thĂ”ng bờ kia lĂȘn Phật Tổ

Một lần phủi giũ một lần xong.

Bởi vĂŹ chĂșng ta chạy theo vật dục nhĂąn gian nĂȘn phải khổ sở gian nan. Nếu can đảm nĂ©m phắt hết, vượt ra ngoĂ i vĂČng trần lụy, quả lĂ  can đảm phi thường. CĂł thể, mới buĂŽng thĂ”ng tay bước lĂȘn ngĂŽi nhĂ  Phật Tổ được. Song phải mạnh dạn dứt khoĂĄt, một lần bỏ đi khĂŽng thĂšm ngĂł lại. Chớ đừng học thĂłi nhầy nhụa, dĂčng dĂčng thẳng thẳng cắt khĂŽng đứt, bứt khĂŽng rời, một chĂąn bước tới hai chĂąn bước lui, khĂŽng lĂ m nĂȘn trĂČ trống gĂŹ, chỉ chuốc trĂČ cười cho hĂ ng thức giả. Bởi vậy nĂȘn nhĂ  thiền thường dĂčng cĂąu “giết người khĂŽng ngĂł lại” lĂ  Ăœ nĂ y. Phải can đảm dứt khoĂĄt thĂŹ việc khĂł mấy cũng thĂ nh cĂŽng.

TRẦN NHÂN TÔNG ÔNG VUA, TU SĨ

Vua Trần NhĂąn TĂŽng sanh năm 1258, lĂȘn ngĂŽi vua năm hai mươi tuổi, xuất gia năm bốn mươi mốt tuổi vĂ  năm mươi mốt tuổi tịch (1308). Suốt hai mươi năm, NgĂ i lĂ  bậc nhĂąn chủ lĂŁnh đạo quốc gia giữ nước chăn dĂąn, ngồi trĂȘn ngai vĂ ng sống trong cung ngọc, mọi thứ dục lạc đều dư thừa. Hai phen cầm quĂąn chống giặc xĂąm lăng, nhĂąn mạng hy sinh rất lớn. Bổn phận giữ nước chăn dĂąn, NgĂ i lĂ m đầy đủ. Năm bốn mươi mốt tuổi, NgĂ i nhường ngĂŽi cho con, đi xuất gia. LĂșc nhỏ NgĂ i đĂŁ được vua cha vĂ  thầy lĂ  Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ dạy đạo lĂœ thiền nhuần thấm sĂąu xa, nĂȘn khi xuất gia NgĂ i khĂŽng cần tầm học, chỉ thực hiện điều đĂŁ học được.

Trong mười năm, lĂ  kẻ xuất gia NgĂ i mang hiệu TrĂșc LĂąm Đầu-đĂ , tĂ­ch cực hoạt động truyền bĂĄ chĂĄnh phĂĄp. Trong giới xuất gia, NgĂ i giĂĄo dục chĂșng Tăng, cĂł khả năng đảm đang GiĂĄo hội. Trong dĂąn chĂșng, NgĂ i đem phĂĄp Thập thiện giĂĄo hĂła toĂ n dĂąn, khiến Phật phĂĄp mở rộng trong nhĂąn gian. CĂŽng tĂĄc hoằng truyền Phật phĂĄp, giĂĄo hĂła nhĂąn dĂąn, NgĂ i lĂ m suốt đời khĂŽng dừng nghỉ.

Khi sắp tịch, NgĂ i nằm tại Ngọa VĂąn am sai người gọi Bảo SĂĄt đến. NgĂ y một thĂĄng mười một, đĂșng nửa đĂȘm, sao sĂĄng đầy trời, NgĂ i hỏi: BĂąy giờ lĂ  giờ gĂŹ? Bảo SĂĄt thưa: Giờ TĂœ. NgĂ i đưa tay ra hiệu mở cửa sổ để nhĂŹn ra ngoĂ i, nĂłi: Đến giờ ta đi vậy. Bảo SĂĄt hỏi: TĂŽn đức đi đĂąu bĂąy giờ? NgĂ i đọc lại bĂ i kệ:

Nhất thiết phĂĄp bất sanh

Nhất thiết phĂĄp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền

HĂ  khứ lai chi hữu?

Dịch:

Tất cả phĂĄp chẳng sanh

Tất cả phĂĄp chẳng diệt

Nếu hiểu được như thế

Chư Phật thường hiện tiền

NĂ o cĂł đi cĂł lại?

Bảo SĂĄt hỏi thĂȘm: Khi chẳng sanh chẳng diệt thĂŹ sao? NgĂ i khua tay nĂłi: ThĂŽi đừng nĂłi mĂȘ nữa. Rồi NgĂ i ngồi theo kiểu sư tử tọa mĂ  tịch... (Tam Tổ thực lục).

Qua ba giai đoạn trĂȘn, chĂșng ta thấy NgĂ i sống giai đoạn nĂ o ra giai đoạn ấy. LĂșc lĂ m vua thĂŹ quĂȘn mĂŹnh giữ nước, hết dạ chăn dĂąn. Khi đi tu, nhiệt tĂąm vĂŹ đạo mĂ i miệt tu hĂ nh, chẳng ngại nhọc nhằn hết tĂŹnh với Tăng tục. VĂŹ thế, trĂȘn đường đời NgĂ i thĂ nh cĂŽng viĂȘn mĂŁn, trĂȘn đường đạo thĂŹ đạo quả viĂȘn thĂ nh. ChĂ­nh thĂĄi độ dứt khoĂĄt tĂ­ch cực, nĂȘn lĂŁnh vực nĂ o NgĂ i cũng thĂ nh cĂŽng. NgĂ i cũng hư&#7903;ng dục lạc trong hoĂ ng cung, cũng cầm binh khiển tướng ngoĂ i trận mạc, nếu nĂłi lĂ  tội lỗi thĂŹ cũng trĂ n trề. Song khi dứt khoĂĄt tiến tu thĂŹ cắt đứt mọi quĂĄ khứ, sống kham khổ tu hĂ nh, nĂȘn lấy hiệu Đầu-đĂ  (khổ hạnh). Với Ăœ chĂ­ cương quyết đĂł, chỉ trong vĂČng mười năm, NgĂ i đĂŁ tiến đến chỗ sanh tử tự tại. ĐĂąy lĂ  tấm gương sĂĄng rỡ để nhắc nhở chĂșng ta, khĂŽng sợ mĂŹnh trước mĂȘ lầm tội lỗi, chỉ sợ xuất gia rồi mĂ  thĂĄi độ vẫn mập mờ. NgĂ i lĂ  con người thấy được đạo lĂœ vĂ  sống được đạo lĂœ. ChĂșng ta đọc bĂ i kệ kết thĂșc bĂ i phĂș Cư Trần Lạc Đạo của NgĂ i thĂŹ rĂ”:

Cư trần lạc đạo thả tĂčy duyĂȘn

Cơ tắc xan hề khốn tắc miĂȘn

Gia trung hữu bảo hưu tầm mĂ­ch

Đối cảnh vĂŽ tĂąm mạc vấn thiền.

Dịch:

Trong đời vui đạo hĂŁy tĂčy duyĂȘn

ĐĂłi đến thĂŹ ăn mệt nghỉ liền

NhĂ  mĂŹnh bĂĄu sẵn thĂŽi tĂŹm kiếm

Đối cảnh khĂŽng tĂąm, chớ hỏi thiền.

Sống ngay trong lĂČng trần tục mĂ  khĂ©o biết đạo vẫn thấy an vui. DuyĂȘn cảnh đổi thay tĂčy thời linh động, như khi đĂłi thĂŹ ăn, khi mệt thĂŹ nghỉ, đừng cố chấp cứng nhắc mĂ  tự khổ đau. Phật đĂŁ sẵn nơi ta, khỏi phải nhọc nhằn sang đĂŽng tĂŹm tĂąy. CĂĄi khĂŽn ngoan khĂ©o lĂ©o của chĂșng ta lĂ  “đối cảnh tĂąm khĂŽng động”, chĂ­nh nơi đĂąy lĂ  thiền rồi, cĂČn thưa hỏi đĂąu nữa. Người học đạo nhận thấy Phật đĂŁ sẵn nơi tĂąm mĂŹnh, song muốn Phật hiện thĂŹ tĂąm đừng chạy theo cảnh. ĐĂąy lĂ  lối tu thật gi̐3;n đơn, thật cụ thể, mĂ  người đời khĂł tin khĂł nhận. Người ta chỉ tin Phật ở TĂąy phương, phải siĂȘng năng lễ bĂĄi thĂŹ được phước, được Phật rước về cĂ”i Phật. Bởi vậy Tổ LĂąm Tế nĂłi: “Người ngu cười ta, kẻ trĂ­ biết ta.” Cười, vĂŹ thấy khĂŽng tụng kinh lễ bĂĄi, chẳng biết tu cĂĄi gĂŹ? Biết, vĂŹ thấy lối tu tế nhị cụ thể thiết thực, khĂŽng cĂČn gĂŹ nghi ngờ. Một ĂŽng vua, xuất gia chỉ cĂł mười năm mĂ  đạt đạo như vậy, thật đĂĄng quĂ­ kĂ­nh biết dường nĂ o. Cho nĂȘn triều đĂŹnh tĂŽn xưng NgĂ i lĂ  Điều Ngự GiĂĄc HoĂ ng.

THÁI TỬ TẤT-ĐẠT-ĐA VÀ TRẦN NHÂN TÔNG

ThĂĄi tử lĂ  ĂŽng hoĂ ng chưa từng đối đầu với mọi việc khĂł khăn ở đời, chỉ thấy cảnh giĂ , bệnh, chết lĂ  phĂĄt tĂąm đi tu. Mục đĂ­ch NgĂ i đi tu để tĂŹm phương phĂĄp phĂĄ vỡ cĂĄi luật khắc nghiệt của kiếp con người mĂ  muĂŽn thuở đĂŁ chấp nhận. NgĂ i phải trả cĂĄi giĂĄ rất đắt lĂ , mười một năm nằm giĂł phơi sương lang thang trong rừng nĂși, ăn uống sơ sĂ i cho đến kiệt sức. Đến khi giĂĄc ngộ viĂȘn mĂŁn phương phĂĄp giải thoĂĄt sanh tử tuyĂȘn bố thĂ nh Phật. ĐĂąy lĂ  người khai mở con đường đạo giĂĄc ngộ giải thoĂĄt. Tức lĂ  NgĂ i đĂŁ phĂĄ vỡ luật khắc nghiệt (giĂ  bệnh chết) chi phối mĂŹnh vĂ  đem ra chỉ dạy mọi người. Việc lĂ m của NgĂ i lĂ  muĂŽn thuở khĂŽng hai.

Vua Trần NhĂąn TĂŽng lĂ  người kế thừa con đường của Phật đĂŁ vạch sẵn. Bởi kế thừa nĂȘn cĂŽng phu đơn giản vĂ  nhẹ nhĂ ng, chỉ cần đem đuốc mĂŹnh mồi vĂ o đuốc Phật lĂ  chĂĄy sĂĄng. Do đĂł đi tu NgĂ i khĂŽng khổ cĂŽng tầm đạo, chỉ cần ứng dụng đạo đĂŁ sẵn vĂ o việc tu hĂ nh lĂ  thĂ nh cĂŽng. Tuy vậy cũng khĂŽng phải lĂ  việc dễ dĂ ng, mặc dĂč cĂł cĂŽng thức chỉ rĂ”, muốn ứng dụng cĂŽng thức ấy phải gan gĂłc cĂčng mĂŹnh, phải mạnh tay chặt đứt mọi xiềng vĂ ng xĂ­ch ngọc, phải hĂčng dũng nhảy vọt khỏi mấy lớp rĂ o tĂŹnh cảm bịt bĂčng.

Hai NgĂ i đều chĂŽn mĂŹnh trong cung vĂ ng điện ngọc, bị bao vĂąy bởi đĂĄm cung nữ phi tần, bị phủ kĂ­n trong tiếng đĂ n ngọt hĂĄt hay, bị siết chặt bởi mĂči thơm vị quĂ­. Song cả hai đều quả cảm thoĂĄt ra khĂŽng chĂșt đoĂĄi hoĂ i luyến tiếc. Do đĂł hai NgĂ i lĂ m được việc khĂł lĂ m, để lại cho đời tấm gương phi phĂ m xuất chĂșng. Hai NgĂ i lĂ  hai mầm sen chĂŽn sĂąu trong vũng bĂčn ngũ dục, vươn lĂȘn khỏi nước nở trĂČn tươi thắm vĂ  tỏa ra mĂči hương tinh anh thanh khiết bủa khắp cả trần gian.

Qua những hĂŹnh ảnh trĂȘn, chĂșng ta cĂł đủ kinh nghiệm trong việc tiến tu, khĂŽng cĂČn e dĂš nghi ngại gĂŹ nữa. Bởi vĂŹ khĂŽng cĂł vị nĂ o đĂŁ lĂ  thĂĄnh rồi thĂ nh thĂĄnh, mĂ  tất cả đều bị bao vĂąy bởi phiền nĂŁo dục trần. CĂĄi đặc điểm của cĂĄc ngĂ i lĂ  nhạy cảm sớm thức tỉnh vĂ  anh dũng khi cần thoĂĄt nĂł. Điều đĂł chĂșng ta cĂł thể học được, cĂł ai thấy cảnh giĂ  bệnh chết mĂ  chẳng buồn, cĂł ai khĂŽng khĂ­ khĂĄi khi thốt ra những lời thề bĂĄn mạng. Chỉ cần chĂșng ta triệt để ứng dụng cĂĄi nhạy cảm của mĂŹnh để phĂĄt chĂ­ tu hĂ nh, khĂ©o xoay chuyển cĂĄi khĂ­ khĂĄi của mĂŹnh vĂ o con đường quyết tử cầu đạo. DĂĄm hạ quyết tĂąm trĂȘn đường hĂ nh đạo, chĂșng ta sẽ thu gặt được kết quả chắc chắn khĂŽng nghi. ChĂșng ta lĂ  những mầm sen phơi mĂŹnh trĂȘn bĂčn ngũ dục, thoĂĄt khỏi nĂł để vươn lĂȘn cĂł khĂł gĂŹ? ChĂșng ta đĂąu cĂł cung vĂ ng điện ngọc, đĂąu cĂł cung phi mỹ nữ... mọi dục lạc tĂŹm cầu rất khĂł, nếu thoĂĄt nĂł thĂŹ hết sức nhẹ nhĂ ng, chỉ cần một cĂĄi nhảy nhẹ đĂŁ ra khỏi rồi, thế mĂ  chĂșng ta cứ chần chừ khĂŽng ưng nhảy. ĐĂąy lĂ  yếu điểm muĂŽn kiếp chịu trầm luĂąn của chĂșng ta.

BỒ-TÁT SỢ NHÂN CHÚNG SANH SỢ QUẢ

LĂ  con người ai cũng sợ khổ cầu vui, song người mĂȘ chỉ biết sợ quả khổ cầu quả vui. Ngược lại người tỉnh chỉ sợ nhĂąn khổ, tạo nhĂąn vui. Hai bĂȘn cĂł cĂĄi nhĂŹn khĂĄc nhau, bĂȘn nĂ o sẽ đạt được như sở nguyện? DĂč ngĂąy thơ thế mấy, người ta vẫn biết, khĂŽng tạo nhĂąn lĂ nh mĂ  cầu quả tốt lĂ  chuyện khĂŽng đĂąu; sợ quả khổ mĂ  cứ tạo nhĂąn ĂĄc lĂ  việc khĂł trĂĄnh. NhĂąn ĂĄc khĂŽng gĂąy, dĂč chẳng sợ quả khổ, nĂł vẫn khĂŽng đến; nhĂąn lĂ nh cứ tạo, dĂč chẳng cầu quả vui, nĂł vẫn bĂČ sang. Cho nĂȘn người trĂ­ nhĂŹn từ cĂĄi nhĂąn mĂ  chọn lựa, chọn nhĂąn lĂ nh bỏ nhĂąn ĂĄc. C&#7843; đời mĂŁi gĂąy tạo nhĂąn lĂ nh, loại trừ nhĂąn ĂĄc, người nĂ y bảo đảm gặt hĂĄi những kết quả đẹp đẽ an vui. Ai say sưa tạo nhĂąn ĂĄc, chẳng bao giờ nghĩ tới nhĂąn lĂ nh, chắc chắn sẽ thu lượm được muĂŽn vĂ n đau khổ, dĂč họ sợ sệt khẩn cầu quả ấy đừng đến. Cho nĂȘn cĂąu chĂąm ngĂŽn nhĂ  Phật, Ă­t Phật tử nĂ o khĂŽng thuộc, lĂ  “Bồ-tĂĄt sợ nhĂąn chĂșng sanh sợ quả”.

NGHĨA BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH

Bồ-tĂĄt (Bodhisavattu) lĂ  người giĂĄc ngộ, thấy tận cĂĄi manh nha cĂĄi đầu mối của sự khổ đau vĂ  an lạc. Muốn hết khổ được vui, khĂŽng gĂŹ hơn ngay cĂĄi mầm đau khổ chĂșng ta đừng gieo, cĂĄi mầm an vui phải tung vĂŁi. KhĂŽng gieo nhĂąn khổ thĂŹ quả khổ lĂ m gĂŹ cĂł. Cứ tung vĂŁi nhĂąn vui thĂŹ quả vui khĂŽng vời cũng đến. ĐĂąy lĂ  hĂ nh động của người giĂĄc ngộ. ChĂșng sanh lĂ  những kẻ mĂȘ, chỉ nhĂŹn trĂȘn cĂĄi quả mĂ  sợ mĂ  cầu. LuĂŽn luĂŽn sợ khổ cầu vui, mĂ  nhĂąn đau khổ khĂŽng trĂĄnh, nhĂąn an vui khĂŽng tạo. Một khi quả đau khổ đến thĂŹ cầu khẩn van xin, song lĂ m sao qua khỏi, vĂŹ đĂŁ hĂŹnh thĂ nh. Cầu mong mơ ước quả an vui, nhưng nhĂąn khĂŽng gĂąy thĂŹ quả từ đĂąu mĂ  đến. ĐĂąy lĂ  hĂŹnh ảnh trĂĄi ngược của kẻ mĂȘ người giĂĄc. Tuy nhiĂȘn, cĂĄi mĂȘ nĂ y ai cũng cĂł thể bỏ, cĂĄi giĂĄc nĂ y ai cũng cĂł thể lĂ m. Chỉ lĂ  nhắm vĂ o nhĂąn lĂ  giĂĄc, ai khĂŽng thể lĂ m được việc đĂł. Thế nĂȘn, Bồ-tĂĄt lĂ  chuyện tất cả chĂșng ta cĂł thể lĂ m được vĂ  chĂșng sanh chĂșng ta cũng bỏ được.

BỒ-TÁT SỢ NHÂN

Bồ-tĂĄt lĂ  con người giĂĄc ngộ vĂ  hay lĂ m giĂĄc ngộ người khĂĄc. Bởi giĂĄc ngộ nĂȘn thấy rĂ” cĂĄi gĂŹ lĂ  nhĂąn đau khổ liền sợ hĂŁi tĂŹm mọi cĂĄch để diệt trừ. Thấy tham lam vĂ  keo kiệt lĂ  nhĂąn đau khổ, Bồ-tĂĄt tu bố thĂ­ để tiĂȘu diệt nĂȘn nĂłi bố thĂ­ độ san tham. Thấy buĂŽng lung ngạo mạn lĂ  nhĂąn phĂĄ hoại đức hạnh, Bồ-tĂĄt tu trĂŹ giới để khử dẹp, nĂȘn nĂłi trĂŹ giới độ phĂĄ giới. Thấy nĂłng giận lĂ  nhĂąn gĂąy nhiều tội lỗi. Bồ-tĂĄt tu nhẫn nhục để dẹp, nĂȘn nĂłi, nhẫn nhục độ sĂąn hận. Thấy lười biếng bĂȘ tha lĂ  nhĂąn hư thĂąn mất cĂŽng đức, Bồ-tĂĄt tu tinh tấn để đĂĄnh đuổi, nĂȘn nĂłi tinh tấn độ giải đĂŁi. Thấy tĂąm tĂĄn loạn lĂ  nhĂąn điĂȘn đảo tối tăm, Bồ-tĂĄt tu thiền định để thu nhiếp, nĂȘn nĂłi thiền định độ tĂĄn loạn. Thấy ngu si lĂ  nhĂąn trầm luĂąn sanh tử, Bồ-tĂĄt tu trĂ­ tuệ để chiếu phĂĄ, nĂȘn nĂłi trĂ­ tuệ độ ngu si.

Sở dĩ Bồ-tĂĄt tu Lục độ lĂ  để diệt trừ sĂĄu cĂĄi nhĂąn xấu xa tội lỗi mĂč tối hiểm nguy, dẫn con người đi mĂŁi trong trầm luĂąn đau khổ. Khi sĂĄu cĂĄi nhĂąn ấy bị tiĂȘu diệt hoĂ n toĂ n lĂ  giĂĄc ngộ giải thoĂĄt. Giai đoạn tu Lục độ lĂ  đang hĂ nh hạnh Bồ-tĂĄt, đến khi giĂĄc ngộ lĂ  Bồ-tĂĄt thật sự. Phần nĂ y lĂ  tu hạnh Bồ-tĂĄt nặng về tự giĂĄc.

CHÚNG SANH SỢ QUẢ

ChĂșng sanh lĂ  những con người mĂȘ muội, một bề sợ khổ mĂ  khĂŽng biết nguyĂȘn nhĂąn. Thấy cĂĄi gĂŹ khổ đau đến lĂ  kinh hoĂ ng khiếp sợ van xin cầu cứu, mĂ  khĂŽng biết cĂĄi khổ ấy xuất phĂĄt từ nguyĂȘn nhĂąn nĂ o. Khi cĂĄi khổ qua rồi, thĂŹ bĂŹnh thản như thường khĂŽng biết gĂŹ tu sửa. Những cĂĄi quả chĂșng sanh sợ nhất lĂ :

Sợ người khĂĄc giết hại mĂŹnh, mĂ  tĂąm giết hại người khĂŽng bỏ. CĂČn ĂŽm mưu đồ giết hại người thĂŹ quả người giết hại mĂŹnh lĂ m sao trĂĄnh khỏi. Sợ người khĂĄc lĂ©n lấy, cướp giựt tiền bạc của cải của mĂŹnh mĂ  tĂąm tham lam của người khĂŽng chừa. ĐĂŁ tham của người thĂŹ người tham của mĂŹnh lĂ  sự đương nhiĂȘn. Sợ người ta xĂąm phạm tiết hạnh vợ con mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh vẫn dĂČm ngĂł thĂšm thuồng vợ con người. Ôm lĂČng phĂĄ hoại sự trinh bạch của gia đĂŹnh người thĂŹ người phĂĄ hoại hạnh phĂșc gia đĂŹnh mĂŹnh khĂł trĂĄnh khỏi. Sợ người ta dĂčng lời lường gạt vu cĂĄo mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh vẫn thĂ­ch lường gạt vu cĂĄo người. ĐĂŁ cĂł cĂĄi nhĂąn lường gạt vu cĂĄo người thĂŹ quả người lường gạt vu cĂĄo mĂŹnh lĂ m sao trốn được. Sợ say sưa như điĂȘn như dại bị người cười chĂȘ, mĂ  rượu khĂŽng từ khĂŽng kiĂȘng. Sẵn sĂ ng uống rượu thĂŹ phải chấp nhận say sưa. ĐĂąy lĂ   những cĂĄi quả mĂ  chĂșng sanh sợ hĂŁi. Song sợ quả mĂ  khĂŽng trĂĄnh nhĂąn, thật lĂ  khờ khạo ngĂąy thơ. ĐĂł lĂ  nĂłi lĂȘn tĂ­nh mĂȘ muội của con người, được g&#7885;i lĂ  chĂșng sanh.

BỒ-TÁT TẠO NHÂN

Đến phần giĂĄc tha, Bồ-tĂĄt thấy bổn phận mĂŹnh phải đem sự giĂĄc ngộ lại cho mọi người. Để đạt mục đĂ­ch ấy, Bồ-tĂĄt phải tạo dựng cho mĂŹnh đầy đủ những điều thiết yếu nĂ y: Một lĂ  Bồ-tĂĄt phải thĂŽng suốt Phật phĂĄp (nội minh). VĂŹ mục đĂ­ch dạy người tu theo đường lối giĂĄc ngộ mĂ  khĂŽng thĂŽng suốt giĂĄo lĂœ Phật thĂŹ khĂŽng thể thực hiện được. Hai lĂ  Bồ-tĂĄt phải thĂŽng hết cĂĄc mĂŽn tĂąm lĂœ học, xĂŁ hội học, khoa học
 (ngoại minh). CĂł suốt thĂŽng cĂĄc mĂŽn nĂ y thĂŹ sự giĂĄo hĂła khĂŽng bị chướng ngại. Ba lĂ  Bồ-tĂĄt phải biết cĂĄc mĂŽn y dược (y phương minh). Trị cho người được lĂ nh bệnh, chỉ dạy đạo lĂœ cho họ rất dễ dĂ ng, vĂŹ họ cĂł cảm tĂŹnh sẵn sĂ ng nghe mĂŹnh dạy. Bốn lĂ  Bồ-tĂĄt phải học cĂĄc nghề nghiệp thật hay thật khĂ©o (cĂŽng xảo minh). Cần giĂșp đỡ mọi người, chĂșng ta phải cĂł tĂ i giỏi nghề khĂ©o, vừa chỉ dạy dĂąn chĂșng, vừa gầy được nền kinh tế tốt đẹp cho đồng bĂ o. Nhờ tĂ i nghệ đặc biệt của mĂŹnh, người ta mới đến cầu học, lĂ  cơ hội tốt để giĂĄo hĂła họ. Năm lĂ  Bồ-tĂĄt phải giỏi ngoại ngữ (thanh minh). Muốn tiếp xĂșc với nhiều hạng, nhiều giống người, cần phải biết nhiều thứ tiếng. Biết tiếng họ, chĂșng ta mới dễ thĂŽng cảm vĂ  giĂĄo hĂła họ. Tạo dựng cho mĂŹnh đầy đủ năm điều kiện nĂ y, Bồ-tĂĄt mới lĂ m trĂČn sự nghiệp giĂĄc tha. ChĂșng ta khĂŽng thể ĂŽm ấp lĂœ tưởng suĂŽng rằng “thệ nguyện giĂĄc tha”, khi đĂł nơi mĂŹnh khĂŽng cĂł một chĂșt khả năng, một Ă­t phương tiện thĂŹ sự giĂĄc tha trở thĂ nh vĂŽ nghĩa. Trước tiĂȘn chĂșng ta phải tạo dựng cho mĂŹnh đầy đủ điều kiện thiết yếu (ngũ minh), sau đĂł mang hĂ nh lĂœ lĂȘn vai tiến trĂȘn đường giĂĄc tha, chĂșng ta mới lĂ m trĂČn nhiệm vụ.

Tạo dựng cho mĂŹnh đủ năm điều kiện trĂȘn rồi, Bồ-tĂĄt cĂČn phải ứng dụng bốn việc thĂŹ sự giĂĄo hĂła mới dễ thĂ nh tựu: Một lĂ  Bồ-tĂĄt phải sẵn sĂ ng giĂșp đỡ tiền bạc của cải hoặc sức lực của mĂŹnh khi người cần. Nhờ sự giĂșp đỡ người ta dễ cĂł cảm tĂŹnh, nhiếp hĂła họ mới được (b&#7889; thĂ­ nhiếp). Hai lĂ  Bồ-tĂĄt phải nĂłi lời hĂČa nhĂŁ dịu dĂ ng dễ mến. DĂč chĂșng ta cĂł giĂșp ai bao nhiĂȘu, mĂ  thốt ra những lời thĂŽ bạo họ đều bực bội chĂĄn ghĂ©t. KhĂ©o dĂčng lời hiền hĂČa nhu nhuyến nhiếp hĂła người (ĂĄi ngữ nhiếp) lĂ  dễ thĂ nh cĂŽng. Ba lĂ  Bồ-tĂĄt phải xĂŽng pha lĂ m những điều gĂŹ để đem lợi Ă­ch thiết thực cho người. ChĂșng ta khĂŽng phải chỉ nĂłi suĂŽng, mĂ  phải lĂ m thật sự. Ai cần điều gĂŹ cĂł thể lĂ m được, chĂșng ta phải nỗ lực lĂ m giĂșp, để đem đến kết quả lợi Ă­ch cho họ. Nhờ bĂ n tay của mĂŹnh giĂșp họ thĂ nh cĂŽng một việc, sau đĂł mĂŹnh đem chĂĄnh phĂĄp giĂĄo hĂła họ, họ dễ dĂ ng thu nhận (lợi hĂ nh nhiếp). Bốn lĂ  Bồ-tĂĄt phải lăn xả vĂ o trong mọi ngĂ nh mọi nghề để cĂčng lĂ m cĂčng sống với họ. Dễ thĂŽng cảm nhau nhất lĂ  bạn đồng nghiệp. Đồng trong một cảnh ngộ, cĂł bĂ n luận điều gĂŹ thật lĂ  dễ cảm thĂŽng. ChĂ­nh chỗ chung nghề nghiệp, chĂșng ta đem chĂĄnh phĂĄp giĂĄo hĂła họ được sự chấp nhận khĂŽng khĂł khăn gĂŹ (đồng sự nhiếp). Bốn điều nĂ y lĂ  phương tiện khĂŽng thể thiếu của Bồ-tĂĄt trĂȘn con đường giĂĄc tha.

CHÚNG SANH CẦU QUẢ

ChĂșng sanh khĂŽng ưa tạo nhĂąn tốt mĂ  mong cầu quả tốt. Quả tốt lĂ m gĂŹ đến được, bởi khĂŽng cĂł nhĂąn. Tuy thế mĂ  họ vẫn ước mơ trĂŽng đợi quả tốt. Như người ta cứ mong cho mĂŹnh được sống lĂąu mạnh khỏe, mĂ  khĂŽng chịu cứu người giĂșp vật. Sanh mạng của người khĂŽng được tĂŽn trọng mĂ  muốn mọi người tĂŽn trọng sanh mạng mĂŹnh lĂ  điều khĂŽng thể được. Hoặc cầu mong mĂŹnh được giĂ u cĂł ai nấy đều ủng hộ mĂŹnh, mĂ  khĂŽng chịu lĂ m việc bố thĂ­, giĂșp đỡ người lĂșc cĂčng khốn. Lại cĂł người cầu cho gia đĂŹnh mĂŹnh hĂČa vui hạnh phĂșc vợ con đều trinh bạch, mĂ  khĂŽng chịu sống hạnh trinh bạch với mọi người. Cũng cĂł người cầu xin đừng ai lừa gạt mĂŹnh, mĂ  khĂŽng chịu nĂłi lời chĂąn thật. Quả lĂ  muốn đi bĂȘn tĂąy mĂ  hướng mặt về đĂŽng. CĂł người cầu nguyện gia đĂŹnh mĂŹnh sum họp thuận hĂČa, mĂ  khĂŽng dĂčng lời khuyĂȘn can cho mọi người cĂčng hĂČa hợp. CĂł người cầu mong đừng ai dĂčng lời hung ĂĄc nĂłi với mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh khĂŽng chịu dĂčng lời hiền hĂČa nĂłi với người. CĂł những người muốn ai cũng trĂŹnh bĂ y lẽ thật với mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh khĂŽng trĂŹnh bĂ y với người. CĂł những người cầu mong đừng ai tham lam với những cĂĄi cĂł của mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh khĂŽng chịu bỏ lĂČng tham với những cĂĄi cĂł của người. CĂł những người cầu xin đừng ai giận hờn mĂŹnh, mĂ  mĂŹnh chưa chịu hỉ xả cho người. CĂł những người cầu cho mĂŹnh cĂł trĂ­ tuệ sĂĄng suốt, mĂ  những cố chấp tĂ  kiến khĂŽng chịu bỏ. Bao nhiĂȘu thứ cầu mong nĂ y khĂŽng bao giờ người ta toại nguyện, chỉ vĂŹ mong quả mĂ  khĂŽng chịu tạo nhĂąn. ĐĂąy lĂ  sự cầu mong suĂŽng của những con người mĂȘ muội.

SỰ SAI BIỆT GIỮA BỒ-TÁT VÀ CHÚNG SANH

NhĂŹn trĂȘn cĂĄi “SỢ” giữa Bồ-tĂĄt vĂ  chĂșng sanh đĂŁ quĂĄ khĂĄc biệt nhau. Bồ-tĂĄt biết lĂ  nhĂąn đau khổ liền hoảng sợ tĂŹm mọi cĂĄch để tiĂȘu diệt chĂșng. CĂČn một chĂșt mầm đau khổ, Bồ-tĂĄt vẫn khĂŽng an. Bởi vậy Bồ-tĂĄt luĂŽn luĂŽn ứng dụng Lục độ để khử dẹp mọi mầm nhĂąn đau khổ. NhĂąn đau khổ đĂŁ diệt sạch, quả đau khổ do đĂąu đến được, nĂȘn Bồ-tĂĄt khĂŽng bao giờ quan tĂąm đến quả. KhĂŽng sợ quả mĂ  quả cũng khĂŽng đến. Ngược lại, chĂșng sanh nơm nớp sợ quả khổ, mĂ  nhĂąn đau khổ khĂŽng ngăn ngừa, cho nĂȘn cĂ ng sợ chĂșng lại cĂ ng đến. Người ta khĂłc lĂłc than van khi gặp quả khổ, mĂ  khĂŽng chịu nhĂŹn xem quả khổ ấy do ai gĂąy nĂȘn. KĂȘu trời trĂĄch đất hận người, chỉ lĂ  việc vĂŽ Ă­ch, cĂł khi quả khổ lại tăng thĂȘm. KhĂŽng trời Phật nĂ o cố lĂ m chĂșng ta khổ, do sự dại khờ ngu muội của chĂșng ta tạo thĂ nh những nhĂąn đau khổ, nhĂąn đĂŁ cĂł thĂŹ quả cố nhiĂȘn phải đến. KhĂłc than oĂĄn trĂĄch chỉ lĂ m thĂȘm đậm nĂ©t khổ đau mĂ  thĂŽi.

Đến phần giĂĄc tha, Bồ-tĂĄt cố tạo cho mĂŹnh đầy đủ khả năng, nĂ o Ngũ minh, nĂ o Tứ nhiếp phĂĄp, lĂ m thuyền bĂš cứu vớt chĂșng sanh. Bồ-tĂĄt khĂŽng mong ước viển vĂŽng, mĂ  phải cụ thể thực tế nhĂŹn thẳng vĂ o lẽ thật. Cho nĂȘn phải rĂšn luyện mĂŹnh cĂł thật tĂ i, thật đức, mới nĂłi đến sự giĂĄo hĂła mọi người. Bồ-tĂĄt khĂŽng cĂł thĂĄi độ ngĂąy thơ như những người nĂłi từ bi, nĂłi thương chĂșng sanh, mĂ  chỉ cĂł ở đầu mĂŽi. Bồ-tĂĄt lĂ  con người hĂ nh động, mang trĂ­ tuệ vĂ  tĂ i năng của mĂŹnh đi vĂ o cuộc đời, sống bĂȘn cạnh quần chĂșng, như phĂĄp “Lợi hĂ nh” vĂ  “Đồng sự” của Tứ-nhiếp-phĂĄp , Bồ-tĂĄt khĂŽng phải những hĂŹnh ảnh thờ ở chĂča ngồi trĂȘn tĂČa sen hay cỡi sư tử, mĂ  lĂ  những người cĂł kỹ năng khĂ©o lĂ©o, mĂŹnh mẩy lem luốc, đang loay hoay trong xĂ­ nghiệp, trong hĂŁng xưởng chế tạo, tự mĂŹnh lĂ m vĂ  chỉ dạy người lĂ m, đĂąy lĂ  “CĂŽng xảo minh” trong Ngũ minh. Ngược lại, chĂșng sanh một bề mong cầu quả đẹp, mĂ  khĂŽng tạo những nhĂąn tốt. Quả đẹp lĂ m sao cĂł, khi nhĂąn tốt chĂșng ta chẳng gieo. Muốn gặt quả mĂ  khĂŽng gieo nhĂąn; nếu được, quả ấy chỉ lĂ  quả gian lận, quả cướp giựt, bất chĂĄnh. VĂ­ như cĂł người thấy hĂ ng xĂłm trồng cam trĂĄi chĂ­n oằn cĂąy, mĂȘ quĂĄ lại hĂĄi ngang, nếu chủ vườn thấy đĂĄnh gĂŁy tay, nếu khĂŽng thấy hĂĄi được đem về, cũng lĂ  cĂĄi quả ăn cắp, cĂĄi quả xấu xa nhục nhĂŁ. Cầu quả mĂ  khĂŽng chịu gĂąy nhĂąn, lĂ  kẻ mơ ước hĂŁo huyền, xa rời thực tế, lĂ  kẻ lười biếng muốn ăn mĂ  khĂŽng chịu lĂ m. KhĂŽng gĂąy nhĂąn cầu quả, lĂ  kẻ mĂȘ muội nĂȘn gọi lĂ  chĂșng sanh.

Bồ-tĂĄt vĂ  chĂșng sanh, nĂ o cĂł cĂĄch biệt bao nhiĂȘu, chỉ chịu đổi cĂĄi nhĂŹn. NhĂŹn thẳng vĂ o nhĂąn để thấy rĂ” nhĂąn khổ thĂŹ trĂĄnh, nhĂąn vui thĂŹ hĂ nh lĂ  Bồ-tĂĄt. Chỉ một bề sợ quả khổ, cầu quả vui, mĂ  khĂŽng cần biết nguyĂȘn nhĂąn, lĂ  chĂșng sanh. Bồ-tĂĄt, chĂșng sanh trĂȘn con người khĂŽng khĂĄc, chỉ khĂĄc cĂĄi nhĂŹn nhĂąn vĂ  nhĂŹn quả thĂŽi. Như hai người cĂčng đứng một địa điểm, một người xĂąy mặt về đĂŽng, một người xĂąy mặt về tĂąy; nếu người xĂąy mặt về tĂąy chịu quay lại nhĂŹn về đĂŽng, thĂŹ đĂąu cĂł khĂĄc nhau. Như thế thĂŹ tất cả chĂșng sanh đều cĂł khả năng lĂ m Bồ-tĂĄt, khĂŽng phải việc Bồ-tĂĄt chỉ dĂ nh riĂȘng cho Bồ-tĂĄt, cĂČn chĂșng ta khĂŽng cĂł phần.

XuyĂȘn suốt bĂ i nĂ y, chĂșng ta thấy rĂ” Bồ-tĂĄt vĂ  chĂșng sanh cĂĄch nhau chừng kẽ tơ sợi tĂłc. ChĂșng sanh đổi cĂĄi “sợ quả” thĂ nh “sợ nhĂąn” lĂ  chuyển thĂ nh Bồ-tĂĄt. Thật lĂ  mĂȘ giĂĄc chỉ khĂĄc nhau một cĂĄi nhĂŹn. Bồ-tĂĄt ở đĂąy rất gần gũi thĂąn thiết với chĂșng sanh. CĂł khi lĂ  ĂŽng thầy giảng kinh cho mọi người nghe, đĂąu khĂŽng phải lĂ  Bồ-tĂĄt, vĂŹ ngĂ i thĂŽng suốt “Nội minh”. CĂł lĂșc lĂ  ĂŽng thầy xem mạch bốc thuốc cho mọi người, Ăąu cũng lĂ  Bồ-tĂĄt, vĂŹ ngĂ i thực hĂ nh “Y phương minh”. Một người thợ giỏi đang hướng dẫn chỉ dạy đĂ n em với nhiệt tĂŹnh khĂŽng vụ lợi, biết đĂąu chừng cũng lĂ  Bồ-tĂĄt, vĂŹ ngĂ i thực hiện “CĂŽng xảo minh”. Cho đến người bạn cĂčng cuốc rẫy trồng khoai mĂ  nĂłi đạo lĂœ chĂąn thật chĂșng ta nghe, ai ngờ lĂ  Bồ-tĂĄt, vĂŹ NgĂ i thực hĂ nh “Đồng sự nhiếp”. Bồ-tĂĄt lĂ  những con người thiết thĂąn với chĂșng ta, chỉ khĂĄc với chĂșng ta ở chỗ thấy rĂ” nhĂąn ĂĄc để trĂĄnh, nhĂąn thiện để tạo. CĂČn chĂșng ta chỉ một bề sợ quả khổ cầu quả vui, mĂ  khĂŽng chịu thấy tường tận nguyĂȘn nhĂąn của nĂł. Gần đĂąy bĂȘn ngĂ nh y học cũng cĂł cĂąu “ngừa bệnh hơn chữa bệnh”, cũng na nĂĄ sợ nhĂąn hơn lĂ  sợ quả. Đạo Phật lĂ  đạo giĂĄc ngộ, thấy nguyĂȘn nhĂąn rĂ” rĂ ng lĂ  giĂĄc, giĂĄc lĂ  Bồ-tĂĄt. ChĂșng ta tu theo Phật lĂ  đi trĂȘn con đường giĂĄc, xĂ©t rĂ” nguyĂȘn nhĂąn của mọi việc xảy ra để ngừa trĂĄnh lĂ  theo hạnh Bồ-tĂĄt. Mọi người chĂșng ta đều cĂł khả năng thực hiện việc “sợ nhĂąn”, thĂŹ chĂșng ta ai cũng lĂ m Bồ-tĂĄt được.

CHẤP LÀ GỐC ĐẤU TRANH LÀ NGUỒN ĐAU KHỔ

Mọi người chĂșng ta đều than cuộc sống lĂ  đau khổ..., người nghĂšo cĂł cĂĄi khổ của người nghĂšo, người khĂĄ giả cĂł cĂĄi khổ của người khĂĄ giả. Biết lĂ  mĂŹnh khổ mĂ  khĂŽng biết cĂĄi khổ ấy xuất phĂĄt từ nguyĂȘn nhĂąn gĂŹ. Khi khổ đến, người ta chỉ biết kĂȘu Phật kĂȘu trời than vắn thở dĂ i, cam chịu bất lực. Người học Phật khĂŽng chấp nhận như vậy, mĂ  phải phăng tĂŹm tận cội rễ thử xem nĂł phĂĄt xuất từ đĂąu. KhĂŽng một kết quả nĂ o xảy ra mĂ  khĂŽng cĂł nguyĂȘn nhĂąn. Vậy khổ từ nguyĂȘn nhĂąn nĂ o tạo ra? ChĂ­nh “cố chấp” lĂ  nguyĂȘn nhĂąn đấu tranh vĂ  đau khổ. Hết cố chấp lĂ  hết đấu tranh, hết đau khổ. ChĂșng ta đọc đoạn kinh PhĂș-lĂąu-na sau nĂ y thĂŹ thấy rĂ”.

ĐẠI Ý KINH PHÚ-LÂU-NA

Thế TĂŽn ở nước XĂĄ-vệ (Savathi) vườn ThĂĄi tử Kỳ-đĂ  (Jetavana) tịnh xĂĄ ĂŽng Cấp CĂŽ Độc (Anathapindika), tĂŽn giả PhĂș-lĂąu-na (Punna) đến xin Phật dạy phĂĄp tu tĂłm gọn để vĂ o rừng tinh tấn tu hĂ nh. Phật dạy: Nếu mắt thấy sắc đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mĂči, lưỡi nếm vị, thĂąn xĂșc chạm, Ăœ duyĂȘn phĂĄp đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ (xa Niết-bĂ n). Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng cho đến Ăœ duyĂȘn phĂĄp khĂŽng đuổi theo khĂŽng chấp chặt lĂ  hết đau khổ (gần Niết-bĂ n). Phật hỏi PhĂș-lĂąu-na: Sau khi hiểu rồi, ĂŽng đến chỗ nĂ o tu? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con đến nước Du-na ở phương TĂąy tu. Phật bảo: DĂąn xứ ấy hung hăng bạo ngược, họ sẽ mắng nhiếc nhục mạ ĂŽng, ĂŽng nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng cĂČn hiền thiện chưa dĂčng tay đĂĄnh đập con. Phật bảo: ChĂșng dĂčng tay đĂĄnh đập ĂŽng, ĂŽng sẽ nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng cĂČn hiền thiện khĂŽng lấy đất đĂĄ nĂ©m con. Phật bảo: ChĂșng lấy đất đĂĄ nĂ©m ĂŽng, ĂŽng sẽ nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng cĂČn hiền thiện chưa dĂčng cĂąy, gậy đĂĄnh đập con. Phật bảo: ChĂșng dĂčng cĂąy, gậy đĂĄnh đập ĂŽng, ĂŽng sẽ nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng cĂČn hiền thiện chưa lấy dao bĂ©n đĂąm chĂ©m con. Phật bảo: ChĂșng lấy dao bĂ©n đĂąm chĂ©m ĂŽng, ĂŽng sẽ nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng thật hiền thiện chưa giết con chết. Phật bảo: ChĂșng giết ĂŽng chết, ĂŽng sẽ nghĩ sao? PhĂș-lĂąu-na bạch: Con nghĩ, chĂșng thật hiền thiện đĂŁ giĂșp con giải thoĂĄt thĂąn ĂŽ uế khổ đau nĂ y. Phật bảo: Ông nĂȘn đến đĂł độ những người chưa được độ.

PhĂș-lĂąu-na đến xứ ấy an cư ba thĂĄng chứng được Tam minh vĂ  độ được năm trăm cư sĩ nam, năm trăm cư sĩ nữ.

GIẢI RỘNG PHÁP TU

Mắt thấy sắc đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? VĂŹ con mắt chĂșng ta nhĂŹn sự vật khĂŽng cĂł cĂĄi thấy đồng nhất, do cĂČn thĂłi quen huĂąn tập lĂąu đời của mỗi người cộng thĂȘm vĂ o trong đĂł, nĂȘn thấy cĂł sai biệt. Thấy sai biệt mĂ  mỗi người đều cho mĂŹnh thấy đĂșng sự thật thĂŹ sự cĂŁi vĂŁ khĂŽng thể trĂĄnh khỏi. CĂł cĂŁi vĂŁ lĂ  cĂł buồn khổ, nĂȘn chấp chặt lĂ  đau khổ. VĂ­ như năm cĂŽ đi chợ cĂčng vĂ o hĂ ng vải. CĂł một loại vải mĂ  nhuộm đủ năm mĂ u, năm cĂŽ nhĂŹn qua mỗi cĂŽ thĂ­ch mỗi mĂ u khĂĄc nhau. CĂŽ thĂ­ch mĂ u xanh cho mĂ u xanh lĂ  đẹp, cĂŽ thĂ­ch mĂ u hồng cho mĂ u hồng lĂ  đẹp... Nếu mỗi cĂŽ đều khẳng định mĂ u mĂŹnh thĂ­ch lĂ  đẹp tuyệt, cĂĄc mĂ u khĂĄc khĂŽng thể sĂĄnh được, sẽ cĂł trận cĂŁi vĂŁ nổi lĂȘn chă;ng? Hẳn khĂŽng trĂĄnh khỏi. CĂŁi vĂŁ lĂ  nhĂąn giận hờn thĂč địch, đưa đến kết quả đau khổ. Ai cĂł thể đứng ra phĂąn giải mĂ u nĂ o đẹp hơn mĂ u nĂ o. ChĂąn lĂœ sẽ đi về đĂąu? ChĂșng ta khĂ©o biết mỗi người cĂł cĂĄi thấy khĂĄc nhau, chỉ cĂł cĂĄi đẹp riĂȘng của mỗi người, khĂŽng cĂł cĂĄi đẹp chung cho tất cả, thĂŽng cảm nhau, đừng cĂŁi vĂŁ vĂŽ Ă­ch, đĂąy lĂ  biết sống khĂŽng gĂąy đau khổ. Nếu thấy sắc liền đuổi theo lĂ  nhiễm ĂĄi, cĂł nhiễm ĂĄi lĂ  cĂł bảo thủ. Ái, thủ lĂ  nhĂąn sanh tử đau khổ ở đời vị lai. ChĂ­nh ĂĄi thủ cũng lĂ  nhĂąn đấu tranh ngay trong hiện tại. Ta thấy sắc đẹp ấy ta thĂ­ch, người khĂĄc thấy đẹp cũng thĂ­ch. Nếu ta được thĂŹ người mất, ai cũng muốn được thĂŹ phải đấu tranh, cĂł đấu tranh lĂ  cĂł đau khổ. Bởi đấu tranh nĂȘn phiền nĂŁo, đĂąy lĂ  nhĂąn xa Niết-bĂ n.

Tai nghe tiếng đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? Tai chĂșng ta nghe tiếng cũng khĂŽng đồng nhau. Bởi mỗi người do huĂąn tập sai biệt cao thấp, nĂȘn cĂł nhận định khĂĄc nhau. VĂ­ như cĂčng nghe một bĂ i phĂĄp, mĂ  cĂł kẻ khen hay cĂł người chĂȘ dở, hoặc người khen đoạn nĂ y, kẻ khen đoạn khĂĄc. Như cĂčng nghe một bản nhạc, người tĂ i tử chuyĂȘn nghiệp chĂȘ nhạc khĂŽng hay, người mới bập bẹ vĂ i nốt nhạc khen bản nhạc rất hay. CĂĄi nghe của chĂșng ta cĂČn tĂčy thuộc chỗ huĂąn tập mĂ  đĂĄnh giĂĄ khĂĄc nhau. Nếu bảo cĂĄi nghe của ta lĂ  chĂąn lĂœ, cĂĄi nghe của người khĂĄc cũng nhận lĂ  chĂąn lĂœ. Hai chĂąn lĂœ mĂ  sai biệt nhất định phải tranh cĂŁi. ĐĂŁ tranh cĂŁi thĂŹ đi đến khổ đau. NĂȘn nĂłi chấp chặt lĂ  đau khổ. Thế mĂ  người đời nĂłi: “CĂĄi gĂŹ tai nghe mắt thấy mới lĂ  sự thật.” Tai nghe tiếng mĂ  chạy theo tiếng cũng lĂ  đau khổ. VĂŹ tiếng cĂł hay dở, cĂł tốt cĂł xấu, cĂł khen cĂł chĂȘ. Nếu nghe khen ta mừng, nghe chĂȘ ta giận, nghe hay ta thĂ­ch, nghe dở ta bực, đĂąy lĂ  gốc phiền nĂŁo, lĂ  nhĂąn đau khổ, cũng lĂ  xa Niết-bĂ n.

Mũi ngửi mĂči đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? Mũi chĂșng ta cĂčng ngửi một thứ mĂči, mĂ  kẻ khen thơm người chĂȘ hĂŽi, tĂčy thuộc sự huĂąn tập khĂĄc nhau. VĂ­ như một trĂĄi sầu riĂȘng, người quen ăn nĂłi lĂ  thơm, người chưa từng ăn nĂłi lĂ  hĂŽi. Hai người đồng ngửi được mĂči sầu riĂȘng, mĂ  hai người nhận định trĂĄi nhau. Như vậy, thơm lĂ  chĂąn lĂœ, hĂŽi lĂ  chĂąn lĂœœ? Nếu ai cũng cho mĂŹnh lĂ  chĂąn lĂœ thĂŹ khĂł trĂĄnh khỏi một trận cĂŁi vĂŁ. Lại nữa, như mĂči nước mắm biển, người quen ăn khen thơm, người khĂŽng quen ăn chĂȘ hĂŽi. LĂ m sao đĂĄnh giĂĄ đĂșng sự thật của nĂł. ChĂșng ta quen thĂłi, mĂŹnh nĂłi thơm bị người khĂĄc chĂȘ hĂŽi lĂ  nổi giận. NhĂąn đấu tranh từ đĂąy phĂĄt khởi, quả đau khổ nhĂąn đĂł mĂ  thĂ nh. Nếu chĂșng ta phĂłng tĂąm chạy theo mĂči thơm, dễ bị chĂșng phỉnh gạt, đi đến chỗ sa đọa. ĐĂąy cũng lĂ  tĂąm ĂĄi nhiễm, sanh ra bảo thủ, tạo thĂ nh nhĂąn sanh tử đau khổ ở đời sau.

Lưỡi nếm vị đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? Lưỡi chĂșng ta nếm vị cũng khĂŽng nhất định giống nhau, tĂčy thuộc chỗ huĂąn tập riĂȘng của mỗi người. ChĂ­nh chĂșng ta cũng thừa nhận mỗi người cĂł khẩu vị khĂĄc nhau. Nếu mỗi người chấp chặt khẩu vị của mĂŹnh lĂ  đĂșng thĂŹ sự tranh cĂŁi khĂŽng cĂł ngĂ y dừng. VĂ­ như người quen ăn mặn khi nấu canh nếm thử rất vừa ăn, mĂșc bưng lĂȘn bĂ n gặp người quen ăn lạt nếm thử liền chĂȘ mặn. Cả hai đều nếm đến vị canh, một bĂȘn bảo vừa ăn, một bĂȘn chĂȘ mặn. ChĂąn lĂœ về bĂȘn nĂ o? Nếu mời người thứ ba nếm thử, người nĂ y quen ăn mặn thĂŹ đồng Ăœ với người ăn mặn, quen ăn lạt thĂŹ đồng Ăœ với người ăn lạt. Nếu chấp theo cĂĄi lưỡi của mĂŹnh thĂŹ sự cĂŁi vĂŁ khĂŽng trĂĄnh khỏi. CĂł những thức ăn người chồng thĂ­ch người vợ khĂŽng thĂ­ch, người cha ưa, con khĂŽng ưa. ChĂșng ta khẳng định theo khẩu vị mĂŹnh bắt mọi người phải theo thĂŹ họ bực bội. Bực bội thĂŹ mầm đấu tranh dễ bĂčng nổ. ChĂ­nh đĂąy lĂ  gốc đau khổ. Người chạy theo vị ngon đĂČi thỏa mĂŁn cĂĄi lưỡi, họ phải nhọc nhằn khĂŽng cĂł ngĂ y cĂčng. Anh thợ mộc lĂ m mỗi ngĂ y được năm ngĂ n đồng (5.000đ tiền VN), hai bữa ăn đĂČi phải ngon, chắc anh khĂŽng cĂČn dư đồng nĂ o để giải quyết những nhu cầu khĂĄc, vĂ  anh sẽ khĂŽng cĂł ngĂ y nĂ o được nghỉ. ThĂ­ch thức ăn ngon lĂ  ĂĄi nhiễm vị, cĂł ĂĄi nhiễm thĂŹ cĂł bảo thủ, ĂĄi thủ lĂ  nhĂąn sanh tử đau khổ ở đời sau, lĂ  xa Niết-bĂ n.

ThĂąn xĂșc chạm đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? ThĂąn xĂșc chạm cảm giĂĄc khĂŽng giống nhau, tĂčy cơ thể mỗi người. Một người mập (bĂ©o), một người &#7889;m (gầy) ở chung nhau một căn phĂČng. KhĂ­ hậu khoảng mười tĂĄm độ C, người mập (bĂ©o) cảm thấy mĂĄt, người ốm (gầy) phĂĄt run. Người ốm lại đĂłng kĂ­n cửa sổ, người mập bực bội mở toĂĄc ra. Thế lĂ , sự ẩu đả phải đến. Bởi chấp chặt vĂ o cảm giĂĄc riĂȘng mĂŹnh, nĂȘn dễ nổ ra sự chống đối. Ở chung mĂ  chống đối nhau lĂ  phiền nĂŁo, lĂ  khổ đau. Hơn nữa, đuổi theo xĂșc dục lĂ  nhĂąn tan nĂĄt gia đĂŹnh, lĂ  mầm trầm luĂąn khổ hải.

Ý duyĂȘn phĂĄp trần đuổi theo chấp chặt lĂ  đau khổ, tại sao? PhĂĄp trần lĂ  bĂłng dĂĄng ngoại cảnh do huĂąn tập in sĂąu vĂ o Ăœ căn (nĂŁo bộ) mĂ  thĂ nh. Ý y cứ những bĂłng dĂĄng sẵn cĂł ấy, nhận định mọi sự việc xảy ra, giống như người mang một thứ kiếng mĂ u nhĂŹn cảnh vật. Bởi sự huĂąn tập từ mỗi gia đĂŹnh, hoĂ n cảnh xĂŁ hội khĂĄc nhau, nĂȘn sự nhận định của mỗi người cũng khĂĄc nhau, như mỗi người mang một thứ kiếng mĂ u. Chấp chặt nhận định riĂȘng tư của mĂŹnh, bắt mọi người phải giống như vậy, lĂ  khĂŽng thể được. Cho nĂȘn sự đấu tranh cĂŁi vĂŁ xảy ra thường nhật, vĂŹ chỗ khĂŽng đồng Ăœ nhau. Vợ chồng cĂŁi vĂŁ đến ly dị cũng vĂŹ khĂŽng đồng Ăœ. Anh em chống đối nhau đến tĂŹnh cốt nhục phải phĂąn ly, cũng vĂŹ khĂŽng đồng Ăœ. Cha cĂł thể từ con, cũng vĂŹ con khĂŽng giống Ăœ mĂŹnh... Vợ chồng lĂ m sao đồng Ăœ nhau được? VĂŹ vợ quen nếp nội trợ, giao thiệp với phĂĄi nữ, cĂČn chồng hoạt động bĂȘn ngoĂ i, phần lớn tiếp xĂșc phĂĄi nam, sự huĂąn tập hai bĂȘn khĂĄc nhau quĂĄ nhiều, lĂ m gĂŹ cĂł nhận định giống nhau như một được. Thế mĂ  đĂČi mọi việc phải đồng Ăœ nhau, cĂł chỗ bất đồng liền sanh sự, quả lĂ  điều khĂŽng hợp lĂœ. Cha vĂ  con lại khĂł đồng Ăœ nhau. VĂŹ cha được học hỏi huĂąn tập hoĂ n cảnh khĂĄc, con được học hỏi huĂąn tập một hoĂ n cảnh khĂĄc. Nếu con giống hệt cha lĂ  con đĂŁ lạc hậu, vĂŹ sống lĂči lại hai ba thập kỷ. Hiểu như vậy, chĂșng ta muốn được cuộc sống vui hĂČa, cần phải thĂŽng cảm nhau vĂ  xả cĂĄi chấp riĂȘng biệt của mĂŹnh, mới đem lại đời sống an lĂ nh hạnh phĂșc.

Nếu Ăœ đuổi theo phĂĄp trần lĂ  loạn động điĂȘn đảo, lĂ  phiền lụy khổ đau. Muốn tĂąm an định, Ăœ dừng lại khĂŽng chạy theo phĂĄp trần, lĂșc ấy lĂ  hết khổ, gần Niết-bĂ n.

TrĂȘn đĂąy lĂ  nĂłi rộng phĂĄp tu ngĂ i PhĂș-lĂąu-na nhận được một cĂĄch đơn giản nơi đức Phật. Ứng dụng phĂĄp tu nĂ y chỉ trong vĂČng ba thĂĄng NgĂ i chứng được Tam minh vĂ  độ được hĂ ng ngĂ n cư sĩ.

LÝ DO NÀO NGÀI TU CHỨNG NHANH CHÓNG

a) KhĂ©o ứng dụng phĂĄp tu. - Do NgĂ i khĂ©o ứng dụng phĂĄp tu đĂșng như thật nĂȘn kết quả nhanh. SĂĄu căn lĂ  cội nguồn tội lỗi, cũng chĂ­nh sĂĄu căn lĂ  gốc giải thoĂĄt. Cho nĂȘn mĂȘ lầm sĂĄu căn lĂ  “lục tặc” (sĂĄu đứa giặc), tỉnh giĂĄc sĂĄu căn lĂ  “lục thĂŽng” (sĂĄu phĂĄp thần thĂŽng). ChĂșng ta tu mĂ  khĂŽng nắm được cội rễ nĂ y, cứ xoay quanh hĂŹnh thức bĂȘn ngoĂ i, nĂȘn tu cả đời mĂ  Ă­t thấy tiến bộ. VĂŹ tu mĂ  vẫn thấy thị phi, vẫn tranh hơn thiệt... lĂ m sao hết phiền nĂŁo, nĂȘn cĂ ng tu cĂ ng xa Niết-bĂ n.

b) TĂąm can đảm khĂŽng sợ hiểm nguy. -Sau khi Phật hỏi ĂŽng định đến đĂąu yĂȘn tu, NgĂ i thưa đến phương TĂąy nước Du-na. Phật liền cảnh cĂĄo dĂąn xứ ấy hung hăng bạo ngược..., NgĂ i vẫn khĂŽng chĂșt nao nĂșng vĂ  bạch một cĂĄch thoải mĂĄi với Phật. Phật thấy Ăœ chĂ­ vững chĂŁi vĂ  tĂąm hiền hĂČa bao dung của NgĂ i, nĂȘn đồng Ăœ cho đi. ChĂ­nh Phật cũng thấy trước lĂ  NgĂ i sẽ thĂ nh cĂŽng, nĂȘn bảo “îng nĂȘn đến đĂł độ những người chưa được độ”. Nếu chỉ riĂȘng Ăœ chĂ­ kiĂȘn cường xem thường họa hoạn cũng chưa đủ cho NgĂ i sớm đắc đạo, cĂČn nhờ tĂąm đại hỉ xả dĂč gặp cảnh nĂ o vẫn thấy người ta cĂČn tốt. Mặc người đối xử cĂĄch nĂ o, NgĂ i vẫn khĂŽng ĂŽm một chĂșt oĂĄn hờn thĂč giận. Ngược lại, chĂșng ta thĂŹ sao? Gan dạ xĂŽng pha vĂ o chốn hiểm nguy đĂŁ khĂŽng cĂł, ai chạm đến bản ngĂŁ thĂŹ hận thĂč khĂŽng thể tha. Vậy chừng nĂ o chĂșng ta mới đắc đạo?

KINH PHẠM VÕNG CŨNG ĐỒNG Ý TRÊN

Trong kinh Phạm VĂ”ng mỗi khi kết thĂșc kiến chấp của ngoại đạo, đức Phật đều nĂłi: “Chỉ Như Lai biết rĂ” chỗ lầm chấp đĂł vĂ  biết nhiều hơn nữa họ đĂŁ tin như thế nĂ o, chấp như thế nĂ o, cĂł bĂĄo ứng như thế nĂ o, nhưng Như Lai khĂŽng hề để Ăœ chấp trước nĂȘn được giải thoĂĄt tịch diệt. Như Lai biết rĂ” sự sanh khởi vĂ  tận diệt của thọ, biết sự ĂĄi nhiễm vĂ  tội lỗi của thọ, biết sự thoĂĄt ly cĂĄc thọ vĂ  đem trĂ­ tuệ quĂĄn sĂĄt bĂŹnh đẳng mĂ  được giải thoĂĄt hoĂ n toĂ n.” (Kinh Phạm VĂ”ng. Trường A-hĂ m tr. 261 H.T. TrĂ­ Đức dịch.)

Qua đoạn kinh trĂȘn, chĂșng ta thấy Phật biết tất cả chỗ chấp của ngoại đạo vĂ  biết nhiều hơn, song Phật khĂŽng chấp trước nĂȘn được giải thoĂĄt tịch diệt. ĐĂąy lĂ  Phật đĂĄnh giĂĄ đầy đủ biết chấp lĂ  triền phược trầm luĂąn, biết tất cả mĂ  khĂŽng chấp lĂ  giải thoĂĄt tịch diệt. Đến đoạn sau, Phật biết rĂ” sự sanh khởi vĂ  diệt tận của thọ cho đến biết sự thoĂĄt ly cĂĄc thọ... Chữ thọ ở đĂąy lĂ  sĂĄu căn tiếp xĂșc sĂĄu trần lĂ  xĂșc cĂł cảm thọ lĂ  thọ, ĂĄi nhiễm lĂ  ĂĄi, tội lỗi lĂ  thủ, tạo thĂ nh đau khổ đời nĂ y vĂ  nhĂąn sanh tử đời sau. Do Phật dĂčng trĂ­ tuệ quĂĄn sĂĄt bĂŹnh đẳng cĂĄc thọ, dĂč thọ lạc, thọ khổ... bản chất nĂł lĂ  duyĂȘn hợp hư dối, vĂŽ thường khĂŽng lĂąu bền nĂȘn khĂŽng ĂĄi nhiễm mĂ  giải thoĂĄt.

Lại một đoạn khĂĄc, Phật nĂłi: “CĂĄc đạo sĩ vĂ  BĂ -la-mĂŽn sở dĩ chủ trương thế gian thường trĂș cho đến chủ trương chĂșng sanh hiện tại Niết-bĂ n, cũng bởi họ dựa vĂ o sự xĂșc đối phĂąn biệt của sĂĄu giĂĄc quan, nếu khĂŽng xĂșc đối thời cũng khĂŽng thể cĂł cĂĄc chủ trương...

Nếu vị Tỳ-kheo nĂ o đối với sĂĄu xĂșc đối của sĂĄu giĂĄc quan biết được một cĂĄch đĂșng đắn như thật về sự phĂĄt khởi, sự diệt tận, sự nhiễm ĂĄi, sự tội lỗi, vĂ  sự thoĂĄt ly nĂł, thĂŹ sẽ vượt ra ngoĂ i vĂČng cĂĄc kiến chấp sai lầm trĂȘn.” (Trường A-hĂ m tr 269 H.T TrĂ­ Đức dịch). Ngoại đạo do sĂĄu căn tiếp xĂșc sĂĄu trần cảm thọ thế nĂ o chấp cứng thế ấy, cho cĂĄi ta nhận được lĂ  chĂąn lĂœ, khĂĄc với cĂĄi nhận của ta đều sai lầm. Bởi chấp như vậy nĂȘn kẻ nĂ y cĂŁi vĂŁ kẻ kia, nhĂłm nĂ y chống đối nhĂłm khĂĄc. Sự cĂŁi vĂŁ chống đối ấy rốt cuộc khĂŽng đi đến đĂąu, chỉ ĂŽm ấp phiền nĂŁo thĂč hận. VĂŹ cĂĄi cảm nhận của họ lĂ  cục bộ, lĂ  phiến diện, lĂ m sao giải quyết thỏa mĂŁn được cĂĄi toĂ n diện. Chỉ cĂł những người qua sự xĂșc đối, cĂł cảm nhận, biết rĂ” bản thĂąn nĂł do duyĂȘn hợp sanh khởi, rồi vĂŽ thường hoại diệt, ĂĄi nhiễm nĂł sẽ tạo nghiệp đau khổ, gỡ bỏ nĂł sẽ thoĂĄt ly ngoĂ i vĂČng kiến chấp, được giải thoĂĄt Niết-bĂ n.

Cũng kinh Trường A-hĂ m, Phật cĂł thĂ­ dụ MĂč rờ voi. CĂąu chuyện thế nĂ y: Một hĂŽm nhĂ  vua ngự tại triều muốn thử nghiệm những người mĂč. Vua sai cĂĄc quan tĂŹm một số người mĂč dẫn đến trước sĂąn triều vĂ  dẫn một con voi đến. CĂŽng việc ổn định xong, nhĂ  vua vĂ  quần thần ra trước sĂąn triều dự cuộc thử nghiệm. Vua bảo một vị quan sắp đặt những người mĂč đứng hai hĂ ng, khoảng giữa lĂ  chỗ con voi đứng. Xong xuĂŽi, vị quan bảo những người mĂč rằng: Trước cĂĄc người lĂ  một con voi, hĂŁy tiến đến rờ xem, rờ rồi diễn tả hĂŹnh dĂĄng con voi cho nhĂ  vua vĂ  bĂĄ quan nghe, ai diễn tả đĂșng được hậu thưởng. Sau khi Ă o vĂ o mĂČ rờ, người chụp được cĂĄi chĂąn nĂłi con voi giống cĂąy cột, người rờ nhằm cĂĄi bụng nĂłi con voi giống cĂĄi trống, người chụp được cĂĄi đuĂŽi nĂłi con voi giống chổi chĂ ..., mỗi người trĂŹnh bĂ y con voi mỗi cĂĄch. ChĂ­nh vĂŹ mĂŹnh sờ tới nắm được nĂȘn khẳng định con voi như thế, người khĂĄc cũng sờ tới nắm được cũng khẳng định chỗ biết của mĂŹnh. VĂŹ mỗi người đều chấp chặt vĂ o chỗ xĂșc chạm riĂȘng mĂŹnh nĂȘn khĂŽng ai chịu nghe ai, nổ ra một cuộc cĂŁi vĂŁ ồn nĂĄo. Những người mĂč yĂȘu cầu nhĂ  vua vĂ  bĂĄ quan phĂąn giải xem ai đĂșng. Trường hợp nĂ y, vua vĂ  quan lĂ  người mắt sĂĄng thấy rĂ” con voi, sẽ đĂĄp thế nĂ o? Chỉ cĂł cĂĄch nĂłi rằng “cĂĄc anh đều đĂșng cũng đều khĂŽng đĂșng”. Những người mĂč cĂł thỏa mĂŁn chăng? Hẳn họ lĂȘn ĂĄn những vị nĂ y “ba phải”. Bởi vĂŹ sự việc hoặc đĂșng, hoặc sai, khĂŽng thể cĂł vừa phải vừa sai được. Song nhĂ  vua vĂ  bĂĄ quan thấy rĂ” toĂ n bộ con voi, lĂ m sao chấp nhận một bộ phận con voi lĂ  toĂ n thể được, cũng khĂŽng thể phủ nhận một bộ phận con voi khĂŽng dĂ­nh dĂĄng gĂŹ đến con voi. Những người mĂč vĂ­ dụ chĂșng ta chỉ xĂșc chạm một phần chĂąn lĂœ rồi chấp chặt vĂ o đĂł tranh cĂŁi nhau. NhĂ  vua vĂ  bĂĄ quan thĂ­ dụ đức Ph&#7853;t vĂ  cĂĄc vị Bồ-tĂĄt đĂŁ giĂĄc ngộ thấy chĂąn lĂœ viĂȘn mĂŁn nĂȘn khĂŽng chấp, cũng khĂŽng về hĂča với một phe nhĂłm nĂ o. Bởi vậy nĂȘn đức Phật gọi lĂ  Nhất thiết trĂ­ vĂ  Nhất thiết chủng trĂ­, tức lĂ  TrĂ­ biết tất cả vĂ  TrĂ­ biết tất cả loại. Cho nĂȘn đức Phật nĂłi “Như Lai biết tất cả mĂ  khĂŽng chấp trước được giải thoĂĄt tịch diệt.” Ngược lại, chĂșng ta sống trong mĂč tối quen rồi, chụp được điều gĂŹ hay liền cho lĂ  cứu kĂ­nh, tuyĂȘn bố cho mọi người biết, nếu cĂł ai thấy khĂĄc chĂșng ta, liền bảo họ nĂłi bậy lĂ  sai lầm. Do đĂł mĂ  sự tranh cĂŁi cĂ ng ngĂ y cĂ ng tăng, khổ đau cĂ ng ngĂ y cĂ ng nhiều. Nếu chĂșng ta biết, cĂĄi thấy của mĂŹnh chỉ lĂ  một gĂłc một cạnh chĂąn lĂœ, nếu cĂł ai thấy khĂĄc cũng lĂ  một gĂłc một cạnh chĂąn lĂœ khĂĄc, chĂșng ta vĂ  họ “đều một phần đĂșng”, bổ tĂșc cho nhau lĂ  hay, chống đối nhau lĂ  dở. Thế gian nĂ y, mọi người đều cĂł cĂĄi nhĂŹn như vậy thĂŹ sống an lạc vĂŽ biĂȘn.

Trong kinh Phật nĂłi về tĂŽn trọng chĂąn lĂœ vĂ  bảo vệ chĂąn lĂœ rằng: “Nếu ai nĂłi vấn đề nĂ y tĂŽi thấy như thế lĂ  đĂșng, đĂąy lĂ  cĂĄi thấy của tĂŽi.” Người nĂ y biết tĂŽn trọng chĂąn lĂœ. Ngược lại, “nếu ai nĂłi vấn đề nĂ y tĂŽi thấy như thế lĂ  đĂșng, người nĂ o thấy như tĂŽi lĂ  phải, thấy khĂĄc tĂŽi lĂ  sai lĂ  bậy.” Người nĂ y khĂŽng biết tĂŽn trọng chĂąn lĂœ vĂ  bảo vệ chĂąn lĂœ. Hầu hết chĂșng ta đều đứng về hĂ ng ngũ với người sau, người khĂŽng biết tĂŽn trọng chĂąn lĂœ. VĂŹ thế chĂșng ta bao giờ cũng thấy mĂŹnh phải, mọi người đều sai, đĂąy lĂ  cĂĄi bệnh muĂŽn đời của chĂșng ta.

KINH KIM CANG BÁT-NHÃ TINH THẦN CŨNG TƯƠNG TỢ

Hai cĂąu hỏi chủ yếu của toĂ n quyển kinh Kim Cang do tĂŽn giả Tu-bồ-đề hỏi Phật lĂ : “Nếu cĂł người thiện nam thiện nữ phĂĄt tĂąm cầu VĂŽ thượng ChĂĄnh đẳng ChĂĄnh giĂĄc lĂ m sao an trụ tĂąm? LĂ m sao hĂ ng phục tĂąm?” Phật trả lời cĂąu an trụ tĂąm rằng: “Nếu cĂł người thiện nam thiện nữ phĂĄt tĂąm cầu VĂŽ thượng ChĂĄnh đẳng ChĂĄnh giĂĄc, chẳng nĂȘn dấy tĂąm trụ nơi sắc, chẳng nĂȘn dấy tĂąm trụ nơi thanh, hương, vị, xĂșc, phĂĄp; nĂȘn khĂŽng cĂł chỗ trụ mĂ  sanh tĂąm VĂŽ thượng ChĂĄnh đẳng ChĂĄnh giĂĄc.” Quả lĂ  Phật dạy chĂșng ta tu cầu thĂ nh Phật, khi sĂĄu căn tiếp xĂșc sĂĄu trần đừng khởi tĂąm chấp trước sĂĄu trần, chĂ­nh cĂĄi khĂŽng chấp trước đĂł lĂ  Phật. Ở kinh A-hĂ m, Phật nĂłi “Như Lai biết tất cả mĂ  khĂŽng chấp trước”. Ở kinh nĂ y, Phật nĂłi “cĂĄi khĂŽng chấp trước đĂł lĂ  Phật”. Bởi vĂŹ cĂł giĂĄc ngộ viĂȘn mĂŁn mới khĂŽng chấp trước, chĂ­nh chỗ khĂŽng chấp trước lĂ  tĂąm an trụ. VĂŹ thế Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng tới cĂąu nĂ y liền phĂĄt ngộ kĂȘu lĂȘn “ĐĂąu ngờ tĂĄnh mĂŹnh xưa nay thanh tịnh, đĂąu ngờ tĂĄnh mĂŹnh đầy đủ tất cả! ĐĂąu ngờ tĂĄnh mĂŹnh khĂŽng sanh khĂŽng diệt!...” Lục Tổ khĂŽng chỉ thấy sĂĄu căn khĂŽng dĂ­nh mắc sĂĄu trần thĂ nh giải thoĂĄt tịch diệt, mĂ  cĂČn thấy khi sĂĄu căn khĂŽng dĂ­nh mắc sĂĄu trần, tĂĄnh thanh tịnh sẵn cĂł của mĂŹnh hiện rĂ” rĂ ng, tĂĄnh nĂ y đầy đủ tất cả, tĂĄnh nĂ y khĂŽng sanh khĂŽng diệt... Thế lĂ , NgĂ i nhảy vọt vĂ o PhĂĄp thĂąn, khĂŽng cĂČn giải thoĂĄt như Nhị thừa. Đến đĂąy chĂșng ta thấy rĂ” cả hệ A-hĂ m đến hệ BĂĄt-nhĂŁ đều chỉ chỗ chủ yếu tu hĂ nh được giải thoĂĄt, được thĂ nh Phật gốc từ khĂŽng cho sĂĄu căn chấp trước với sĂĄu trần. ThĂ nh giải thoĂĄt hay thĂ nh trầm luĂąn cũng chỉ lĂ  sĂĄu căn khĂŽng dĂ­nh mắc sĂĄu trần hay sĂĄu căn kẹt chặt sĂĄu trần. Người học đạo giải thoĂĄt phải hiểu rĂ” điều nĂ y.

KINH LĂNG NGHIÊM CŨNG ĐỒNG TINH THẦN NÀY

Trong kinh Lăng NghiĂȘm, A-nan sau khi nghe Phật dạy nghĩa quyết định thứ hai, khởi nghi vấn: “... Xin nguyện đức Đại Từ thương xĂłt kẻ chĂŹm đắm, chĂ­nh nơi thĂąn tĂąm hiện nay, chỉ cho chĂșng tĂŽi thế nĂ o gĂșt, do đĂąu mĂ  cởi, cũng khiến cho chĂșng sanh khổ nĂŁo vị lai được khỏi luĂąn hồi, khĂŽng sa vĂ o ba cĂ”i...”

Khi bấy giờ, ĂŽng A-nan vĂ  cả đại chĂșng đều nghe cĂĄc đức Như Lai mười phương, số như vi trần, tuy khĂĄc miệng nhưng đồng một lời, bảo A-nan rằng: “Hay thay cho A-nan! Ông muốn biết cĂĄi cĂąu sinh vĂŽ minh lĂ  cĂĄi đầu gĂșt, khiến ĂŽng phải luĂąn hồi sanh tử, thĂŹ nĂł chĂ­nh lĂ  sĂĄu căn của ĂŽng, chớ khĂŽng phải vật gĂŹ khĂĄc; ĂŽng lại muốn biết tĂ­nh VĂŽ thượng Bồ-đề, khiến ĂŽng chĂłng chứng đạo quả an vui, giải thoĂĄt, vắng lặng, diệu thường, thĂŹ cũng chĂ­nh lĂ  sĂĄu căn của ĂŽng, chớ khĂŽng phải vật gĂŹ khĂĄc.” (Kinh Lăng NghiĂȘm tr. 51 TĂąm Minh d883;ch.)

Ở đĂąy khĂŽng chỉ đức Phật ThĂ­ch-ca mĂ  cả mười phương chư Phật đồng nĂłi sĂĄu căn lĂ  gốc luĂąn hồi, sĂĄu căn cũng lĂ  gốc giải thoĂĄt. VĂŽ minh lĂ  cĂĄi mĂȘ chấp của sĂĄu căn, nĂł lĂŽi chĂșng ta vĂ o vĂČng luĂąn hồi sanh tử. VĂŽ thượng Bồ-đề lĂ  cĂĄi tỉnh giĂĄc của sĂĄu căn, nĂł đưa chĂșng ta đến chỗ an lạc giải thoĂĄt... Thấy được chỗ căn bản nĂ y, sự tu hĂ nh của chĂșng ta, cĂł nơi y cứ vững chắc, chĂșng ta khĂŽng cĂČn ngờ vực gĂŹ trĂȘn bước đường tầm đạo giải thoĂĄt.

NgĂ i A-nan tuy nghe như vậy vẫn cĂČn ngờ, cĂși đầu bạch Phật: “LĂ m sao cĂĄi khiến cho tĂŽi bị luĂąn hồi, sống chết hay được an vui, diệu thường, cũng đều lĂ  sĂĄu căn, chớ khĂŽng phải vật gĂŹ khĂĄc?”

Phật bảo A-nan: “Căn vĂ  trần đồng một nguồn, cột vĂ  mở khĂŽng phải hai, cĂĄi thức phĂąn biệt lĂ  luống dối như hoa đốm giữa hư khĂŽng. A-nan, nhĂąn cĂĄi trần, mĂ  phĂĄt ra cĂĄi biết của căn, nhĂąn cĂĄi căn, mĂ  cĂł ra cĂĄi tưởng của trần, tướng phần sở kiến vĂ  kiến phần năng kiến đều khĂŽng cĂł tự tĂĄnh, như những hĂŹnh cĂąy lau gĂĄc vĂ o nhau. Vậy nĂȘn nay ĂŽng chĂ­nh nơi tri kiến, lập ra tướng tri kiến thĂŹ tức lĂ  gốc vĂŽ minh; chĂ­nh nơi tri kiến, khĂŽng cĂł tướng tri kiến, thĂŹ đĂł lĂ  VĂŽ lậu ChĂąn tịnh Niết-bĂ n, lĂ m sao trong ấy lại cĂČn cĂł vật gĂŹ khĂĄc.” (Kinh Lăng NghiĂȘm tr 453-457 TĂąm Minh dịch)

Đoạn nĂ y Phật nĂłi rĂ” căn trần thức đều hư dối khĂŽng thật như hoa đốm trong hư khĂŽng, như bĂł lau dựng nương vĂ o nhau mĂ  khĂŽng cĂł chủ. CĂĄi khĂŽng thật, khĂŽng chủ ấy, mĂ  chấp thấy biết của sĂĄu căn lĂ  thật, lĂ  gốc vĂŽ minh. ĐĂŁ lĂ  vĂŽ minh thĂŹ đi trong luĂąn hồi sanh tử. Nếu thấy biết mĂ  khĂŽng chấp tướng thấy biết lĂ  VĂŽ lậu ChĂąn tịnh Niết-bĂ n. Bởi vĂŹ từ cĂĄi gốc khĂŽng thật cĂł sanh ra ngọn ngĂ nh hoa quả cũng đều khĂŽng thật. KhĂŽng thật chấp lĂ  thật tức vĂŽ minh. KhĂŽng thật biết khĂŽng thật lĂ  giĂĄc ngộ. VĂŽ minh thĂŹ luĂąn hồi, giĂĄc ngộ thĂŹ giải thoĂĄt. Chỉ y cứ sĂĄu căn, mĂȘ thĂŹ luĂąn hồi, giĂĄc thĂŹ giải thoĂĄt, khĂŽng cĂČn phĂĄp gĂŹ khĂĄc nữa.

CHẤP<span>  LÀ  SI  MÊ

Cuộc đời lĂ  một dĂČng trĂŽi chảy linh động, khĂŽng dừng ở một phĂșt giĂąy nĂ o, khĂŽng đứng mĂŁi ở một vị trĂ­ nĂ o. Thế mĂ , chĂșng ta cố giữ nĂł cĂČn mĂŁi vĂ  nguyĂȘn vẹn với chĂșng ta. Quan niệm cố giữ lĂ  gốc từ si mĂȘ, bởi vĂŹ khĂŽng thấy được lẽ thật. Như thĂąn nĂ y lĂ  vĂŽ thường sanh giĂ  bệnh chết, mĂ  chĂșng ta cĂł chịu giĂ , chịu bệnh, chịu chết đĂąu? ChĂșng ta muốn trẻ mĂŁi, muốn khỏe luĂŽn, muốn sống hoĂ i. Song muốn mĂ  khĂŽng được trở thĂ nh đau khổ. Cho nĂȘn nĂłi giĂ  khổ, bệnh khổ, chết khổ. Nếu chĂșng ta thấy rĂ” luật vĂŽ thường như thế, khĂŽng mong muốn cố giữ, thĂŹ khi giĂ , bệnh, chết đến cĂł khổ chăng? Họa chăng cĂł khổ lĂ  khổ vĂŹ thĂąn bại hoại thĂŽi, chớ khĂŽng cĂł khổ do tĂąm cố giữ mĂ  khĂŽng được. VĂŹ thế, người thấy rĂ” lẽ nĂ y khĂŽng chấp trước lĂ  bớt khổ năm mươi phần trăm (50 %).

Đến cĂĄi bệnh muĂŽn đời của chĂșng ta lĂ  chấp cĂĄi thấy, cĂĄi nghe, cĂĄi ngửi, cĂĄi nếm, cĂĄi xĂșc chạm, cĂĄi suy nghĩ của mĂŹnh lĂșc nĂ o cũng đĂșng. Ta một bề chấp cứng cĂĄi thấy cho đến cĂĄi suy nghĩ của mĂŹnh lĂ  đĂșng, khĂĄc đi lĂ  sai, người cũng một bề chấp cứng như vậy, mĂ  hai cĂĄi thấy vĂ  suy nghĩ đều khĂĄc nhau, chắc chắn sẽ nổ ra trận đấu khẩu, đấu khẩu mĂ  khĂŽng giải quyết được, trận đấu vĂ” ắt phải đến. Nhỏ thĂŹ chuyện rắc rối giữa cĂĄ nhĂąn với cĂĄ nhĂąn, lớn hơn giữa gia đĂŹnh với gia đĂŹnh, lớn nữa giữa quốc gia với quốc gia. NgĂČi đấu tranh đĂŁ chĂąm lĂȘn, thĂŹ lửa đau khổ sẽ lan khắp. ChĂ­nh vĂŹ khĂŽng suốt thấu lẽ thật, nĂȘn sẽ sanh ra chấp chặt. CĂĄi chấp chặt ấy vốn từ si mĂȘ mĂ  ra. Do đĂł, đạo Phật chủ trương lấy ĂĄnh sĂĄng giĂĄc ngộ, phĂĄ tan đĂȘm tối si mĂȘ, lĂ  cứu khổ chĂșng sanh. CĂĄi cứu khổ nĂ y khĂŽng cĂł hĂŹnh tướng, nĂȘn khĂŽng thấy cụ thể, song cĂĄi lợi Ă­ch sĂąu xa bền bỉ của nĂł khĂŽng thể đĂĄnh giĂĄ đến được. Người đời chỉ thấy cĂĄi gĂŹ cụ thể, cho lĂ  thiết thực, khĂŽng thấy cụ thể cho lĂ  huyền hoặc. Như một gia đĂŹnh nghĂšo khổ khốn đốn, người chồng lĂ  cột trụ trong nhĂ  đi đạp xĂ­ch lĂŽ, mỗi ngĂ y được năm ba ngĂ n, anh mắc phải cĂĄi bệnh ghiền rượu. Chiều nĂ o anh cũng phải ngồi quĂĄn, số tiền kiếm được của anh đĂŁ mất hết hai phần trong quĂĄn. Vợ con anh chỉ cĂČn một số quĂĄ nhỏ, nĂȘn phải khốn đốn. ChĂșng ta thấy thương, mỗi ngĂ y đến giĂșp vĂ i lĂ­t gạo, thử hỏi chĂșng ta giĂșp đến bao giờ gia đĂŹnh nĂ y hết khốn đốn? Chỉ cĂĄch duy nhất, chĂșng ta phải khĂ©o khuyĂȘn ĂŽng chồng nhĂ  ấy bỏ rượu. Một khi ĂŽng thức tỉnh chịu bỏ rượu, gia đĂŹnh ấy sẽ bớt khốn đốn lĂąu dĂ i. Lời khuyĂȘn để ĂŽng chịu bỏ rượu khĂŽng cĂł gĂŹ cụ thể, mĂ  kết quả khĂŽng thể lường được. ChĂ­nh vĂŹ cứu khổ chĂșng sanh, đức Phật vạch trần cho chĂșng ta thấy cĂĄi mĂȘ chấp lĂ  đau khổ, lĂ  trầm luĂąn. Một khi chĂșng ta thức tỉnh bỏ được mĂȘ chấp lĂ  an lạc vĩnh viễn.

TĂłm lại, trĂȘn đĂąy đĂŁ trĂŹnh bĂ y đầy đủ cội gốc của đau khổ trầm luĂąn vĂ  cội gốc của giải thoĂĄt Niết-bĂ n. Chủ động của hai lối đi xuống vĂ  lĂȘn lĂ  sĂĄu căn. MĂȘ muội y cứ vĂ o sự thấy biết của sĂĄu căn mĂ  chấp chặt, lĂ  đau khổ trầm luĂąn. SĂĄng suốt thấy rĂ” sự thấy biết của sĂĄu căn lĂ  giới hạn lĂ  gĂłc cạnh, khĂŽng chấp trước lĂ  an lạc giải thoĂĄt. Con đường tu của chĂșng ta thật lĂ  đơn giản, chỉ ở sĂĄu căn giĂĄc vĂ  mĂȘ mĂ  được vui hay chịu khổ. KhĂŽng tĂŹm cĂĄi vui ở phương trời nĂ o, cũng khĂŽng chạy trốn cĂĄi khổ ở nĂși non gĂŹ. Chuyển hướng sĂĄu căn khĂŽng chạy theo khĂŽng dĂ­nh mắc sĂĄu trần lĂ  thật sự giải thoĂĄt. CĂł vị Tăng hỏi Thiền sư: “Thế nĂ o lĂ  giải thoĂĄt?” Thiền sư trả lời: “Căn trần khĂŽng dĂ­nh nhau lĂ  giải thoĂĄt.” CĂąu nĂ y vừa lĂ  đơn giản vừa lĂ  thực tế. DĂ­nh mắc lĂ  bị trĂłi buộc, lĂ  mất tự do. KhĂŽng dĂ­nh mắc lĂ  tự do lĂ  giải thoĂĄt, thật khĂŽng cĂł gĂŹ lạ cả. Hơn nữa căn trần lĂ  tướng duyĂȘn hợp khĂŽng thật. Nếu thấy căn trần duyĂȘn hợp như huyễn hĂła, lĂ  phĂĄ được chấp ngĂŁ (căn), chấp phĂĄp (trần), mới lĂ  hoĂ n toĂ n giải thoĂĄt.

CỐT LÕI ĐẠO PHẬT

Chủ yếu đạo Phật lĂ  chỉ dạy chĂșng sanh giải thoĂĄt mọi khổ đau. Song lĂąu đĂ i giải thoĂĄt phải xĂąy dựng trĂȘn một nền tảng giĂĄc ngộ. Trước phải giĂĄc ngộ nhiĂȘn hậu mới giải thoĂĄt, như nĂłi “biết đĂșng mới lĂ m đĂșng”. GiĂĄc ngộ Giải thoĂĄt theo liền bĂȘn nhau khĂŽng thể tĂĄch rời được. Cầu Giải thoĂĄt mĂ  trước khĂŽng GiĂĄc ngộ lĂ  sự mong cầu viển vĂŽng thiếu thực tế. Như người mắc bệnh ghiền ĂĄ phiện muốn bỏ, mĂ  khĂŽng Ăœ thức tai hại do ghiền ĂĄ phiện gĂąy ra, chạy cầu thầy bĂča, thầy phĂĄp xin bĂča phĂ©p uống để khỏi ghiền, lĂ  xa vời khĂŽng thực tế. Muốn bỏ bệnh ghiền ĂĄ phiện, chĂ­nh người ấy phải nhận thức rĂ” rĂ ng tai hại của bệnh ghiền, đồng thời lập chĂ­ cương quyết bỏ ĂĄ phiện, dĂč bị cơn ghiền hĂ nh hạ thế mấy, liều chết hẳn khĂŽng tĂĄi phạm. CĂł thế, người ấy khả dĩ thĂ nh cĂŽng việc bỏ ghiền ĂĄ phiện. Mọi khổ đau trong đời sống con người đều do hĂ nh động xấu xa của con người chuốc lấy. Muốn giải thoĂĄt mọi đau khổ, con người phải GiĂĄc ngộ, cương quyết đập tan mọi nguyĂȘn nhĂąn sanh ra đau khổ. NhĂąn đau khổ đĂŁ nĂĄt thĂŹ quả khổ đau đĂąu cĂČn. VĂŹ thế, GiĂĄc ngộ Giải thoĂĄt lĂ  “Cốt LĂ”i Đạo Phật”.

GIÁC NGỘ ĐAU KHỔ

Thuở cĂČn lĂ m ThĂĄi tử, sau khi chứng kiến sự sanh giĂ  bệnh chết của con người, ngĂ i Tất-đạt-đa quyết tĂąm xuất gia tầm đạo. Sau khi đĂŁ đạt đạo, NgĂ i thấy rĂ” trong mọi đau khổ chỉ luĂąn hồi sanh tử lĂ  cĂĄi khổ to lớn dai dẳng hơn cả. Cho nĂȘn, ngĂłt bốn mươi chĂ­n năm NgĂ i thuyết phĂĄp cốt chỉ rĂ” con đường Giải thoĂĄt Sanh tử LuĂąn hồi cho chĂșng sanh. Đồng thời NgĂ i cũng phương tiện vạch bĂ y phương phĂĄp giảm thiểu đau khổ cho những chĂșng sanh chưa đủ khả năng thoĂĄt khỏi luĂąn hồi.

GIÁC NGỘ LÝ NGHIỆP DẪN

ChĂșng sanh si mĂȘ tạo nghiệp, sức nghiệp lĂŽi kĂ©o chĂșng sanh đi vĂ o luĂąn hồi sanh tử. Do nghiệp dẫn dắt chĂșng sanh mĂŁi trĂšo lĂȘn tuột xuống trong sĂĄu nẻo luĂąn hồi. CĂł khi chĂșng ta vui cười ở cĂ”i trời, cĂł khi la hĂ©t ở cĂ”i a-tu-la, cĂł lĂșc nửa cười, nửa mếu ở cĂ”i người, lại cĂł khi kĂȘu la thảm thiết ở địa ngục, cĂł lĂșc thất thểu đĂłi khĂĄt ở ngạ quỉ, cĂł khi ngu si sống theo bản năng ở sĂșc sanh. Đang lĂșc bị nghiệp dẫn, chĂșng ta cũng cĂł gặp những cảnh vui, song cĂĄi vui ấy chỉ trĂĄ hĂŹnh của đau khổ. VĂŹ lĂ  cĂĄi vui mỏng manh tạm bợ, rốt cuộc đều tan biến theo thời gian. Nghiệp lĂ  hĂ nh động tạo tĂĄc của con người hoặc nĂłi khĂĄc, nghiệp lĂ  động lực thĂșc đẩy lĂŽi kĂ©o chĂșng sanh đến nơi thọ quả. Cụ thể hơn, nghiệp lĂ  sức bảo tồn mạng sống hiện tại của con người. Do hĂ nh động tạo tĂĄc nhiều lần, thĂ nh thĂłi quen, cĂł sức mạnh lĂŽi cuốn con người đi theo thĂłi quen lĂ  nghiệp. Ban đầu ta lĂ m chủ tạo nghiệp, nghiệp thĂ nh, lĂ m chủ chi phối lại chĂșng ta. Như người khi mới tập uống rượu vĂ  sau khi đĂŁ ghiền rượu. Nghiệp dẫn dắt chĂșng ta lang thang trong sĂĄu nẻo luĂąn hồi đều do cĂĄi sở tập của mĂŹnh mĂ  nĂȘn. Sự sống lĂ  động, ngừng mọi hoạt động trong thĂąn thĂŹ chết. Như mũi tĂȘn rời dĂąy cung bay bổng trong khĂŽng lĂ  do sức đẩy, sức đẩy mĂŁn thĂŹ mũi tĂȘn phải rơi. Sự sống của thĂąn chĂșng ta đều do sức nghiệp, nhờ giĂł nghiệp thu hĂșt tứ đại bĂȘn ngoĂ i vĂ o thĂąn, cũng do giĂł nghiệp tống tứ đại phế thải trong thĂąn ra ngoĂ i, giĂł nghiệp dừng thĂŹ thĂąn nĂ y phải hoại. CĂł bĂ i tụng:

Đem vĂ o nhờ giĂł nghiệp

Tống ra cũng giĂł đưa

Sự hĂŽ hấp tuần hoĂ n

Tất cả đều do giĂł.

Một phen giĂł nghiệp dừng

ThĂąn nĂ y như khĂșc gỗ.

Thế nĂȘn, sự tồn tại của thĂąn hiện nay vĂ  sự tiếp nối của thĂąn mai sau đều do nghiệp. CĂČn nghiệp lĂ  cĂČn sự sống vĂ  tiếp nối sự sống. Nghiệp chủ động trong vĂČng sanh tử của chĂșng sanh.

Nghiệp cĂł nhiều thứ, nĂłi đơn giản chỉ cĂł hai thứ thuộc ba lớp khĂĄc nhau: thiện nghiệp, ĂĄc nghiệp, tĂ­ch lũy nghiệp, cận tử nghiệp, định nghiệp, bất định nghiệp. Những hĂ nh động lĂ nh tạo thĂ nh thĂłi quen lĂ  thiện nghiệp, sẽ dẫn dắt sanh trong cĂĄc cĂ”i lĂ nh. Những hĂ nh động dữ tạo thĂ nh thĂłi quen lĂ  ĂĄc nghiệp, sẽ lĂŽi cuốn vĂ o cĂĄc cĂ”i dữ. Trong lục đạo luĂąn hồi, tĂčy nghiệp lĂ nh cao thấp sẽ sanh trong ba đường lĂ nh: người, a-tu-la, trời. Nghiệp dữ tĂčy nặng nhẹ sẽ sanh trong ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, sĂșc sanh. VĂŹ thế, lĂ nh dữ đều do nghiệp, nghiệp lại chĂ­nh lĂ  hĂ nh động hằng ngĂ y của chĂșng ta. Muốn tương lai vui hay khổ đều do ta quyết định. ChĂ­nh chĂșng ta lĂ  người lĂ m chủ vận mạng của chĂșng ta, khĂŽng ai khĂĄc cĂł thể đem vui khổ lại cho chĂșng ta, kể cả đức Phật. ChĂșng ta lĂ  người định đoạt số phận của mĂŹnh ngay trong hiện tại vĂ  vị lai.

Hằng ngĂ y chĂșng ta gĂąy tạo nghiệp lĂ nh hay dữ tĂ­ch lũy thĂ nh sức mạnh, dẫn dắt chĂșng ta đến chỗ tương ứng thọ sanh, gọi lĂ  tĂ­ch lũy nghiệp. Thuở Phật tại thế, ThĂ­ch-ma-ha-nam đến bạch Phật: Hằng ngĂ y con giữ năm giới tu thập thiện... nếu đi đường gặp cọp dữ, voi dữ hại, khi ấy chết con sẽ sanh về đĂąu? Đức Phật đĂĄp: Như cĂąy to đang nghiĂȘng hẳn về một chiều, bị người cưa sẽ ngĂŁ về đĂąu? ĐĂąy lĂ  hiệu năng của tĂ­ch lũy nghiệp. ChĂșng ta sắp chết mĂ  nghiệp thiện, ĂĄc chưa nghiĂȘng hẳn bĂȘn nĂ o, khi ấy tĂąm niệm thiện dấy mạnh, hoặc tĂąm niệm ĂĄc dấy mạnh liền theo đĂł thọ sanh, lĂ  cận tử nghiệp. Người ta thường quan trọng giờ phĂșt lĂąm chung lĂ  vĂŹ thế. Trợ niệm bằng cĂĄch nhắc lại giĂĄo phĂĄp mĂ  người sắp chết đĂŁ nghe, cho họ dễ tỉnh giĂĄc, hoặc tụng kinh niệm Phật theo sở thĂ­ch hằng ngĂ y của họ, khiến thĂȘm sức mạnh để họ đi theo con đường đĂŁ chọn. ThĂąn miệng Ăœ cộng tĂĄc tạo nghiệp lĂ nh hay nghiệp dữ, kết quả tất yếu phải thọ bĂĄo lĂ nh hay dữ lĂ  định nghiệp. ThĂąn miệng riĂȘng lẻ tạo nghiệp lĂ nh hay dữ, kết quả cĂł thể thay đổi được lĂ  bất định nghiệp. VĂ­ như cĂł người Ăœ thĂč ghĂ©t, miệng chửi, tay đĂĄnh một đối phương, sau đĂł họ ăn năn đến xin lỗi, đối phương dĂč cĂł tĂąm lượng rộng rĂŁi đến đĂąu thử hỏi cĂł tha thứ dễ dĂ ng chăng? Ngược lại, cĂł người vĂŽ tĂŹnh hoặc lầm lẫn chửi hay đĂĄnh kẻ khĂĄc, sau đĂł anh biết lỗi đến xin lỗi, chắc chắn nạn nhĂąn kia tha thứ chẳng khĂł.

GIÁC NGỘ TU NGHI&#7878;P THIỆN

Biết thĂąn miệng Ăœ lĂ  chỗ xuất phĂĄt nghiệp, người phĂĄt tĂąm qui y Tam Bảo, trước tiĂȘn phải giữ năm giới. Trong năm giới khĂŽng sĂĄt sanh, khĂŽng trộm cướp, khĂŽng tĂ  dĂąm lĂ  ba điều thiện của thĂąn; khĂŽng nĂłi dối, khĂŽng uống rượu lĂ  hai điều thiện của miệng. Chỉ tu năm điều thiện nĂ y lĂ  đủ cung cĂĄch một người tốt trong xĂŁ hội hiện tại, vĂ  sẽ lĂ m người tốt ở vị lai. Giữ trọn năm giới lĂ  đĂłng cửa ba đường ĂĄc (địa ngục, ngạ quỉ, sĂșc sanh), khĂŽng bao giờ ta bước chĂąn đến ba chỗ nĂ y. Thế nĂȘn, Phật chế năm giới lĂ  phương tiện giảm thiểu đau khổ cho con người trong hiện tại vĂ  vị lai.

Nếu giữ trọn mười điều thiện sẽ được sanh lĂȘn cĂ”i trời, lĂ  con đường lĂ nh cao nhất trong sĂĄu đường. Giữ mười điều thiện lĂ  tu đủ ba nghiệp: nơi thĂąn khĂŽng sĂĄt sanh, khĂŽng trộm cướp, khĂŽng tĂ  dĂąm; nơi miệng khĂŽng nĂłi dối, khĂŽng nĂłi hai lưỡi (nĂłi lật lọng), khĂŽng nĂłi hung dữ, khĂŽng nĂłi thĂȘu dệt; nơi Ăœ bớt tham, bớt sĂąn, khĂŽng tĂ  kiến. TĂ  kiến lĂ  nhận định lệch lạc khĂŽng đĂșng lẽ thật, gốc từ si mĂȘ mĂ  ra. Phật dạy: “Thấy đĂșng nhĂąn quả lĂ  chĂĄnh kiến, thấy sai nhĂąn quả lĂ  tĂ  kiến.” Ba nghiệp biết tu thiện lĂ  tạo nguồn an lạc hiện tại vĂ  mai sau.

Ngược lại, ba nghiệp tạo đầy đủ mười điều ĂĄc lĂ  nhĂąn của địa ngục. Địa ngục lĂ  đường khổ nhất trong sĂĄu đường luĂąn hồi. ĐĂąu đợi xuống địa ngục mới khổ, ngay trong cuộc sống hiện tại nĂ y, nếu người lĂ m đủ mười điều ĂĄc, sẽ thấy một đời hoĂ n toĂ n đau khổ. ChĂșng ta thử nhĂŹn người ưa sĂĄt sanh, trộm cướp, tĂ  dĂąm, nĂłi dối, nĂłi hai lưỡi, nĂłi thĂȘu dệt, tham lam, sĂąn hận, tĂ  kiến cĂł lĂșc nĂ o họ được yĂȘn ổn đĂąu. DĂč họ ở địa vị thế nĂ o trong xĂŁ hội, bản thĂąn vĂ  tĂąm hồn họ vẫn đen tối vĂ  đau khổ dĂ i dĂ i.

Phật dạy người Phật tử tu thập thiện cốt để đầy đủ phước đức, đời sau sanh ra sẽ được thỏa mĂŁn mọi nhu cầu trong cĂ”i d909;c giới nĂ y. Song đĂąy chưa phải lĂ  lối tu giải thoĂĄt, đau khổ cứu kĂ­nh, cần tiến lĂȘn những bậc trĂȘn nữa mới hoĂ n toĂ n giải thoĂĄt đau khổ. Tuy nhiĂȘn, trĂȘn đường tu, trước giữ năm giới, kế tu thập thiện lĂ  cơ bản lĂ  hai nấc thang đầu trĂȘn cĂąy thang giải thoĂĄt. Thiếu nĂł, người tu sẽ chới với khĂŽng thể tiến lĂȘn được.

GIÁC NGỘ DỨT NGHIỆP

Sanh tử gốc do nghiệp dẫn, muốn hết sanh tử phải hết nghiệp. Nghiệp phĂĄt xuất từ thĂąn miệng Ăœ, song chủ động lĂ  Ăœ. Ý cĂł nghĩ lĂ nh dữ, thĂąn miệng mới tạo nghiệp lĂ nh dữ. Ý lặng rồi thĂŹ thĂąn miệng đĂąu cĂČn cơ sở tạo nghiệp. Như chiếc xe lăn bĂĄnh chạy trĂȘn đường, gốc từ chĂĄy xăng nổ mĂĄy, muốn xe dừng thĂŹ phải hĂŁm xăng tắt mĂĄy. CĂĄi chủ động đĂŁ dừng, cĂĄc bộ phận bị động cũng dừng. Người tu quyết giải thoĂĄt luĂąn hồi, sanh tử phải chận đứng Ăœ nghiệp. Khi nĂ o Ăœ nghiệp vắng bặt rồi, chắc chắn mĂŹnh thoĂĄt ly sanh tử. Phương tiện dừng Ăœ nghiệp: Phật dạy cĂł nhiều lối, gọi lĂ  những phĂĄp mĂŽn tu. PhĂĄp mĂŽn tu Thiền, phĂĄp mĂŽn tu Tịnh độ... Mỗi phĂĄp mĂŽn đều nhằm đập chết con khỉ Ăœ thức. Tu thiền phải được định, niệm Phật phải nhất tĂąm. ĐĂŁ định thĂŹ Ăœ thức đĂąu cĂČn hoạt động, nhất tĂąm thĂŹ con khỉ Ăœ đĂŁ chết lịm rồi. VĂŹ thế tu thiền đến Diệt tận định thĂŹ nhập Niết-bĂ n (vĂŽ sanh), niệm Phật đến nhất tĂąm bất loạn thĂŹ thấy Phật A-di-đĂ  đến đĂłn về Cực Lạc. Nhập Niết-bĂ n thĂŹ khĂŽng cĂČn sanh tử, về Cực Lạc thĂŹ hết luĂąn hồi trong lục đạo. Được về Cực Lạc (vui tột) hay nhập Niết-bĂ n (vĂŽ sanh) mới thật lĂ  giải thoĂĄt khổ đau hoĂ n toĂ n miĂȘn viễn. ĐĂąy lĂ  chỗ đức Phật ThĂ­ch-ca nhằm hướng dẫn chĂșng sanh đạt đến.

Muốn niệm Phật được nhất tĂąm phải tin chắc về sự, hoặc nhận thực về lĂœ. Tin chắc về sự, lĂ  tin cĂł cĂ”i Cực Lạc, cĂł đức Phật A-di-đĂ  tiếp dẫn, tin mĂŹnh niệm Phật sẽ được vĂŁng sanh. Nhận thực về lĂœ, lĂ  nhận rĂ” tĂąm tịnh thĂŹ độ tịnh. Phật A-di-đĂ  lĂ  tĂĄnh giĂĄc của mĂŹnh, phương phĂĄp niệm Phật lĂ  một cĂĄch lĂłng lặng cho tĂąm mĂŹnh thanh tịnh, cĂł cĂąu “Tự tĂĄnh Di-đĂ , duy tĂąm Tịnh Độ”. ĐĂŁ đủ lĂČng tin hay nhận thực ấy rồi, hĂ nh giả bắt đầu thực hĂ nh bằng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đĂ . Miệng niệm lỗ tai lắng nghe, phải nghe rĂ” rĂ ng từng tiếng niệm của mĂŹnh, dĂč niệm thầm cũng vậy. Niệm cĂł chuỗi cũng tốt, khĂŽng chuỗi cũng được. Cốt yếu cột tĂąm trong sĂĄu chữ Di-đĂ , khĂŽng cho tĂąm phĂłng chạy ra ngoĂ i. Ban đầu niệm Phật cĂł thời khĂła hay cĂł số chuỗi, sau quen rồi trong bốn oai nghi, trong mọi hoạt động đều nhớ niệm Phật. Chỉ ngoĂ i giờ ngủ ra, tất cả giờ đều lĂ  giờ niệm Phật. Người niệm Phật tin về sự, sau thời niệm Phật đều phĂĄt nguyện hồi hướng sanh về Cực Lạc. CĂ”i Cực Lạc lĂ  mục tiĂȘu qui hướng tuyệt đối của người nĂ y. Đức Phật Di-đĂ  sẽ đến đĂłn họ trước giờ lĂąm chung, khẳng định như vậy. Người niệm Phật nhận thực về lĂœ, hướng thẳng về tĂąm thanh tịnh của mĂŹnh. Như nĂłi “TrĂŹ ThĂ nh Nguyệt Hiện”, hồ nước đĂ o xong, nước hồ lĂłng trong thĂŹ mặt trăng hiện. Nước hồ trong lĂ  tĂąm thanh tịnh, bĂłng trăng hiện lĂ  tĂĄnh giĂĄc hiện bĂ y. TĂĄnh giĂĄc lĂ  Phật Di-đĂ , tĂąm thanh tịnh lĂ  Cực Lạc. Tin về sự lĂ  hướng ra ngoĂ i, nhận thực về lĂœ lĂ  nhắm thẳng tĂąm mĂŹnh. Tuy sự lĂœ trong ngoĂ i cĂł khĂĄc, song trĂȘn phương diện thực hĂ nh chủ yếu được nhất tĂąm. Nhất tĂąm lĂ  mục đĂ­ch duy nhất của phương phĂĄp niệm Phật. DĂč tin sự hay hiểu lĂœ mĂ  niệm Phật khĂŽng nhất tĂąm thĂŹ cũng chẳng đến đĂąu.

Muốn tu thiền được định tĂčy trĂŹnh độ sai khĂĄc cũng cĂł nhiều lối tu khĂĄc nhau. Tổng quĂĄt cĂł hai lối, thiền tiệm thứ vĂ  thiền đốn ngộ.

THIỀN TIỆM THỨ

Thiền tiệm thứ lĂ  lối tu thiền theo thứ lớp tuần tự tiến lĂȘn, cĂł đề mục, cĂł phương phĂĄp, ứng dụng tu phĂĄp nĂ y xong, tiến lĂȘn phĂĄp khĂĄc, cĂł sở chứng sở đắc từ thấp đến cao. Như lối tu quĂĄn Tứ niệm xứ, Minh sĂĄt tuệ (Xem sĂĄch Thiền NguyĂȘn Thủy). Hoặc tu lối Lục diệu phĂĄp mĂŽn. ĐĂąy lĂ  sĂĄu cửa mầu nhiệm tiến vĂ o thiền.

Ban đầu lĂ  Sổ tức, lĂ  lối đếm hơi thở. HĂ­t hơi vĂ o cĂčng, đếm một, thở ra sạch đếm hai. Hoặc cả hai hơi vĂŽ hơi ra đếm một, chĂș tĂąm vĂ o hơi thở vĂŽ vĂ  ra đến đĂąu đều biết, nhớ số từ một đến mười khĂŽng cho lộn. Đến mười đếm lại một, nếu giữa chừng quĂȘn số cũng đếm trở lại một. Cột tĂąm theo hơi thở vĂ  số, vừa dấy nghĩ liền kĂ©o lại với số vĂ  hơi thở. ChĂș Ăœ đừng cố đem hơi xuống rĂșn sanh mệt. Hơi vừa dĂ i vừa nhẹ lĂ  tốt. Đến bao giờ ngồi thiền cả giờ mĂ  chỉ nhớ số vĂ  hơi thở lĂ  thĂ nh cĂŽng.

Sang TĂčy tức lĂ  theo hơi thở. Đến đĂąy bỏ khĂŽng đếm số chỉ duyĂȘn theo hơi thở ra vĂ o, chĂș tĂąm theo hơi thở vĂŽ đến đĂąu biết rĂ” đến đĂł, ra đến đĂąu theo đến đấy. TĂąm cột với hơi thở, vừa cĂł nghĩ khĂĄc kĂ©o lại hơi thở. Theo sĂĄt hơi thở khĂŽng phĂșt giĂąy lơi lỏng, cho đến khi chỉ cĂČn biết hơi thở ra vĂ o khĂŽng nghĩ gĂŹ khĂĄc lĂ  xong phần TĂčy tức.

Tu Chỉ: Dừng tĂąm ở mũi xem hơi thở ra vĂ o, như người gĂĄc cổng nhận diện từng người khĂĄch ra vĂ o khĂŽng sai sĂłt. Trụ tĂąm ở mũi lĂąu sanh hĂŽn trầm liền khởi quĂĄn.

Tu QuĂĄn: QuĂĄn hơi thở ra vĂ o lĂ  tướng vĂŽ thường mỏng manh tạm bợ. Mạng sống lại nương hơi thở mĂ  cĂČn thĂŹ mạng sống cũng mong manh tạm bợ. Quả thật mạng sống chỉ trong khoảng hơi thở ra vĂ o, thở ra mĂ  khĂŽng hĂ­t vĂ o lĂ  chết, cĂł gĂŹ lĂ  chắc chắn lĂąu dĂ i. Thấy được lẽ thật nĂ y lĂ  thấy Đạo. Hoặc quĂĄn hơi thở vĂ o do phổi phồng lĂȘn, hơi thở ra do phổi xẹp xuống. Khi phổi phồng lĂȘn, thĂŹ mũi hĂ­t khĂŽng khĂ­ vĂ o, phổi xẹp xuống thĂŹ đẩy khĂŽng khĂ­ ra. BĂȘn ngoĂ i cĂł khĂŽng khĂ­, bĂȘn trong cĂł phổi, hợp với tĂąm lĂœ tĂĄc động thĂ nh sự thở. Sự thở khĂŽng tự cĂł, đủ duyĂȘn mới cĂł, đĂŁ do duyĂȘn thĂŹ hơi thở khĂŽng thật. Sự thở đĂŁ khĂŽng thật, mạng sống lại nương theo hơi thở mĂ  cĂł thĂŹ mạng sống cũng khĂŽng thật. QuĂĄn rĂ” thấy mạng sống như huyễn hĂła lĂ  thĂ nh cĂŽng.

Tu HoĂ n: QuĂĄn nhiều sanh động, nĂȘn xoay lại tĂŹm xem tĂąm năng quĂĄn nĂ y ở đĂąu? TĂŹm đĂĄo để, khĂŽng thấy nĂł thĂŹ năng sở tự yĂȘn lặng.

Tu Tịnh: chỗ năng sở yĂȘn lặng nĂ y lĂ  tĂąm thanh tịnh. Giờ ngồi thiền xả hết vọng niệm chỉ cĂČn một tĂąm thanh tịnh lĂ  tu tịnh. TĂąm thanh tịnh bền bỉ lĂąu dĂ i lĂ  xong xuĂŽi phần tu Lục diệu phĂĄp mĂŽn (cần đọc quyển Lục Diệu PhĂĄp MĂŽn của TrĂ­ Khải Đại Sư).

THIỀN ĐỐN NGỘ

Thiền đốn ngộ lĂ  lối tu trực ngộ bản tĂąm, gọi lĂ  Kiến tĂĄnh khởi tu. KhĂŽng cĂł đề mục, khĂŽng cĂł phương phĂĄp, khĂŽng cĂł sở chứng sở đắc, chỉ mĂȘ lĂ  chĂșng sanh, ngộ lĂ  Phật nĂȘn nĂłi “Kiến tĂĄnh thĂ nh Phật”. Lối tu nĂ y khĂŽng tu mĂ  tu, khĂŽng chứng mĂ  chứng. Bởi vĂŹ khi hĂ nh giả trực nhận bản tĂąm, biết rĂ” nơi mĂŹnh cĂł cĂĄi khĂŽng sanh khĂŽng diệt, mĂ  từ thuở nĂ o mĂŁi chạy theo cĂĄi tĂąm sanh diệt tạo nghiệp luĂąn hồi. Ngang đĂąy biết rĂ” bộ mặt sanh diệt của nĂł, khĂŽng chạy theo nữa, khi nĂł dấy lĂȘn khĂŽng cho nối tiếp, khĂŽng khởi thĂŹ lặng yĂȘn đừng dấy niệm. Tổ LĂąm Tế nĂłi: “ĐĂŁ khởi chớ tiếp nối, chưa khởi chẳng cần dấy khởi, cĂČn hơn ĂŽng hĂ nh cước mười năm.” Cổ Đức cũng nĂłi: “Chớ sợ niệm khởi chỉ sợ giĂĄc chậm.” Thiền sư VĂŽ Nghiệp suốt đời chỉ dĂčng một cĂąu “chớ vọng tưởng” trả lời tất cả cĂąu hỏi của Thiền khĂĄch.

CĂł người bảo lối tu nĂ y lĂ  “Tảo niệm” (quĂ©t sạch niệm), song khi ngồi thiền quĂ©t, lĂșc tiếp duyĂȘn, xĂșc cảnh thĂąu lại. Cứ quĂ©t rồi thĂąu đến bao giờ mới hết niệm? ĐĂșng thế, nếu người tu chỉ biết quĂ©t khi ngồi thiền, lĂșc ra ngoĂ i thĂŹ thĂąu lại, thật lĂ  gian nan cho lối tu nĂ y. Song ở đĂąy khĂŽng phải vậy, khi ngồi thiền khĂŽng theo niệm, lĂșc ra ngoĂ i thấy cĂĄc phĂĄp đều duyĂȘn hợp hư dối như huyễn hĂła khĂŽng cĂł một phĂĄp đĂĄng lưu tĂąm, thĂŹ lĂ m gĂŹ cĂł thĂąu, vĂ­ như người đi chợ, cĂŽ ta dạo qua cĂĄc cửa hĂ ng chen chĂșc với bao nhiĂȘu người qua lại trĂȘn đường phố, nhưng khĂŽng cĂł vật gĂŹ vĂ  người nĂ o đĂĄng cho cĂŽ để Ăœ. Về đến nhĂ , người nhĂ  hỏi: Đi chợ cĂł thấy gĂŹ khĂŽng? CĂŽ đĂĄp: khĂŽng. CĂł phải thật khĂŽng thấy gĂŹ chăng? Hẳn khĂŽng phải thế, chỉ khĂŽng cĂł gĂŹ quan trọng đĂĄng cĂŽ chĂș Ăœ nĂȘn nĂłi khĂŽng thấy gĂŹ. Khi tiếp duyĂȘn xĂșc cảnh, hĂ nh giả thấy rĂ” cĂĄc phĂĄp như huyễn hĂła, tự nhiĂȘn khĂŽng cĂł gĂŹ đĂĄng để thĂąu. BĂȘn trong cĂł bao nhiĂȘu vọng tưởng dấy lĂȘn đều khĂŽng tiếp tục, lĂąu ngĂ y tự hết.

Lại cĂł người bảo “khĂŽng theo niệm” nhẹ nhĂ ng quĂĄ, nếu người tọa thiền bị hĂŽn trầm nặng nề lĂ m sao đuổi được? Nếu khi hĂŽn trầm nặng nề, hĂ nh giả chấn chỉnh thĂąn, mở mắt sĂĄng mĂ  khĂŽng hết, nĂȘn khởi niệm tĂŹm xem hĂŽn trầm nĂ y xuất phĂĄt từ chỗ nĂ o? Tức lĂ  đặt cĂąu hỏi: “HĂŽn trầm xuất phĂĄt từ chỗ nĂ o?” Theo dĂ”i lĂčng tĂŹm nĂł thĂŹ hĂŽn trầm sẽ tan. Khi gặp tĂĄn loạn mĂŁnh liệt cũng thế. HĂ nh giả nĂȘn đặt cĂąu hỏi: “Vọng tưởng nĂ y xuất phĂĄt từ chỗ nĂ o?” TĂŹm kiếm nĂł một lĂșc sẽ hết. Khi hĂŽn trầm tan, vọng tưởng lặng liền trở lại lối tu “khĂŽng theo niệm” như trước.

Lối tu nĂ y cụ thể hĂła bằng mười bức họa “Chăn TrĂąu Thiền TĂŽng”. MĂŁ Tổ hỏi Thiền sư Thạch Củng: Ông lĂ m gĂŹ đĂąy? Sư đĂĄp: Con chăn trĂąu. MĂŁ Tổ hỏi: Chăn như thế nĂ o? Sư đĂĄp: Mỗi khi nĂł chạy vĂ o ruộng lĂșa thĂŹ lĂŽi mũi kĂ©o lại. MĂŁ Tổ bảo: Thế lĂ  ĂŽng chăn giỏi, chỉ chăn giữ khĂŽng cho trĂąu xĂąm phạm mạ của người lĂ  biết chăn trĂąu. Con trĂąu lĂ  tĂąm, chạy loạn vĂ o lĂșa mạ lĂ  vọng khởi theo sĂĄu trần, dừng lại khĂŽng theo lĂ  lĂŽi mũi kĂ©o về. Cứ thế mĂŁi, giờ ngồi thiền chăn, giờ lĂ m cĂŽng tĂĄc chăn, giờ dạo chơi, tiếp khĂĄch cũng chăn... khĂŽng lơi lỏng. Thế nĂȘn nĂłi, hĂĄi rau, chặt củi, nấu cơm, đều lĂ  thiền. Chăn cho đến khi trĂąu khĂŽng cĂČn, người chăn cũng mất, đĂąy lĂ  hoĂ n toĂ n an định. Thiền sư Lương Giới tĂŹm đến am tranh HĂČa thượng Ẩn Sơn hỏi: HĂČa thượng ở đĂąy lĂ m gĂŹ? Ẩn Sơn đĂĄp: TĂŽi thấy hai con trĂąu bĂĄng lộn nhau, chạy Ăčm xuống sĂŽng, đến nay khĂŽng cĂł tin tức. Sư đắp y đảnh lễ. ĐĂąy lĂ  mục thứ tĂĄm trong mười mục chăn trĂąu nhĂ  thiền, trĂąu vĂ  chăn đều vắng bặt chỉ cĂČn một vĂČng trĂČn trắng. Đến đĂąy Ăœ nghiệp yĂȘn lặng khĂŽng cĂČn lĂŽi kĂ©o vĂ o luĂąn hồi sanh tử nữa. Nếu hĂ ng Nhị thừa đến đĂąy lĂ  nhập Niết-bĂ n, vĂŹ đĂŁ dứt sạch nghiệp sanh tử.

GIÁC NGỘ PHÁP THÂN

Dứt sạch nghiệp mới gọi lĂ  hết sanh tử, chưa phải thĂ nh Phật. Về cĂĄc kinh A-hĂ m đến đĂąy lĂ  chứng Niết-bĂ n (VĂŽ Sanh) của A-la-hĂĄn. Kinh PhĂĄp Hoa Phật bảo lĂ  HĂła thĂ nh khĂŽng phải Bảo sở, về Thiền tĂŽng gọi đĂąy lĂ  đất VĂŽ sanh, lĂ  Tử thủy (nước chết) lĂ  đầu sĂ o trăm trượng, cần phải vượt qua mới được. Căn cứ vĂ o mười mục chăn trĂąu nhĂ  Thiền, chỗ nĂ y mới lĂ  mục thứ tĂĄm chăn vĂ  trĂąu đều mất. Phải tiến lĂȘn mục thứ chĂ­n lĂ  lĂĄ rụng về cội, nước chảy về nguồn mới được, mục nĂ y gọi lĂ  nhập Phật giới hay nhập PhĂĄp thĂąn. Cần vượt lĂȘn mục thứ mười lĂ  buĂŽng lỏng tay vĂ o chợ hay nhập ma giới, mới vuĂŽng trĂČn cĂŽng đức thĂ nh Phật. Dứt sạch nghiệp mới thoĂĄt khỏi đau khổ trong sanh tử cho chĂ­nh mĂŹnh, song chưa đạt PhĂĄp thĂąn, chưa viĂȘn mĂŁn cĂŽng đức cứu khổ chĂșng sanh, cần phải hĂČa quang đồng trần lĂ m lợi Ă­ch tất cả chĂșng sanh mới vẹn trĂČn cĂŽng đức thĂ nh Phật.

THẦM NGỘ LÀ ĐỦ LÒNG TIN

CĂł người nghĩ, hĂ nh giả chưa trực ngộ bản tĂąm tu thiền đốn ngộ được chăng? Trực ngộ bản tĂąm lĂ  chủ yếu của người tu thiền đốn ngộ. Song cĂł người chưa ngộ mĂ  đủ lĂČng tin, tu vẫn được. Xem kinh, đọc luận, hỏi đạo, nghe giảng... thầm nhận mĂŹnh cĂł bản tĂąm bất sanh bất diệt, khẳng định khĂŽng nghi ngờ, người nĂ y tu thiền đốn ngộ được. Thiền sư PhĂĄp Thường đến hỏi MĂŁ Tổ: Thế nĂ o lĂ  Phật? MĂŁ Tổ đĂĄp: Tức tĂąm lĂ  Phật. Sư thầm nhận, đến nĂși Đại Mai cất am tu. Sau MĂŁ Tổ nghe, sai vị Tăng đến thăm dĂČ. Tăng đến hỏi Sư: HĂČa thượng gặp MĂŁ Tổ, được cĂĄi gĂŹ về ở nĂși nĂ y? Sư đĂĄp: MĂŁ Tổ nĂłi với tĂŽi: tức tĂąm lĂ  Phật, tĂŽi bĂšn đến ở nĂși nĂ y. Tăng thưa: Gần đĂąy MĂŁ Tổ lại nĂłi “Phi tĂąm phi Phật.” Sư bảo: Ông giĂ  mĂȘ hoặc người, chưa cĂł ngĂ y xong, mặc ĂŽng phi tĂąm phi Phật, tĂŽi chỉ biết tức tĂąm lĂ  Phật. Vị Tăng trở về thuật lại MĂŁ Tổ. MĂŁ Tổ nĂłi với đại chĂșng: Đại chĂșng, trĂĄi mai đĂŁ chĂ­n. ĐĂąy lĂ  tin nhận mĂŹnh cĂł bản tĂąm chĂąn thật một cĂĄch chắc chắn lĂ  tu thiền đốn ngộ hay chăn trĂąu được.

Hoặc giả nhận rĂ” vọng tưởng hư dối như sương như khĂłi, khĂŽng theo, khĂŽng bị nĂł dẫn, đến khi nĂł tan biến hoĂ n toĂ n, chĂąn tĂąm hiển lộ. NgĂ i Huệ Khả sau khi được Tổ Đạt-ma nhận lĂ m mĂŽn đồ, NgĂ i hỏi Tổ: TĂąm con chưa an, xin Thầy dạy con phương phĂĄp an tĂąm? Tổ Đạt-ma nhĂŹn thẳng vĂ o mặt bảo: Đem tĂąm ra ta an cho. NgĂ i sửng sốt lặng tĂŹm liền đĂĄp: Con tĂŹm tĂąm khĂŽng được. Tổ Đạt-ma bảo: Ta đĂŁ an tĂąm cho ĂŽng. NgĂ i Huệ Khả liền biết lối vĂ o. BĂŹnh nhật chĂșng ta thấy tĂąm tưởng lăng xăng, khi nhĂŹn lại thĂŹ mất bĂłng bặt dạng. Thế lĂ  nĂł hư dối khĂŽng thật. Biết rĂ” nĂł hư dối thĂŹ nĂł khĂŽng cĂČn khả năng lĂŽi cuốn dẫn dắt chĂșng ta nữa. KhĂŽng chạy theo khĂŽng bị dẫn, chẳng an lĂ  gĂŹ? An tĂąm lĂ  nhĂŹn thẳng bộ mặt hư dối của nĂł, nĂł tự tan biến, cĂČn gĂŹ nữa mĂ  động. Thời gian sau, ngĂ i Huệ Khả thưa Tổ Đạt-ma: Nay con bặt hết cĂĄc duyĂȘn. Tổ Đạt-ma bảo: Coi chừng rơi vĂ o đoạn diệt. NgĂ i Huệ Khả thưa: KhĂŽng rơi. Tổ Đạt-ma hỏi: Thế nĂ o khĂŽng rơi? NgĂ i Huệ Khả thưa: RĂ” rĂ ng thường biết, nĂłi khĂŽng thể đến. Tổ Đạt-ma nĂłi: ĐĂąy lĂ  chỗ truyền của chư Phật, chớ cĂł hoĂ i nghi. Thế lĂ , từ nhận biết tĂąm bất an lĂ  hư dối, ngĂ i Huệ Khả chăn nĂł đến lĂșc khĂŽng cĂČn tĂąm dạng lĂ : “bặt hết cĂĄc duyĂȘn” chỉ cĂČn lại cĂĄi: “rĂ” rĂ ng thường biết” lĂ  chỗ chư Phật truyền nhau.

CĂł nhiều người học đạo đĂŁ thầm nhận mĂŹnh cĂł cĂĄi chĂąn thật sẵn đủ, hoặc biết rĂ” vọng tĂąm hư dối, mĂ  vẫn chưa đủ lĂČng tin để tiến tu, họ cứ đĂČi phải ngộ mới tu được. Quả thật họ đang đuổi theo cĂĄi ảo ảnh của danh từ ngộ. ĐĂąu biết rằng tin chắc khĂŽng nghi lĂ  đĂŁ thầm ngộ.

KẾT THÚC

TrĂȘn tiến trĂŹnh tu tập từ phĂ m phu đến Phật quả thật lĂ  thăm thẳm gian truĂąn. Song vĂŹ Ăœ thức được sự đau khổ trong kiếp mĂȘ lầm, sự đọa đầy trong vĂČng lục đạo, chĂșng ta phải nỗ lực tiến tu. Nhờ thắp sĂĄng ngọn đuốc trĂ­ tuệ, chĂșng ta mới thấy đường để thĂĄo gỡ những gĂșt mắc của muĂŽn ngĂ n sợi dĂąy nghiệp bĂĄo. Gỡ sạch những vĂČng dĂąy nghiệp bĂĄo rồi, chĂșng ta được thảnh thơi, tự tại. Song, thĂąn bằng quyến thuộc ta, đồng bĂ o, đồng loại ta, đang bị chĂșng bủa vĂąy bao phủ, đĂ nh lĂČng nĂ o chĂșng ta lại ngĂł lơ. Thế lĂ , vĂ©n ĂĄo xăn quần, chĂșng ta lao mĂŹnh vĂ o cĂ”i trần ai để dĂŹu dắt nhĂąn loại thoĂĄt khỏi vĂČng khổ ải. ĐĂąy lĂ  hĂŹnh ảnh Thiền sư vai mang chiếc đĂŁy, tay cầm bầu rượu, kết bĂš họp bạn với đĂĄm người đầu đường xĂł chợ. Đem ĂĄnh sĂĄng hĂČa lẫn với bụi bặm, quả lĂ  “đầu tro mặt đất” lang thang. CĂł thế mới trĂČn bản nguyện đại bi, mới đủ cĂŽng đức giải thoĂĄt chĂșng sanh ra khỏi sĂŽng mĂȘ bể khổ. Cứu mĂŹnh, độ người được viĂȘn mĂŁn, đều đặt gọn trĂȘn nền tảng giĂĄc ngộ giải thoĂĄt của đạo Phật.

CHỮ “TỨC” TRONG  PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

Người đời vĂ  những người mới học đạo đều nhĂŹn sự vật với tĂ­nh cĂĄch cố định. NĂłi ĂĄc hẳn lĂ  ĂĄc, nĂłi thiện hẳn lĂ  thiện, phải hẳn lĂ  phải, quấy hẳn lĂ  quấy, cĂł hẳn lĂ  cĂł, khĂŽng hẳn lĂ  khĂŽng... họ khĂŽng hiểu nổi lối nĂłi “cĂĄi nĂ y tức lĂ  cĂĄi kia”, trong kinh điển Đại thừa. Họ cho lối nĂłi nĂ y ỡm ờ mờ ĂĄm khĂŽng chấp nhận được. Song với tinh thần Đại thừa Phật giĂĄo, nhĂŹn sự vật thấy rĂ” khĂŽng cĂł bản chất cố định, khĂŽng ngoĂ i nhau. VĂŹ thế, trong kinh nĂłi “Sắc tức lĂ  KhĂŽng, KhĂŽng tức lĂ  Sắc”, hay “Phiền nĂŁo tức Bồ-đề”, hoặc “Sanh tử tức Niết-bĂ n”. Chỉ một chữ “Tức” lĂ m sĂĄng tỏ nghĩa khĂŽng cố định, khĂŽng ngoĂ i nhau của cĂĄc PhĂĄp.

SẮC TỨC LÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC

CĂąu nĂ y xuất phĂĄt từ kinh BĂĄt-nhĂŁ. Chữ Sắc ở đĂąy lĂ  chỉ cho Sắc uẩn. Dưới con mắt đức Phật, thĂąn nĂ y do năm uẩn kết hợp thĂ nh. Sắc uẩn lĂ  phần vật chất; thọ uẩn, tưởng uẩn, hĂ nh uẩn, thức uẩn lĂ  phần tinh thần. Chẳng riĂȘng gĂŹ sắc uẩn tức lĂ  khĂŽng, mĂ  thọ, tưởng, hĂ nh, thức cũng như thế. Bởi vĂŹ bản chất mọi uẩn khĂŽng tự cĂł, do duyĂȘn hĂČa hợp thĂ nh. ĐĂŁ do nhĂąn duyĂȘn hĂČa hợp thĂŹ lĂ m sao cố định đ&#432;ợc. Trước khi nhĂąn duyĂȘn hĂČa hợp nĂł khĂŽng cĂł, sau khi nhĂąn duyĂȘn ly tĂĄn, nĂł cũng khĂŽng, chĂ­nh khi duyĂȘn đang hợp phĂąn tĂ­ch ra cũng khĂŽng cĂł thực thể của nĂł. VĂ­ như nắm tay, trước khi co năm ngĂłn lại, khĂŽng cĂł nắm tay, sau khi buĂŽng năm ngĂłn ra khĂŽng cĂł nắm tay, đang khi co năm ngĂłn lại nếu phĂąn tĂ­ch từng ngĂłn cũng khĂŽng cĂł nắm tay. Thế thĂŹ, nắm tay chỉ lĂ  cĂĄi tĂȘn tạm gọi khi co năm ngĂłn lại, chớ khĂŽng cĂł thực thể cố định của nắm tay. Sắc uẩn khĂŽng cố định nĂȘn nĂłi “sắc tức lĂ  khĂŽng”; khĂŽng, khi đủ duyĂȘn hợp thĂ nh sắc nĂȘn nĂłi “khĂŽng tức lĂ  sắc”, sắc chẳng ngoĂ i tĂ­nh chất khĂŽng cố định, khĂŽng cố định chẳng ngoĂ i sắc, nĂȘn nĂłi “sắc tức lĂ  khĂŽng, khĂŽng tức lĂ  sắc”! Thấu triệt lĂœ cĂĄc phĂĄp tĂčy duyĂȘn biến chuyển, khĂŽng đứng yĂȘn, khĂŽng tự thĂ nh, lĂ  thĂŽng suốt cĂąu “sắc tức lĂ  khĂŽng, khĂŽng tức lĂ  sắc”.

PHIỀN NÃO TỨC BỒ-ĐỀ

CĂąu nĂ y bĂ ng bạc trong cĂĄc kinh Đại thừa. Phiền nĂŁo lĂ  si mĂȘ bực bội đau khổ. Bồ-đề lĂ  giĂĄc ngộ yĂȘn tĩnh an vui. Hai thứ bản chất trĂĄi ngược nhau, tại sao lại nĂłi cĂĄi nĂ y tức cĂĄi kia? Bởi phiền nĂŁo bản chất khĂŽng cố định, khi biết chuyển hoặc biết xả liền thĂ nh Bồ-đề. CĂĄi động khĂŽng ngoĂ i cĂĄi tịnh, dừng động tức lĂ  tịnh. CĂĄi sĂĄng khĂŽng ngoĂ i cĂĄi tối, hết tối tức lĂ  sĂĄng. ChĂșng ta cứ quen chạy tĂŹm cĂĄi giĂĄc ở ngoĂ i cĂĄi mĂȘ, tĂŹm an vui ngoĂ i đau khổ. Sự thật khĂŽng phải thế, hết mĂȘ tức lĂ  giĂĄc, dứt khổ tức lĂ  vui. Thiền sư Tư Nghiệp người Trung Hoa, khi chưa xuất gia lĂ m nghề hĂ ng thịt. Một hĂŽm mổ heo, bỗng dưng ĂŽng thức tỉnh, bỏ nghề đi xuất gia. Khi xuất gia, ĂŽng lĂ m bĂ i kệ:

Tạc nhật Dạ-xoa tĂąm

Kim triĂȘu Bồ-tĂĄt diện

Bồ-tĂĄt dữ Dạ-xoa

Bất cĂĄch nhất điều tuyến.

Dịch:

HĂŽm qua tĂąm Dạ-xoa,

NgĂ y nay mặt Bồ TĂĄt

Bồ-tĂĄt cĂčng Dạ-xoa

KhĂŽng cĂĄch một sợi chỉ.

Biết dừng phiền nĂŁo tức Bồ-đề, khĂŽng phải nhọc nhằn tĂŹm kiếm đĂąu xa. Bồ-đề đĂŁ sẵn cĂł nơi mĂŹnh, do phiền nĂŁo dấy khởi phủ che nĂȘn Bồ-đề bị ẩn khuất. Một khi phiền nĂŁo lắng xuống thĂŹ Bồ-đề hiện tiền. ChĂșng ta ĂŽm đầy một bụng phiền nĂŁo chạy tĂŹm Bồ-đề, dĂč chạy cĂčng ngĂ n sĂŽng muĂŽn nĂși tĂŹm vẫn khĂŽng thấy Bồ-đề. Chỉ khĂ©o ngồi yĂȘn lại cho phiền nĂŁo lắng xuống thĂŹ Bồ-đề hiện tiền.

Như khi trời đổ mưa to, nước mưa từ hư khĂŽng mưa xuống lĂ  trong sạch, song rơi đến mặt đất lĂŽi cuốn bụi bặm bĂčn đất chảy xuống ao hồ, thấy toĂ n nước đục. CĂł người cần nước trong xĂ i, ra ao hồ nhĂŹn thấy toĂ n nước đục khĂŽng biết lĂ m sao. Gặp người thĂŽng minh bảo: nước đục tức lĂ  nước trong, anh ta ngẩn ngơ khĂŽng hiểu, ĂŽng nĂ y bảo: Anh cứ gĂĄnh về đổ vĂ o lu, lấy Ă­t phĂšn quậy nhiều vĂČng cho nước cuồn lộn lĂȘn, rồi để yĂȘn vĂ i tiếng đồng hồ, cặn bụi lắng xuống nước sẽ trong. Anh chĂ ng kia lĂ m đĂșng như người thĂŽng minh dạy, kết quả anh được nước trong.

Bởi vĂŹ nước mưa nguyĂȘn lĂ  trong, do bụi đất cuốn theo vĂ  hĂČa tan trong nước nĂȘn trở thĂ nh đục. Kẻ khờ thấy nước đục khĂĄc với nước trong, tưởng chừng như nước trong ngoĂ i nước đục mĂ  cĂł, nĂȘn khi cần nước trong thấy nước đục lĂ  thất vọng, khĂŽng biết phải tĂŹm nước trong ở đĂąu. Người trĂ­ biết nước mưa vẫn trong, do bụi đất hĂČa lẫn nĂȘn đục, chỉ cần lĂłng bụi đất trở thĂ nh nước trong. VĂŹ thế, khi thấy nước đục, họ vẫn quả quyết nĂłi “nước đục tức lĂ  nước trong”. Chữ tức ở đĂąy để chỉ nước trong khĂŽng cố định trong, do duyĂȘn hợp thĂ nh đục; nước đục khĂŽng cố định đục, do duyĂȘn lĂłng thĂ nh trong. Nước đục khĂŽng ngoĂ i nước trong mĂ  cĂł; nước trong khĂŽng thể bỏ nước đục mĂ  tĂŹm. Bồ-đề vĂ  phiền nĂŁo cũng thế, phiền nĂŁo khĂŽng cố định phiền nĂŁo, do duyĂȘn hợp thĂ nh phiền nĂŁo, Bồ-đề khĂŽng cố định Bồ-đề, do duyĂȘn lĂłng sạch thĂ nh Bồ-đề. Bồ-đề khĂŽng ngoĂ i phiền nĂŁo mĂ  cĂł, phiền nĂŁo khĂŽng ngoĂ i Bồ-đề mĂ  sanh. Bỏ phiền nĂŁo chạy tĂŹm Bồ-đề như người lưới cĂĄ trĂȘn khĂŽng, bẫy chim đĂĄy biển, rốt cuộc chỉ phĂ­ cĂŽng vĂŽ Ă­ch.

Nước đục lĂłng thĂ nh nước trong, trẻ con thấy mới được nước trong, người lớn biết nước trước nguyĂȘn trong, nay lĂłng trở lại trạng thĂĄi cũ, cĂł gĂŹ lĂ  “được”. Nếu trước nước vốn đục, nay lĂłng mấy cũng khĂŽng trở thĂ nh trong. Cũng vậy, nếu tất cả chĂșng sanh khĂŽng cĂł sẵn tĂĄnh giĂĄc, dĂč cĂł tu hĂ nh đến đĂąu cũng khĂŽng thể giĂĄc được. Chư Phật, Bồ-tĂĄt trước cũng lĂ  chĂșng sanh, cĂĄc NgĂ i tu hĂ nh đĂŁ giĂĄc ngộ được, tất cả chĂșng ta nếu biết tu hĂ nh chắc chắn sẽ giĂĄc ngộ như cĂĄc NgĂ i. VĂŹ thế, chư Phật thấy rĂ” tất cả chĂșng sanh đều cĂł tĂĄnh giĂĄc, vĂŹ vĂŽ minh phiền nĂŁo che đậy trở thĂ nh mĂȘ, một khi khĂ©o tu lĂłng sạch vĂŽ minh phiền nĂŁo liền trở lại giĂĄc. Từ mĂȘ sang giĂĄc, chĂșng sanh tưởng lĂ  mới được, nĂȘn thấy cĂł chứng cĂł đắc. Chư Phật biết rĂ” chỉ trở lại tĂĄnh giĂĄc sẵn cĂł, nĂȘn nĂłi vĂŽ chứng vĂŽ đắc. VĂŽ chứng vĂŽ đắc khĂŽng cĂł nghĩa lĂ  khĂŽng ngơ, mĂ  khĂŽng cĂČn mĂȘ, hằng sống lại tĂĄnh giĂĄc của mĂŹnh. CĂĄi đĂŁ sẵn cĂł, trở lại với nĂł cĂł gĂŹ thĂȘm bớt mĂ  nĂłi chứng đắc. Tuy khĂŽng chứng đắc mĂ  hằng giĂĄc chẳng mĂȘ, lĂ m sao nĂłi khĂŽng ngơ được?

Biết trong nước đục vốn lĂ  nước trong, nước đục khĂ©o lĂłng sẽ thĂ nh nước trong, đĂł lĂ  cĂĄi thấy của người thĂŽng minh. Đức Phật cũng thế, NgĂ i thấy tất cả chĂșng sanh đều sẵn cĂł tĂĄnh giĂĄc, dĂč đang mĂȘ tĂĄnh giĂĄc cũng khĂŽng mất, nĂȘn nĂłi “Ta thấy tất cả chĂșng sanh đĂŁ thĂ nh Phật”. Lại cĂł khi NgĂ i nĂłi “Ta lĂ  Phật đĂŁ thĂ nh, cĂĄc ĂŽng lĂ  Phật sẽ thĂ nh”. Bởi chĂșng ta đĂŁ sẵn tĂĄnh giĂĄc, một khi thức tỉnh huĂąn tu tĂĄnh giĂĄc sẽ hiển hiện, việc nĂ y khĂŽng cĂł gĂŹ lĂ  lạ. CĂąu Phật nĂłi trước cĂł vẻ khĂł hiểu, đĂŁ thĂ nh Phật tại sao chĂșng sanh vẫn mĂȘ muội loạn cuồng. Bởi vĂŹ Phật cũng lĂ  một chĂșng sanh như chĂșng ta, NgĂ i khĂ©o lĂłng vĂŽ minh phiền nĂŁo chĂŹm lặng trở thĂ nh giĂĄc ngộ. Nếu khĂŽng cĂł tĂĄnh giĂĄc sẵn, dĂč NgĂ i tu đến muĂŽn a-tăng-kỳ cũng khĂŽng ngộ, nĂłi gĂŹ ba a-tăng-kỳ. Thấy chĂșng sanh sẵn cĂł tĂĄnh giĂĄc, nĂłi “đĂŁ thĂ nh Phật” thĂŹ cĂł lỗi gĂŹ? CĂł sẵn tĂĄnh giĂĄc mĂ  cứ quĂȘn, mải tạo nghiệp đi trong sanh tử luĂąn hồi, cĂ ng luĂąn hồi cĂ ng tạo nghiệp, nghiệp mĂȘ chồng chất nĂȘn thĂ nh mĂȘ muội loạn cuồng. Một phen thức tỉnh, dừng bước luĂąn hồi, nghiệp mĂȘ băng hoại, mới tin “ta lĂ  Phật sẽ thĂ nh”.

SANH TỬ TỨC NIẾT-BÀN

ChĂșng sanh mải trĂŽi lăn, lặn hụp trong biển luĂąn hồi sanh tử, dừng sanh tử được an lĂ nh lĂ  Niết-bĂ n. Sanh tử lĂ  khổ đau. Niết-bĂ n lĂ  an lạc. Sự khổ đau an lạc dường như hai mĂ  khĂŽng phải hai. Như người đi trĂȘn vai gĂĄnh một gĂĄnh nặng đi xa, họ cảm nghe nhọc nhằn vĂŽ kể, để gĂĄnh nặng xuống nghỉ, họ cảm thấy nhẹ bổng an vui. CĂĄi nhọc nhằn vĂ  an vui người nĂ y cảm giĂĄc được, dường như hai mĂ  khĂŽng phải hai. Chẳng qua, khi gĂĄnh nặng cĂČn đĂš trĩu trĂȘn vai lĂ  đau khổ, để gĂĄnh nặng xuống thĂŹ an vui. Do hết khổ gọi lĂ  vui, chớ khĂŽng cĂł cĂĄi vui từ đĂąu đem đến. Niết-bĂ n vĂ  sanh tử cũng thế, do hết sanh tử gọi lĂ  Niết-bĂ n, khĂŽng cĂł Niết-bĂ n ngoĂ i sanh tử.

ChĂșng sanh tạo nghiệp, lại do nghiệp dẫn chĂșng sanh loanh quanh lẩn quẩn, khĂŽng cĂł ngĂ y cĂčng. ChĂșng ta vĂŹ sự sống tạo nghiệp, nghiệp lại dẫn chĂșng ta qua lại trong tam giới, lĂȘn xuống trong sĂĄu đường, khĂŽng biết bao giờ ra khỏi. Nếu khĂ©o tu dừng nghiệp thĂŹ bĂĄnh xe luĂąn hồi sẽ theo đĂł mĂ  dừng. Theo nghiệp trĂŽi lăn lĂ  sanh tử, dừng nghiệp lặng yĂȘn lĂ  Niết-bĂ n. VĂŹ thế, cần được Niết-bĂ n, chĂșng ta phải dừng nghiệp. CĂł nhiều người tưởng Niết-bĂ n lĂ  một cảnh giới xa xĂŽi đẹp đẽ như cảnh Cực Lạc chẳng hạn. Họ cố cầu xin Phật, Bồ-tĂĄt cho họ được Niết-bĂ n hoặc tĂŹm minh sư đạt đạo nhờ truyền phĂĄp hay điểm đạo cho họ được Niết-bĂ n. Họ khĂŽng ngờ sạch nghiệp tức lĂ  Niết-bĂ n. Nghiệp lại do mĂŹnh tạo, chỉ cần tĂŹm ra động cơ chủ yếu tạo nghiệp, bắt nĂł dừng lại thĂŹ Niết-bĂ n hiện tiền. TĂąm thức lăng xăng của chĂșng ta lĂ  chủ động tạo nghiệp, khĂ©o tu dừng lặng nĂł thĂŹ Niết-bĂ n xuất hiện. Dừng ngắn thĂŹ được Niết-bĂ n ngắn, dừng lĂąu thĂŹ được Niết-bĂ n lĂąu, dừng hẳn thĂŹ được Niết-bĂ n viĂȘn mĂŁn.

Sở dĩ cĂł Niết-bĂ n lĂ  do đối với sanh tử mĂ  lập, một khi sanh tử dứt sạch thĂŹ Niết-bĂ n cũng khĂŽng cĂČn chỗ đứng. Kinh cĂł cĂąu “Niết-bĂ n sanh tử đồng như hoa đốm trong khĂŽng”. ĐĂŁ lĂ  hai danh từ đối đĂŁi mĂ  lập thĂŹ đều khĂŽng thật. KhĂŽng cĂł sanh tử thĂŹ khĂŽng cĂł Niết-bĂ n; khĂŽng cĂł Niết-bĂ n thĂŹ nĂłi gĂŹ lĂ  sanh tử. Như khĂŽng cĂł khổ thĂŹ khĂŽng cĂł vui, khĂŽng cĂł vui thĂŹ lĂ m sao biết khổ. Niết-bĂ n vĂ  sanh tử khĂŽng riĂȘng lập vĂ  khĂŽng ngoĂ i nhau, nĂȘn nĂłi “Sanh tử tức Niết-bĂ n”.

Sẽ cĂł người bảo, sanh tử lĂ  do nghiệp dẫn lĂ  phĂĄp sanh diệt, hư dối lĂ  phải, Niết-bĂ n lĂ  dứt sạch nghiệp lĂ  chĂąn thật, tại sao lại nĂłi hư dối? Quả thật Niết-bĂ n khĂŽng hư dối, song danh từ Niết-bĂ n lĂ  hư dối. Thực thể Niết-bĂ n khĂŽng cĂł hĂŹnh dĂĄng để diễn tả, khĂŽng cĂł ngĂŽn ngữ để nĂłi bĂ n, nĂł vượt ngoĂ i phĂĄp đối đĂŁi thế gian. NgĂŽn ngữ chĂșng ta sử dụng để diễn đạt tĂąm tư đều nằm trong đối đĂŁi khĂŽng thật. DĂč lĂ  ngĂŽn ngữ Niết-bĂ n, cũng chỉ lĂ  lớp mĂąy phủ nĂși, chớ khĂŽng phải lĂ  nĂși, đứng về nĂși mĂ  nhĂŹn thĂŹ nĂł lĂ  cĂĄi hư dối bĂȘn ngoĂ i khĂŽng đĂĄng kể. Thế nĂȘn nĂłi “như hoa đốm trong hư khĂŽng” mĂ  thực thể chẳng phải khĂŽng.

THIỆN TỨC ÁC, ÁC TỨC THIỆN, PHẢI TỨC QUẤY, QUẤY TỨC PHẢI

Ta cĂł thể nĂłi rộng ra “thiện tức ĂĄc, ĂĄc tức thiện” hay “phải tức quấy, quấy tức phải”... chẳng hạn. Bởi vĂŹ, dĂč lĂ  việc thiện mĂ  chĂșng ta cố chấp liền trở thĂ nh ĂĄc. VĂ­ như người theo tĂŽn giĂĄo A tự thấy lĂ  hay lĂ  lợi Ă­ch, liền khuyĂȘn bĂ  con thĂąn quyến cĂčng theo với mĂŹnh. Nếu những người thĂąn khĂŽng bằng lĂČng theo, tức thĂŹ sanh tĂąm giận ghĂ©t. Thế khĂŽng phải chấp thiện thĂ nh ĂĄc lĂ  gĂŹ? Tuy lĂ  việc ĂĄc, chĂșng ta Ăœ thức được liền bỏ lĂ  trở thĂ nh thiện. Như anh A nghe theo bạn bĂš lĂ m việc trộm cắp, gặp người tốt nhắc nhở giải thĂ­ch cho A biết việc lĂ m ấy lĂ  xấu xa, tội lỗi, A liền bỏ nghề trộm cắp. Quả thật ĂĄc biết bỏ liền trở thĂ nh thiện.

Phải quấy cũng khĂŽng cĂł tiĂȘu chuẩn cố định, nếu ta chấp vĂ o cĂĄi phải của mĂŹnh liền trở thĂ nh quấy. Bao nhiĂȘu việc cĂŁi vĂŁ chửi lộn đĂĄnh lộn đĂąu khĂŽng phải do chấp phải mĂ  ra. CĂł người nĂ o sau khi đĂĄnh lộn, bị người hỏi, dĂĄm nhận lĂ  tĂŽi quấy đĂąu. Mọi người đều thấy mĂŹnh phải nĂȘn cĂł ẩu đả. Ngược lại, người Ăœ thức việc lĂ m của mĂŹnh lĂ  quấy tự bỏ, liền trở thĂ nh phải. Những người lầm đường lạc lối, khi họ thức tỉnh xoay trở lại đường lĂ nh liền trở thĂ nh người tốt. Mọi sự việc trong đối đĂŁi đều như thế cả, khĂŽng cĂł một sự việc gĂŹ lĂ  cố định. CĂĄi phải của A khĂŽng phải lĂ  cĂĄi phải của B. CĂĄi phải của nhĂłm C khĂŽng phải lĂ  cĂĄi phải của nhĂłm D. CĂĄi phải của xứ nĂ y khĂŽng phải lĂ  cĂĄi phải của xứ khĂĄc. CĂĄi phải của thời gian trước khĂŽng phải lĂ  cĂĄi phải của thời gian sau. Thế thĂŹ, lấy đĂąu lĂ m tiĂȘu chuẩn mĂ  chấp phải quấy! Chấp chặt phải quấy lĂ  ngu xuẩn lĂ  khổ đau. Biết buĂŽng xả linh động tĂčy thời lĂ  người khĂŽn ngoan an ổn.

CHỮ TỨC ĐỐI TRONG VẠN VẬT

Ta đi xa hơn ra ngoại giới, với mọi sự vật dĂčng chữ TỨC vẫn đĂșng lẽ thật. Như nĂłi “thể lỏng tức lĂ  thể hơi” hoặc nĂłi “thể hơi tức lĂ  thể lỏng”. Nước lĂ  thể lỏng đun nĂłng bốc lĂȘn thĂ nh hơi, hơi nước lĂȘn cao gặp khĂ­ lạnh đọng lại rơi xuống thĂ nh nước thể lỏng. Cũng cĂł thể nĂłi “thể lỏng tức lĂ  thể cứng, thể cứng tức lĂ  thể lỏng”. Nước lĂ  thể lỏng khi để vĂ o tủ lạnh cĂŽ đọng thĂ nh nước đĂĄ thể cứng; nước đĂĄ đem để ngoĂ i nắng tan thĂ nh nước thể lỏng. NgoĂ i nước ra, cĂĄc loại chĂŹ, đồng, sắt..., từ thể cứng để vĂ o lĂČ nấu sức nĂłng lĂȘn đến 1.000 0C trở lĂȘn sẽ chảy thĂ nh thể lỏng, thể lỏng đĂł đem ra để nguội trở thĂ nh cứng... VĂŹ thế, thấu hiểu chữ TỨC lĂ  thấy đĂșng lẽ thật, cũng lĂ  thấy tột cĂčng lĂœ tĂčy duyĂȘn chuyển biến của cĂĄc phĂĄp. MĂŽn hĂła học hiện tại chứng minh sự vật khĂŽng t̘1; tồn tại, khĂŽng cĂł cĂĄ thể độc lập, khĂŽng giữ nguyĂȘn một vị trĂ­. Một vật thể nĂ y bị thay đổi chất liệu liền biến thĂ nh vật thể khĂĄc. Thế nĂȘn, con người cĂł thể dĂčng cĂĄc thứ nguyĂȘn liệu khoa học đĂŁ tĂŹm được, biến chế thĂ nh những sản phẩm hữu Ă­ch cung ứng cho nhĂąn loại cần dĂčng. Mọi vật thể kết hợp khĂŽng phải đơn thuần, mĂ  sự cấu tạo rất phức tạp. Biết được sự cấu tạo của vật thể, người ta sẽ tạo điều kiện biến nĂł thĂ nh những vật theo nhu cầu của mĂŹnh. Sự biến hĂła đổi thay trong mỗi vật thể đĂŁ lĂ  bằng chứng hĂčng hồn về lĂœ khĂŽng cố định của sự vật. Thấy được lĂœ khĂŽng cố định lĂ  thấy tột bản tĂĄnh của sự vật. Những nguyĂȘn tố hợp thĂ nh sự vật tuy nhiều song chẳng lắm, do sự kết hợp tăng giảm biến thĂ nh muĂŽn vĂ n sự vật cĂł đủ thiĂȘn hĂŹnh vạn trạng trĂȘn thế gian nĂ y. Quả lĂ  trong vật nĂ y cĂł những nguyĂȘn tố của vật khĂĄc, trong vật khĂĄc cĂł những nguyĂȘn tố của vật nĂ y. Thế nĂȘn, nĂłi “A tức B, B tức A” lĂ  đĂșng lẽ thật đĂąu cĂł sai ngoa.

HIỆU DỤNG CHỮ TỨC TRONG SỰ TU HÀNH

Hiểu rĂ” chữ TỨC cĂł cĂŽng hiệu rất lớn trong việc tu hĂ nh. A tức lĂ  B, thĂŹ A khĂŽng thật A, B tức lĂ  A thĂŹ B khĂŽng thật B. MuĂŽn vật tĂčy duyĂȘn thay hĂŹnh đổi dạng, cĂł cĂĄi gĂŹ cố định mĂ  chấp. Bệnh lớn của con người lĂ  cố chấp, chấp cĂ ng nặng thĂŹ khổ cĂ ng nhiều. Mỗi người chấp theo cĂĄi thấy, cĂĄi nghe, cĂĄi sở học, cĂĄi suy nghĩ, cĂĄi tưởng tượng của mĂŹnh hoặc của nhĂłm người thĂąn mĂŹnh, nếu người khĂĄc thấy đồng cĂĄi thấy của mĂŹnh, nhĂłm mĂŹnh thĂŹ thĂąn; thấy khĂĄc cĂĄi thấy cĂĄi chấp của mĂŹnh, nhĂłm mĂŹnh thĂŹ thĂč. ĐĂąy lĂ  gốc đấu tranh gĂąy ra đau khổ cho nhĂąn loại. Sự vật lĂ  một dĂČng biến thiĂȘn, mĂ  mĂŹnh nhĂŹn theo cĂĄi chấp cố định thĂŹ lĂ m sao thấy được lẽ thật, lĂ m sao đem lại sự an bĂŹnh. Con người khủng khiếp hĂŁi hĂčng khi nghe tin mĂŹnh sắp chết. Sợ chết vĂŹ chấp thĂąn lĂ  chắc thật lĂąu dĂ i, bỗng dưng nĂł sắp tan hoại nĂȘn hoảng sợ. Sự nghiệp tĂ i sản cũng chấp cố định bền lĂąu, xảy ra tai nạn hỏa hoạn, binh đao, trộm cướp... khiến phải tan hoại, người ta sẽ đau khổ vĂŽ hạn. TĂŹnh cảm bạn bĂš, thĂąn hữu..., chấp mĂŁi mĂŁi khĂŽng đổi thay; một khi gặp cảnh đổi thay, người ta sẽ thảm sầu vĂŽ kể.

Người nắm vững nguyĂȘn tắc “cĂĄc phĂĄp khĂŽng cố định”, mọi cố chấp trĂȘn từ từ tan rĂŁ, khổ đau, sầu thảm, hoảng sợ, hĂŁi hĂčng dần dần tan biến theo mĂąy khĂłi. ThĂąn sắp chết, sự nghiệp tan vỡ, bạn bĂš chia lĂŹa... cũng lĂ  lẽ đương nhiĂȘn trong dĂČng biến thiĂȘn của vạn vật. ChĂșng ta chưa can đảm cười trước cảnh ấy, song cũng can đảm nhĂŹn chĂșng trĂŽi qua với tĂąm niệm an bĂŹnh. Bởi người tu hĂ nh lĂ  huĂąn tập phĂĄt minh những lẽ thật ấy. Sở dĩ hiện nay cĂł lắm người tu khi gặp hoĂ n cảnh tang thương biến cố liền hoảng sợ bất an, do họ khĂŽng phĂĄt minh những lẽ thật nĂ y. Họ nghĩ rằng tụng kinh nhiều, niệm Phật lắm, cĂșng kĂ­nh hậu lĂ  đầy đủ cĂŽng phu tu hĂ nh. Tu bằng cĂĄch nhắm ra ngoĂ i, chạy theo hĂŹnh thức lĂ m sao đạt được lẽ thật, mĂ  lĂ m suy giảm khổ đau. Họ cĂ ng tu thĂŹ chấp cĂ ng nặng, chấp nặng thĂŹ đau khổ cĂ ng nhiều. Thế lĂ , tu chỉ tăng khổ, chớ khĂŽng hết khổ.

A tức lĂ  B, thĂŹ A khĂŽng thật lĂ  A, B tức lĂ  A, thĂŹ B khĂŽng thật lĂ  B, hai bĂȘn đều khĂŽng cố định. ĐĂŁ khĂŽng cố định thĂŹ lĂ m sao dĂĄm bảo lĂ  thật. Hai bĂȘn đều khĂŽng thật thĂŹ khĂŽng thể thĂ nh hai. Bởi khĂŽng thể thĂ nh hai lĂ  tiến thẳng vĂ o “PhĂĄp mĂŽn bất nhị”. Thấy vạn vật đối đĂŁi khĂŽng thật, cĂČn gĂŹ để lĂœ giải luận bĂ n. Vừa phĂĄt ra ngĂŽn ngữ lĂ  nằm trong đối đĂŁi, đối đĂŁi thuộc hai bĂȘn. Muốn chỉ chỗ cứu kĂ­nh của “PhĂĄp mĂŽn bất nhị”, ngĂ i Duy-ma-cật chỉ cĂČn cĂĄch lĂȘn tĂČa ngồi lặng thinh. ChĂ­nh thế mĂ  Bồ-tĂĄt Văn-thĂč tĂĄn thĂĄn khĂŽng tiếc lời.

THẤY THÂN GIẢ DỐI CÓ PHẢI QUAN NIỆM CHÁN ĐỜI CHĂNG?

Đa số người nghe trong kinh Phật nĂłi “xem thĂąn như huyễn hĂła” cho lĂ  tĂąm trạng bi quan, yếm thế. TrĂĄi lại, nhĂ  Phật thấy thĂąn như huyễn hĂła lĂ  sức mạnh để lĂ m lợi Ă­ch chĂșng sanh. Như nĂłi “Bồ-tĂĄt lấy thĂąn như huyễn độ chĂșng hữu tĂŹnh như huyễn”, bởi Bồ-tĂĄt thấy thĂąn hĂŹnh khĂŽng thật nĂȘn sẵn sĂ ng lăn xả vĂ o lĂ m việc lợi Ă­ch chĂșng sanh, dĂč gặp khĂł khăn nguy hiểm cũng khĂŽng ngĂĄn sợ, vĂŹ thĂąn như huyễn cĂł mN45;t cũng khĂŽng gĂŹ quan trọng. Thấy chĂșng hữu tĂŹnh như huyễn nĂȘn độ chĂșng sanh mĂ  khĂŽng chấp nhĂąn ngĂŁ. Thấy thĂąn như huyễn, khiến người ta mạnh mẽ lĂȘn, khĂŽng cĂČn hĂŁi sợ, trước vạn vật biến thiĂȘn mĂ  tĂąm hồn mĂŹnh vẫn an nhiĂȘn tự tại... Ta hĂŁy nghe bĂ i kệ của Thiền sư Vạn Hạnh:

ThĂąn như điện ảnh hữu hoĂ n vĂŽ,

Vạn mộc xuĂąn vinh thu hựu khĂŽ.

Nhậm vận thạnh suy vĂŽ bố Ășy,

Thạnh suy như lộ thảo đầu phĂŽ.

Dịch:

ThĂąn như bĂłng chớp cĂł rồi khĂŽng

CĂąy cỏ xuĂąn tươi, thu đượm hồng

Mặc cuộc thạnh suy khĂŽng sợ hĂŁi

Thạnh suy như cỏ hạt sương đĂŽng.

Biết bao lời Phật, Ăœ Tổ trong cĂĄc kinh, luận thấy thĂąn như huyễn đạt tinh thần vĂŽ Ășy như thế.

THẤY THÂN HUYỄN HÓA LÀ ĐÚNG LẼ THẬT

Phật giĂĄo nĂłi thĂąn nĂ y do tứ đại hĂČa hợp thĂ nh nĂȘn khĂŽng chắc thật bền lĂąu. Tứ đại lĂ  đất, nước, giĂł, lửa, bốn thứ nĂ y bủa khắp trời đất vạn vật nĂȘn nĂłi lĂ  đại. Chất cứng trong thĂąn lĂ  đất, chất ướt lĂ  nước, chất động lĂ  giĂł, chất ấm lĂ  lửa. Bốn chất nĂ y thiếu một thĂŹ thĂąn phải hoại. Song bốn chất nĂ y luĂŽn luĂŽn thĂč địch chống đối nhau. Lửa khĂŽng ưa nước, đất khĂŽng ưa giĂł, ngược lại cũng thế. Khi lửa thạnh hơn nước sanh nĂłng bức đau đầu; giĂł thạnh hơn đất sanh nhọc nhằn đau nhức. ChĂșng hằng chống đ̔9;i nhau, nĂȘn lĂșc nĂ o thĂąn nĂ y cũng sẵn sĂ ng bệnh hoạn hay chực tan rĂŁ. Ta khĂ©o điều hĂČa thĂŹ thĂąn cĂČn an ổn, khĂŽng khĂ©o chĂșng sẽ băng hoại. Sự băng hoại của thĂąn thật bất định, một mạch mĂĄu bể, một cĂĄi sẩy chĂąn, một luồng giĂł độc, một viĂȘn đạn xuyĂȘn qua... lĂ  mất mạng. Sự hĂČa hợp của tứ đại thật lĂ  khĂł khăn khĂŽng bảo đảm lĂąu dĂ i, vĂŹ chĂșng mang bản chất thĂč địch nhau. Như bốn người thĂč địch nhau chung lĂ m một cĂŽng tĂĄc, nếu thiếu một trong bốn người thĂŹ cĂŽng tĂĄc phải đổ vỡ. Thử hỏi, chĂșng ta dĂĄm bảo đảm bốn người nĂ y hĂČa hợp lĂąu dĂ i chăng? VĂ  cĂŽng tĂĄc họ đang lĂ m cĂł thể thĂ nh tựu viĂȘn mĂŁn khĂŽng? Thật khĂŽng ai dĂĄm hứa điều đĂł hết, vĂŹ thấy rĂ” tĂ­nh chất thĂč địch của chĂșng. Sự hĂČa hợp của bốn kẻ thĂč, dĂč ai ngu tối mấy cũng biết rất tạm bợ mỏng manh. Thế thĂŹ, nĂłi thĂąn tạm bợ hư dối lĂ  nĂłi đĂșng sự thật khĂŽng cĂČn nghi ngờ gĂŹ nữa.

Chẳng những sự hĂČa hợp của chĂșng rất tạm bợ mỏng manh, chĂ­nh khi đang hĂČa hợp, chĂșng cần phải vay mượn tứ đại bĂȘn ngoĂ i hỗ trợ mới được tồn tại. Sự vay mượn tứ đại bĂȘn ngoĂ i bị thiếu hay ngưng trệ, nguy cơ tan vỡ xuất hiện ngay. Lỗ mũi chĂșng ta đang hĂ­t thở lĂ  mượn giĂł, miệng ta uống nước, ăn cơm lĂ  mượn nước, mượn đất vĂ  lửa. Sự vay mượn ấy được thuận chiều ổn thỏa thĂŹ thĂąn an vui khỏe mạnh. Sự vay mượn bị trở ngại khĂł khăn lĂ  thĂąn đau đớn nguy kịch. Quả thật cuộc sống an vui hạnh phĂșc lĂ  do sự vay mượn vĂ  tống trả một cĂĄch an ổn điều hĂČa, ngược lại lĂ  sự sống bất hạnh. Sự sống cĂČn lĂ  nhờ vay mượn, lĂ m sao dĂĄm nĂłi thĂąn nĂ y lĂ  thật, lĂ  lĂąu dĂ i?

Thế mĂ  người đời bị si mĂȘ nhiều kiếp, cứ nghĩ thĂąn nĂ y lĂ  thật, lĂ  lĂąu bền, lĂ  của ta. Thậm chĂ­ đất nước giĂł lửa bĂȘn ngoĂ i lĂ  của thiĂȘn nhiĂȘn trời đất, mĂ  một khi mượn vĂ o xĂ i, liền chấp của mĂŹnh. Như lỗ mũi vừa mượn khĂŽng khĂ­ đem vĂ o chưa đến một phĂșt, thở trả ra liền nĂłi hơi của tĂŽi. Nước, đất cũng chấp như vậy. Một vật gĂŹ vừa qua thĂąn nĂ y đều nĂłi lĂ  của tĂŽi, khĂŽng ngờ cĂĄi tĂŽi nĂ y cũng vay mượn nốt. Bao nhiĂȘu đĂł đủ thấy, cĂĄi si mĂȘ chấp ngĂŁ của chĂșng ta th&#7853;t quĂĄ nặng nề. VĂŹ chấp ngĂŁ nĂȘn mĂč quĂĄng, khĂŽng thấy lẽ thật. Bởi vậy nĂȘn nghe nĂłi thĂąn nĂ y như huyễn hĂła liền hằn học chống đối ngay.

Nếu thĂąn nĂ y lĂ  thật, phải cĂł bảo đảm tồn tại trong thời gian bao lĂąu. Quả thật khĂŽng dĂĄm bảo đảm, lĂ m sao nĂłi thĂąn nĂ y lĂ  thật được. CĂł người ra chợ mua hĂ ng, thấy mĂłn hĂ ng vừa Ăœ muốn mua, song cĂČn ngại đồ giả. ChĂ ng ta hỏi cĂŽ bĂĄn hĂ ng: ĐĂąy lĂ  đồ thật hay đồ giả? CĂŽ bĂĄn hĂ ng đĂĄp: Đồ thật! TĂŽi bảo đảm ĂŽng đồ tốt lĂąu bền... cĂł thật mới dĂĄm bảo đảm, nếu giả đĂąu dĂĄm bảo đảm, trừ kẻ bướng. ThĂąn nĂ y đĂŁ khĂŽng, cĂł ai dĂĄm bảo đảm, nĂłi giả dối lĂ  hợp lĂœ cĂČn gĂŹ nghi ngờ. Song nĂłi giả dối hay huyễn hĂła để chỉ sự cĂł mặt của nĂł rất tạm bợ khĂŽng lĂąu bền, khĂŽng chủ tể, chớ chẳng phải khĂŽng ngơ, khĂŽng cĂł gĂŹ hết. CĂł người bảo đạo Phật nĂłi thĂąn như huyễn hĂła, tại sao cĂĄc người tu theo Phật vẫn ăn, vẫn mặc v.v... vĂ  v.v...? Biết thĂąn huyễn hĂła lĂ  thấy nĂł cĂł một cĂĄch tạm bợ ngắn ngủi, dễ tan hoại, chẳng phải lĂ  khĂŽng, sự ăn mặc đối với nĂł lĂ  lẽ thường cĂł gĂŹ phải nghi. Thấy được lẽ thật tạm bợ của thĂąn nĂ y, chĂșng ta phĂĄ được cĂĄi chấp ngĂŁ sai lầm vĂŽ lĂœ, dừng tay, khĂŽng tạo nghiệp ĂĄc, đem lại sự cảm thĂŽng tương trợ lẫn nhau, để được chĂșt an vui trong cuộc đời tạm bợ.

THẤY THÂN HUYỄN HÓA ĐỂ TRỪ TAM ĐỘC

Tham, sĂąn, si lĂ  ba con rắn độc sĂĄt hại người khĂŽng thể kể xiết. Chẳng những chĂșng giết hại người trong đời nĂ y, mĂ  cĂČn gĂąy họa ương khĂŽng biết bao nhiĂȘu kiếp nữa. CĂČn tham sĂąn si lĂ  con người cĂČn đau khổ. Thấy thĂąn như huyễn hĂła lĂ  lối nhĂŹn đĂșng như thật bằng con mắt trĂ­ tuệ. Con mắt trĂ­ tuệ mở sĂĄng thĂŹ si mĂȘ tan biến lĂ  phĂĄ được si. Si đĂŁ tan thĂŹ tham theo đĂł mĂ  dừng. Tham hết thĂŹ sĂąn khĂŽng cĂČn lĂœ do trỗi dậy. Bởi si mĂȘ nĂȘn thĂąn duyĂȘn hợp hư dối ta tưởng lầm lĂ  chĂąn thật quĂ­ bĂĄu. Do tưởng thĂąn thật quĂ­, nĂȘn sanh lĂČng tham muốn thu gĂłp mọi nhu cầu mĂ  thĂąn yĂȘu thĂ­ch. Sự thu gĂłp bị ngăn trở liền nổi sĂąn lĂȘn. Thế lĂ , từ si khởi tham, từ tham sanh sĂąn, tạo nghiệp gĂąy khổ cho mĂŹnh cho người. HĂ nh giả bi&#7871;t rĂ” cội gốc của tam độc lĂ  si mĂȘ dĂčng cĂąy xẻng trĂ­ tuệ bứng tung gốc si mĂȘ lĂȘn. Gốc si mĂȘ đĂŁ trĂŽĂčc thĂŹ thĂąn tham vĂ  cĂ nh lĂĄ sĂąn cũng đổ ngĂŁ theo, cĂąy tam độc ngang đĂąy sẽ khĂŽ khan rĂŁ mục. Quả lĂ  chĂșng ta đĂŁ thĂĄo được cĂąy chốt cửa giải thoĂĄt. BĂ i kinh BĂĄt-nhĂŁ bổ khuyết cho tất cả thời khĂła tu tập chủ yếu lĂ  ở chỗ nĂ y. ChĂșng ta tu theo đạo Phật lĂ  đi trĂȘn con đường giĂĄc ngộ, nếu khĂŽng thắp sĂĄng ngọn đuốc trĂ­ tuệ thĂŹ mục đĂ­ch giĂĄc ngộ ắt phải xa vời. Kinh PhĂĄp CĂș Phật dạy “cĂĄc ĂŽng tự thắp đuốc lĂȘn mĂ  đi, thắp lĂȘn với chĂĄnh phĂĄp”. Trong mười hai nhĂąn duyĂȘn, bắt đầu từ vĂŽ minh. Từ vĂŽ minh tiếp nối đến sanh tử lĂ  lưu chuyển. VĂŽ minh diệt cho đến sanh tử diệt lĂ  hoĂ n diệt. Do vĂŽ minh dẫn mĂŁi đi trong luĂąn hồi sanh tử. VĂŽ minh lĂ  tĂȘn khĂĄc của si mĂȘ. ChĂșng ta đĂŁ thấy đĂ­ch thực bộ mặt ĂĄc độc của hắn rồi, khĂŽng ra tay tiĂȘu diệt hắn, biết bao giờ chĂșng ta mới hết khổ. VĂŹ thế, hĂ nh giả thẳng tay trừng trị đĂ­ch đĂĄng kẻ ĂĄc độc nĂ y, với cĂąy kiếm trĂ­ tuệ cầm sẵn trong tay. Bất cứ nơi chốn nĂ o, thời gian nĂ o, hĂ nh giả hằng lia kiếm trĂ­ tuệ, bọn quĂąn si mĂȘ ngĂŁ rạp khĂŽng cĂČn một đứa dĂĄm xĂĄp lại gần lĂ  thắng trận, trĂȘn đường tiến đến thĂ nh giĂĄc ngộ. Ngược lại, lĂ  kẻ bại trận khĂŽng thể cứu.

THẤY THÂN HUYỄN HÓA ĐẠT ĐẾN KHÔNG HUYỄN HÓA

LĂœ do khĂŽng bi quan của đạo Phật lĂ  thấy thĂąn huyễn hĂła để đạt đến khĂŽng huyễn hĂła. KhĂŽng phải như những kẻ phĂ m phu tục tử, cĂł lĂșc nhĂ n hạ ngồi yĂȘn suy gẫm cuộc đời, thấy nĂł ngắn ngủi tạm bợ đĂąm ra chĂĄn chường kinh hoảng. Thấy cuộc sống đi vĂ o ngĂ” cụt, họ ĂȘ chề chĂĄn ngĂĄn cĂł khi liều mĂŹnh tự tử. HĂ nh giả dĂčng trĂ­ tuệ quĂĄn sĂĄt thấy thĂąn đĂșng lẽ thật, nĂł hư dối tạm bợ khĂŽng cĂł gĂŹ đĂĄng quĂ­. Song lại cĂł cĂĄi chĂąn thật tĂ ng ẩn trong ấy, chỉ cĂł người đạt đạo mới thấy được. Ta hĂŁy nghe ba cĂąu trong bĂ i ca Chứng Đạo của Thiền sư Huyền GiĂĄc:

Huyễn hĂła khĂŽng thĂąn tức phĂĄp thĂąn

PhĂĄp thĂąn giĂĄc liễu vĂŽ nhất vật

Bản nguyĂȘn tự tĂĄnh ThiĂȘn ChĂąn Phật.

Ngay trong thĂąn khĂŽng thật huyễn hĂła nĂ y tức lĂ  PhĂĄp thĂąn. GiĂĄc ngộ phĂĄp thĂąn thấy khĂŽng cĂł một hĂŹnh tướng sự vật gĂŹ. PhĂĄp thĂąn nĂ y cũng gọi lĂ  Bản nguyĂȘn, Tự tĂĄnh, ThiĂȘn ChĂąn Phật. PhĂĄp thĂąn lĂ  tĂȘn khĂĄc của tĂąm thể lặng lẽ, trĂ n đầy trong sĂĄng của mọi chĂșng ta. NĂł khĂŽng cĂł hĂŹnh tướng nĂȘn khĂŽng bị vĂŽ thường, khĂŽng dấy động nĂȘn khĂŽng sanh diệt, hằng trong sĂĄng nĂȘn chẳng phải khĂŽng ngơ. VĂŹ chĂșng ta quen nhĂŹn cĂĄi gĂŹ cũng theo hĂŹnh tướng, theo dấy động mới cho lĂ  cĂł, ngược lại bảo lĂ  khĂŽng? Để sĂĄng tỏ Ăœ nĂ y, chĂșng ta nghe lời đối đĂĄp của Thiền sư HoĂ i Nhượng với Lục Tổ. Sư đến TĂ o KhĂȘ, Lục Tổ hỏi: Ở đĂąu đến? Sư thưa: Ở Tung Sơn đến. Tổ hỏi: Vật gĂŹ đến? Sư thưa: NĂłi in tuồng một vật tức khĂŽng trĂșng. Tổ hỏi: Lại cĂł tu chứng chăng? Sư thưa: Tu chứng tức chẳng khĂŽng, nhiễm ĂŽ tức chẳng được. Tổ bảo: ChĂ­nh cĂĄi khĂŽng nhiễm ĂŽ nĂ y lĂ  chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đĂŁ như thế, ta cũng như thế.

TĂąm thể lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng cĂł sẵn trong mọi người, nĂȘn nĂłi lĂ  bản nguyĂȘn, lĂ  tự tĂĄnh. Tại vĂŹ vọng tưởng dấy khởi liĂȘn miĂȘn, khiến chĂșng ta chỉ thấy vọng tưởng, khĂŽng thấy được tĂąm thể nĂ y. Bởi chỉ thấy vọng tưởng nĂȘn chấp nhận vọng tưởng lĂ m tĂąm mĂŹnh, hĂ i lĂČng ngang đĂąy, cam chịu nĂł lĂŽi chạy trong lục đạo luĂąn hồi. Mỗi vọng tưởng dấy lĂȘn, hay mỗi niệm khởi, đĂŁ cắt xĂ©n tĂąm thể trĂ n đầy thĂ nh những mảnh vụn. Những mảnh vụn nĂ y tung tĂłe lĂȘn che khuất tĂąm thể lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng. Như mặt biển lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng, một cơn giĂł mạnh thổi qua, những lượn sĂłng trỗi dậy nối tiếp, đĂŁ cắt xĂ©n mặt biển phẳng lĂŹ thĂ nh vĂŽ lượng mảnh vụn, đang săn đuổi nhau. Khi nĂ y, người ta nhĂŹn khĂŽng cĂČn thấy mặt biển phẳng, chỉ thấy bao nhiĂȘu lượn sĂłng gầm thĂ©t rượt bắt nhau.

SĂłng đĂŁ dậy lĂ m sao dừng? Chỉ khi nĂ o giĂł lặng. SĂłng tĂąm muốn dừng chỉ khi nĂ o giĂł nghiệp lặng. Vọng tưởng dấy lĂȘn đều cĂł đối tượng. NgĂŁ vĂ  phĂĄp lĂ  đối tượng chủ yếu của vọng tưởng. Nghĩ cĂĄi gĂŹ? Nghĩ về ta, về người hay vạn vật. Thấy thĂąn duyĂȘn hợp như huyễn, cảnh duyĂȘn hợp như huyễn lĂ  vĂŽ hiệu hĂła giĂł nghiệp. ĐĂŁ biết thĂąn cảnh hư dối cĂČn gĂŹ phải bận lĂČng, đối tượng đĂŁ phĂĄ vỡ thĂŹ vọng niệm khĂŽng cĂČn chỗ tựa để phĂĄt sanh. Thế lĂ  giĂł nghiệp lặng, sĂłng vọng niệm từ từ im bặt, chỉ cĂČn mặt biển tĂąm lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng như xưa. CĂŽng tĂĄc quan trọng của người tu lĂ  trĂ­ tuệ BĂĄt-nhĂŁ, nhờ nĂł chĂșng ta mới phĂĄ được mĂȘ lầm muĂŽn kiếp. NĂł gĂłp cĂŽng lớn lao trong việc đem lại an bĂŹnh cho tĂąm thể.

Vọng niệm dấy khởi lĂ  loạn động, sanh diệt, lĂ  cắt xĂ©n vụn vặt, lĂ  che phủ ngĂ u đục. CĂł vọng niệm thĂŹ khĂŽng thể thấy được tĂąm thể lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng. VĂŹ thế, mọi người đều cĂł tĂąm thể lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng mĂ  Ă­t người nhận ra. ĐĂŁ khĂŽng nhận ra, dĂč tu hĂ nh cũng khĂŽng tin mĂŹnh thĂ nh Phật. ĐĂąy lĂ  nguyĂȘn nhĂąn lui sụt của đa số người tu. Nghe trong kinh nĂłi cĂł ChĂąn tĂąm, Phật tĂĄnh, Tri kiến Phật..., thực tế khĂŽng bao giờ họ nhận thấy mặt mĂ y của nĂł. Tu lĂąu rồi, họ xoay ra lo cất chĂča to, tổ chức lễ lớn... lấy đĂł lĂ m Phật sự, việc giĂĄc ngộ giải thoĂĄt xem như vĂŽ phần. Muốn thấy chĂąn tĂąm, Phật tĂĄnh, trước tiĂȘn chĂșng ta phải dừng vọng niệm. Vọng niệm đĂŁ dừng thĂŹ tĂąm thể lặng lẽ trĂ n đầy trong sĂĄng hiện tiền, chẳng cần cầu mong trĂŽng đợi cũng tự thấy. Song vọng niệm khĂŽng phải dễ dừng, nĂł đĂŁ thĂ nh một dĂČng sanh diệt liĂȘn tục trong chĂșng ta. Để chận đứng nĂł, trước tiĂȘn chĂșng ta phải đập nĂĄt đối tượng chủ yếu lĂ m cơ sở phĂĄt sanh của nĂł lĂ  ngĂŁ vĂ  phĂĄp. DĂčng trĂ­ BĂĄt-nhĂŁ thấy ngĂŁ phĂĄp như huyễn hĂła, lĂ  chiếc bĂșa thần đập tan đối tượng chủ yếu của vọng niệm. Đối tượng đĂŁ đổ vỡ thĂŹ vọng niệm cĂČn nương đĂąu phĂĄt sanh. Thế lĂ , nhờ trĂ­ tuệ BĂĄt-nhĂŁ thấy ngĂŁ phĂĄp như huyễn hĂła, hĂ nh giả đạt đến tĂąm thể chĂąn thật khĂŽng huyễn hĂła.

BI TRÍ TRÒN ĐỦ

TrĂ­ tuệ khai phĂĄt, hĂ nh giả thĂĄo gỡ lần những mối rối bĂČng bong trong tĂąm tư. Đến khi mọi việc suĂŽn sẻ, trĂ­ giĂĄc trĂČn sĂĄng lĂ  xong phần tự giĂĄc. Phần giĂĄc tha do tĂąm từ bi thĂșc đẩy, đến lĂșc viĂȘn mĂŁn thĂŹ cĂŽng phu hĂ nh giả mới được trĂČn đủ. Khi thực hiện giĂĄc tha, hĂ nh giả phải chuẩn bị thế nĂ o? TĂąm từ bi lĂ  ban vui cứu khổ. ChĂșng sanh cĂł nhiều loại khổ, khĂŽng ngoĂ i hai thứ, khổ về vật chất, khổ về tinh thần. Khổ về vật chất tuy cấp bĂĄch song khĂŽng trầm kha miĂȘn viễn bằng khổ về tinh thần. Thể hiện lĂČng từ bi bằng hĂ nh động bố thĂ­, trong ba thứ bố thĂ­, tĂ i thĂ­ lĂ  đứng đầu. VĂŹ thĂ­ch ứng với nhu cầu cấp bĂĄch vật chất, nĂȘn phải thực hiện tĂ i thĂ­ trước. Người đang đĂłi rĂ©t mĂ  mời đi nghe phĂĄp lĂ  việc lĂ m của kẻ dại khờ. Trước nhất, chĂșng ta phải cho họ cĂł cơm ăn, cả ĂĄo mặc, sau mới hướng dẫn về đạo lĂœ thĂąm sĂąu. Do đĂł, phĂĄp thĂ­ Phật đặt sau tĂ i thĂ­. Phật tử muốn cứu người thoĂĄt khỏi cĂĄi khổ trầm kha, miĂȘn viễn của tinh thần, trước phải lo giĂșp đỡ người giảm bớt cĂĄi khổ về vật chất. VĂŹ thế, tuy thấy thĂąn như huyễn hĂła, cĂĄc phĂĄp như huyễn hĂła, chĂșng ta vẫn phải cần cĂč lao động lĂ m ra nhiều tĂ i sản của cải để giĂșp những người cần giĂșp, nhiĂȘn hậu mới đem chĂĄnh phĂĄp hướng dẫn giĂĄo hĂła họ. Thấy thĂąn như huyễn, cĂĄc phĂĄp như huyễn, để rồi nhĂŹn cảnh ngắm trăng nhịp đĂči ngĂąm thơ, lĂ  người khĂŽng cĂł lĂČng từ bi, khĂŽng hiểu thấu Ăœ nghĩa Phật dạy. Hoặc gặp ai cũng cố gắng khai mở trĂ­ BĂĄt-nhĂŁ cho họ, mĂ  khĂŽng đếm xỉa gĂŹ bản thĂąn người đang no hay đĂłi, lĂ  kẻ thuyết phĂĄp chẳng hợp thời cơ. VĂŹ muốn cứu cĂĄi khổ trầm kha miĂȘn viễn tinh thần của mọi người, chĂșng ta phải cố gắng nỗ lực cứu cĂĄi khổ cấp bĂĄch vật chất cho họ trước đĂŁ. Được vậy, sự tự giĂĄc giĂĄc tha, chĂșng ta mới trĂČn đủ. Tự giĂĄc lĂ  trĂ­, giĂĄc tha lĂ  bi, đạo Phật chủ yếu đưa người đến giĂĄc ngộ, nĂȘn bi trĂ­ đều cĂčng một chữ giĂĄc.

KẺ SI MÊ NGƯỜI TRÍ TUỆ CAN ĐẢM HY SINH

Kẻ si mĂȘ can đảm hy sinh khĂŽng ngoĂ i ba yếu tố chĂ­nh lĂ  tham lam, sĂąn hận, si mĂȘ. VĂŹ tham danh, tham lợi, tham sắc..., họ can đảm hy sinh, vĂŹ đam mĂȘ khĂŽng mĂŁn Ăœ, họ can đảm hy sinh, vĂŹ nĂłng giận hận thĂč, họ can đảm hy sinh. Sự can đảm hy sinh của họ do động lực bĂȘn ngoĂ i thĂșc đẩy. Họ can đảm trong cĂĄi s̖7; sệt, hy sinh trong cĂĄi liều lĩnh. Người đời muốn lợi dụng lĂČng can đảm, hy sinh của họ, bĂšn cĂĄm dỗ bằng danh lợi, kĂ­ch động bằng hận thĂč, xĂąy dựng bằng lĂœ tưởng. Bởi khĂŽng tự chủ được, họ phải lĂ m theo cĂĄi gĂŹ mĂ  người khĂĄc muốn họ lĂ m. Cuộc sống của họ xem ra rất ngang dọc anh hĂčng, song lĂ  cĂĄi anh hĂčng của người khĂĄc tạo nĂȘn. Họ hy sinh trong cĂĄi tự cao, ngĂŁ mạn, hoặc trong nhắm mắt đĂĄnh liều.

Người trĂ­ tuệ can đảm hy sinh do nhận chĂąn lẽ thật, vĂŹ lĂČng từ bi cứu khổ chĂșng sanh. Khi thấy rĂ” thĂąn nĂ y duyĂȘn hợp như huyễn, chĂșng sanh khĂŽng biết chấp lĂ  thật, gặp cảnh khổ liền kinh hoĂ ng, hoảng sợ. Người trĂ­ tuệ thấy thế dĂĄm hy sinh thĂąn mĂŹnh để đem sự an vui cho người. ĐĂŽi mắt trĂ­ tuệ với lĂČng từ bi, người trĂ­ tuệ can đảm hy sinh giĂșp người, cứu vật, khĂŽng do động lực nĂ o khĂĄc thĂșc đẩy. NĂłi can đảm hy sinh, mĂ  thật khĂŽng cĂł gĂŹ đĂĄng hy sinh. Bởi thấy thĂąn như huyễn hĂła, sự cĂČn mất cĂł đĂĄng gĂŹ, gọi lĂ  hy sinh. Cho nĂȘn, hy sinh cho mọi người, vẫn khĂŽng thấy cĂł mĂŹnh hy sinh, đĂąy lĂ  tĂąm hồn Bồ-tĂĄt. Bồ-tĂĄt thấy chĂșng sanh khổ coi như mĂŹnh khổ, xả thĂąn mĂŹnh giải khổ cho người lĂ  việc lĂ m dễ dĂ ng thường nhật của Bồ-tĂĄt.

KẾT THÚC

Qua những lĂœ do trĂȘn, chĂșng ta được quyền khẳng định rằng thấy thĂąn giả dối lĂ  đĂșng lẽ thật, lĂ  diệt trừ tam độc, lĂ  giải thoĂĄt sanh tử, lĂ  tĂ­ch cực vĂŹ người, lĂ  can đảm hy sinh, khĂŽng phải lĂ  quan niệm bi quan yếm thế. Mọi khổ đau, mọi hĂšn nhĂĄt, phĂĄt nguồn từ bản ngĂŁ khổng lồ. PhĂĄ tan được bản ngĂŁ nĂ y, cĂł sự lợi Ă­ch nĂ o chẳng dĂĄm lĂ m, sự đau khổ nĂ o mĂ  chẳng dĂĄm cứu, sự hiểm nguy nĂ o mĂ  chẳng xĂŽng vĂ o. Bồ-tĂĄt Địa Tạng đĂąu khĂŽng nĂłi “ta khĂŽng vĂ o địa ngục, ai vĂ o địa ngục”. CĂł phải chăng lĂ  một sức mạnh vĂŽ biĂȘn, khi thấy thĂąn khĂŽng thật. Chỉ trừ bọn phĂ m phu, sau khi trĂ  dư tửu hậu, ngồi suy gẫm cuộc đời, thấy kiếp sống mỏng manh cuộc đời tạm bợ, nảy sanh ra quan niệm chĂĄn đời. Với cĂĄi nhĂŹn của bọn người nĂ y, khĂŽng dĂ­nh dĂĄng gĂŹ với trĂ­ tuệ BĂĄt-nhĂŁ. TrĂ­ tuệ BĂĄt-nhĂŁ khĂŽng rời từ bi. Bi trĂ­ viĂȘn mĂŁn mới trĂČn Phật quả.

SỐ MẠNG NGHIỆP BÁO ĐỒNG HAY KHÁC?

Sự cĂł mặt con người trong thế gian nĂ y, trọn một đời từng trải qua những cuộc thĂ nh bại, thạnh suy, nhục vinh, vui khổ... dường như cĂł sự an bĂ i đĂąu sẵn. CĂĄi gĂŹ an bĂ i đời sống con người? NhĂ  Nho gọi lĂ  số mạng hay thiĂȘn mạng. Họ cho rằng con người sanh ra mỗi mỗi đều do số định sẵn, hoặc trời sắp đặt cho. Như cĂąu “nhĂąn nguyện như thử thiĂȘn lĂœ vị nhiĂȘn” (người mong như thế, lẽ trời chưa vậy). Hoặc nĂłi: “ThiĂȘn vĂ”ng khĂŽi khĂŽi, sơ nhi bất lậu.” (Lưới trời lồng lộng, thưa mĂ  chẳng lọt.) Chỉ do số trời đĂŁ định khĂŽng ai thoĂĄt ra ngoĂ i được. NhĂ  Phật nĂłi lĂ  nghiệp bĂĄo. Tất cả chĂșng sanh cĂł mặt trong vũ trụ đều do nghiệp trước tạo nĂȘn, phải chịu quả bĂĄo hiện nay. Hai bĂȘn đều thừa nhận cĂł cĂĄi sẵn từ đời trước quyết định cho cuộc sống hiện tại. Vậy hai thuyết nĂ y đồng hay khĂĄc?

ĐỒNG

Đứng về mặt sẵn cĂł, hai bĂȘn đều thừa nhận như nhau. Con người sanh ra khĂŽng phải bỗng dưng mĂ  cĂł, đều mang sẵn cĂĄi quĂĄ khứ cĂČn lưu lại. VĂŹ thế, cĂł kẻ sanh ra đĂŁ sẵn sĂ ng cho một cuộc sống sang cả sung tĂșc, cĂł người sanh ra gặp lầm than nghiệt ngĂŁ. Tại họ chọn lựa chăng? Hẳn lĂ  khĂŽng. Tại sao cĂł sự bất cĂŽng tĂ n nhẫn ngay từ buổi đầu như thế? Nho nĂłi: “số trước đĂŁ định”, Phật nĂłi: “Nghiệp trước gĂąy nĂȘn.” Cả hai đều thừa nhận cĂł cĂĄi sẵn từ trước. Song một bĂȘn nĂłi số, một bĂȘn nĂłi nghiệp, khĂŽng đồng nhau.

KHÁC

1. NguyĂȘn nhĂąn

NĂłi số định hay trời định cũng tương tợ. Số do ai đặt ra, hẳn lĂ  trời hay đấng thiĂȘng liĂȘng tối thượng nĂ o đĂł. ĐĂŁ do trời định sẵn sự cĂł mặt của ta; ta lĂ  cĂŽng cụ của NgĂ i, trọn một đời ta phải hĂ nh động theo cĂĄi khuĂŽn định sN61;n ấy. Quả thật đời sống của ta khĂŽng cĂł giĂĄ trị gĂŹ hết. Nếu số định cho ta vui thĂŹ ta được vui, số định cho ta khổ thĂŹ ta phải khổ. Ta khĂł bề thoĂĄt khỏi số phận ấy. Số hay trời định cho thĂąn phận ta, mĂ  thật tĂŹnh ta khĂŽng biết gĂŹ về cĂĄi tột cĂčng ấy hết. Thật lĂ  gởi gấm thĂąn phận mĂŹnh cho một cĂĄi viển vĂŽng mơ hồ.

NĂłi do nghiệp bĂĄo nĂȘn cĂł mặt trĂȘn thế gian nĂ y để đền trả. Nghiệp từ đĂąu cĂł? Nghiệp do những tĂąm tư hĂ nh động của mĂŹnh từ đời trước gĂąy ra. Nếu đời trước hĂ nh động thiện nhiều thĂŹ đời nay ta sanh ra gặp hoĂ n cảnh tốt, mọi việc như Ăœ. Nếu đời trước hĂ nh động ĂĄc thĂŹ đời nĂ y ta sanh ra trong hoĂ n cảnh xấu xa bất như Ăœ. Thế lĂ , hiện nay ta sanh ra trong hoĂ n cảnh tốt hay xấu đều do hĂ nh động tốt xấu của ta đời trước chiĂȘu cảm. Ta lĂ  chủ nhĂąn sắp đặt lấy cuộc sống hiện tại cho mĂŹnh. Quyền tối thượng định đoạt lĂ  ở chĂșng ta, khĂŽng ai khĂĄc. Kinh NhĂąn Quả nĂłi: “Muốn biết nhĂąn đời trước, chỉ xem quả hiện tại đang thọ; muốn biết quả đời sau, chỉ xem nhĂąn gĂąy tạo trong đời nĂ y.” (Dục tri tiền thế nhĂąn, kim sanh thọ giả thị; yếu tri hậu thế quả, kim sanh tĂĄc giả thị.)

2. Xuất phĂĄt

Mọi khổ vui của con người do số định sẵn. Con người phải chấp nhận số phận của mĂŹnh, gặp hoĂ n cảnh nĂ o cam chịu trong hoĂ n cảnh ấy. Nếu người gặp cảnh khắc nghiệt quĂĄ, chịu khĂŽng nổi, họ đĂąm ra oĂĄn trời trĂĄch đất. Họ cho rằng trời đất đĂŁ chơi xấu với họ, đĂ y ải họ, xử nghiệt ngĂŁ với họ, họ sống trong oĂĄn trĂĄch hận phiền.

Khổ vui do nghiệp chĂșng ta gĂąy nĂȘn, dĂč gặp hoĂ n cảnh nĂ o, chĂșng ta cũng can đảm nhận chịu, khĂŽng than thở oĂĄn trĂĄch ai. Mọi việc đều tại sự ngu khờ vụng dại của ta trước kia gĂąy ra. Ta phải vui vẻ nhận chịu, chỉ cần khĂŽn ngoan đừng tiếp tục sự ngu khờ như trước nữa. Ta lĂ m ta chịu, nhận lấy trọng trĂĄch của mĂŹnh. KhĂŽng ai để chĂșng ta van xin, khĂŽng ai để chĂșng ta oĂĄn trĂĄch. Can đ̐3;m nhận lấy trĂĄch nhiệm, vui vẻ để trả mối nợ tiền khiĂȘn.

3. Cảm thọ

Số đĂŁ định thĂŹ chĂșng ta bất lực, lĂ m sao đổi được số. Nhất lĂ  số trời cĂČn ai dĂĄm can thiệp vĂ o. Trời đĂŁ định như vậy, chĂșng ta phải chịu như vậy. Người biết an phận, khĂŽng dĂĄm trĂĄi lĂČng trời.

Nghiệp thĂŹ biến chuyển, bởi vĂŹ nghiệp do hĂ nh động mĂ  cĂł, khi xưa ta hĂ nh động theo ngu tối nĂȘn chiĂȘu cảm quả khổ, nay đổi lại ta hĂ nh động theo tĂąm hồn trong sĂĄng thĂŹ quả khổ cũng suy giảm. Như trước ta xử sự xấu với một người bạn, gĂąy ra sự buồn phiền hờn giận, nay ta hối cải xử sự tốt với bạn, sự hờn giận trước dần dần suy giảm. HĂ nh động luĂŽn luĂŽn thay đổi, nghiệp cũng theo đĂł mĂ  đổi thay. NĂłi nghiệp khĂŽng phải cĂĄi cố định cứng ngắc, mĂ  chuyển biến linh động tĂčy thuộc tĂąm tư vĂ  hĂ nh động con người. VĂŹ thế, nếu trong hiện tại chĂșng ta cảm thọ cảnh vui hay khổ, biết do nghiệp lĂ nh hay dữ trước kia tạo nĂȘn. Nếu hiện nay chĂșng ta chuyển tĂąm niệm hĂ nh động thĂŹ sự cảm thọ cũng theo đĂł mĂ  chuyển.

4. HoĂĄn cải

Số mạng đĂŁ định thĂŹ lĂ m sao đổi được. Cho nĂȘn nĂłi số mạng đĂŁ định, con người đĂ nh bĂł tay cĂși đầu nhận lĂŁnh, khĂŽng ai cĂł thể cưỡng được số. Con người hoĂ n toĂ n bất lực dưới mệnh lệnh của đấng tạo hĂła đĂŁ định sẵn.

Nghiệp do mĂŹnh tạo, chĂ­nh mĂŹnh cĂł quyền thay đổi nghiệp xấu thĂ nh nghiệp tốt. Trước kia mĂŹnh học nghề trộm cắp, sau nĂ y mĂŹnh học nghề thợ mộc thợ nề. Nghề nghiệp do sở thĂ­ch của mĂŹnh học tập mĂ  thĂ nh. Trước mĂŹnh dại khờ thĂ­ch việc lĂ m khĂŽng hay, sau mĂŹnh nhận thức được đổi thĂ nh nghề tốt. Nghề nghiệp đổi thay tĂčy theo tĂąm tỉnh giĂĄc của mĂŹnh, đổi sang nghề nghiệp mới thĂŹ nghề nghiệp cũ từ từ phai nhạt. VĂŹ thế, nĂłi nghiệp lĂ  sO17;a đổi, cố gắng tĂ­ch cực chớ khĂŽng cĂł nghĩa cam chịu đầu hĂ ng. Tuy nhiĂȘn, cĂł thiểu số người học Phật mĂ  thiếu nghị lực, khĂŽng cĂł Ăœ chĂ­, họ khĂŽng vượt qua được những trở ngại của nghiệp cũ, đĂ nh cam bĂł tay đầu hĂ ng rồi đổ thừa tại nghiệp của tĂŽi. Như đồng thời ghiền rượu, đồng biết rĂ” tai hại của rượu, cĂčng hứa bỏ rượu, song anh A thĂŹ bỏ rượu được, anh B lại bỏ khĂŽng được. VĂŹ anh A đủ nghị lực giĂ u Ăœ chĂ­, khi quyết định bỏ lĂ  can đảm bỏ, nĂȘn thắng trận. Anh B thĂŹ khĂŽng cĂł Ăœ chĂ­, thiếu nghị lực, tuy cũng muốn bỏ rượu mĂ  khi bị cơn ghiền hĂ nh hạ khĂŽng kham chịu, đĂ nh thua trận.

Nghiệp chuyển được, song đĂČi hỏi giĂ u Ăœ chĂ­, đủ nghị lực.

5. Định chế

NĂłi số mạng lĂ  do một đấng quyền lực tối cao, qui định hết mọi sanh hoạt của chĂșng sanh trĂȘn thế gian nĂ y. Chấp nhận số mạng lĂ  con người thừa nhận vĂ  cam đặt mĂŹnh lệ thuộc vĂ o quyền lực đấng thiĂȘng liĂȘng ấy. VĂŹ thế, số mạng phĂč hợp với thể chế quĂąn chủ phong kiến, con người bị một đấng quĂąn vương chi phối toĂ n bộ cuộc đời.

NĂłi nghiệp lĂ  quyền năng trong tay mĂŹnh định đoạt. Cuộc sống đời nĂ y vĂ  đời sau do mĂŹnh an bĂ i lấy. Muốn an vui do mĂŹnh, muốn đau khổ cũng do mĂŹnh. Ta lĂ  chủ của mọi cuộc sống, nếu ta cĂČn muốn tiếp tục. KhĂŽng ai thay ta sắp đặt cuộc khổ vui, chỉ cĂł ta mới lĂ  người ban vui cứu khổ cho ta. Ta phải sĂĄng suốt gan dạ chọn lựa một cuộc sống đẹp đẽ vui tươi trong hiện tại vĂ  mai sau. Tự ta vạch sẵn một lối sống cho ta, tự ta tĂŽ điểm đời ta cho tươi sĂĄng. Nếu cĂł khổ đau đến với ta, ta hĂŁy cười, vĂŹ đĂąy lĂ  hĂ nh vi vụng dại ngĂ y trước của mĂŹnh. ChĂșng ta trả vĂ  chuyển những cĂĄi gĂŹ khĂŽng hay của quĂĄ khứ, đồng thời xĂąy dựng những điều an vui hạnh phĂșc cho vị lai. Mọi quyền lực trong tay chĂșng ta, thật thỏa thĂ­ch thay! Cuộc sống của chĂșng ta lĂ  cuộc sống tự do tự chủ. Cho nĂȘn, lĂœ nghiệp bĂĄo thĂ­ch ứng thể chế dĂąn chủ tự do của nhĂąn loại hiện nay. Ta lĂ  chủ ta cĂł quyền chọn lựa người thay ta lo việc nước việc dĂąn.

PHÊ BÌNH

NĂłi số mạng lĂ  mơ hồ khĂŽng xĂĄc thực. Nghiệp bĂĄo lĂ  thực tế rĂ” rĂ ng. Thuyết số mạng đưa con người đến chỗ vĂŽ trĂĄch nhiệm về hĂ nh động của mĂŹnh. Nghiệp bĂĄo dạy người nhận lấy trĂĄch nhiệm do mọi hậu quả tốt xấu đến với mĂŹnh. Số mạng khiến con người thụ động, tiĂȘu cực, phĂł thĂĄc, liều lĩnh. Nghiệp bĂĄo xĂąy dựng con người chủ động, tĂ­ch cực, nỗ lực vĂ  sĂĄng tạo. Số mạng tập con người yếu đuối, an phận, đầu hĂ ng. Nghiệp bĂĄo chỉ cho ta phải cố gắng, can đảm vĂ  thăng tiến. Số mạng thĂ­ch hợp với thời quĂąn chủ phong kiến. Nghiệp bĂĄo thĂ­ch hợp với thời dĂąn chủ tự do. Ứng dụng thuyết nghiệp bĂĄo trong cuộc sống, chĂșng ta thấy mĂŹnh đồ sộ hiĂȘn ngang, đầy đủ quyền năng trong cĂŽng cuộc kiến tạo con người vĂ  vũ trụ.

NGHIỆP BÁO KHÔNG THẬT

Tuy thuyết nghiệp bĂĄo thực tế, chủ động, tĂ­ch cực...Song cuối cĂčng nhĂ  Phật nĂłi nĂł khĂŽng thật. Bởi vĂŹ nghiệp do hĂ nh động tạo tĂĄc của con người. HĂ nh động lĂ  tướng sanh diệt, cĂĄi gĂŹ sanh diệt nhĂ  Phật đều cho lĂ  hư dối. Trong bĂ i Chứng Đạo Ca của Thiền sư Huyền GiĂĄc cĂł hai cĂąu “liễu tức nghiệp chướng bản lai khĂŽng, vị liễu ưng tu hoĂ n tĂșc trĂĄi” (liễu ngộ tức nghiệp chướng xưa nay khĂŽng, chưa liễu ngộ cần phải đền nợ trước). CĂł Thiền khĂĄch hỏi Thiền sư Cảnh Sầm ở Trường Sa: Tổ Sư Tử liễu chưa mĂ  bị vua nước Kế-tĂąn chặt đầu? Tổ Huệ Khả liễu chưa mĂ  bị chết trong khĂĄm? Thiền sư Cảnh Sầm đĂĄp: Đại đức chưa hiểu nghĩa nghiệp chướng. Thiền khĂĄch hỏi: Thế nĂ o lĂ  nghiệp chướng? Thiền sư Cảnh Sầm đĂĄp: Bản lai khĂŽng. Qua cĂąu chuyện nĂ y, đa số người khĂŽng hiểu gĂŹ cả. Sự thật lĂ  vầy, sau khi liễu ngộ Phật Tổ thấy cĂĄc phĂĄp duyĂȘn hợp hư dối. ThĂąn nĂ y lĂ  phĂĄp duyĂȘn hợp nĂȘn hư dối. HĂ nh động tạo tĂĄc từ thĂąn phĂĄt xuất lại cĂ ng hư dối hơn. HĂ nh động đĂŁ hư dối thĂŹ nghiệp do hĂ nh động tạo thĂ nh lĂ m sao thật được. Bởi thấy nghiệp hư dối nĂȘn xem thường khĂŽng quan trọng, cĂł đến cũng như trĂČ chơi, cĂł gĂŹ phải kinh hoảng sợ hĂŁi. Cho nĂȘn khi vua nước Kế-tĂąn muốn hại Tổ Sư Tử, cầm dao đến trước Tổ hỏi: NgĂ i thấy thĂąn năm uẩn đều khĂŽng, phải chăng? Tổ đĂĄp: Phải. Vua nĂłi: NgĂ i cho tĂŽi cĂĄi đầu được khĂŽng? Tổ đĂĄp: Năm uẩn đĂŁ khĂŽng, sĂĄ gĂŹ cĂĄi đầu. Vua chặt đầu NgĂ i. Qua mắt chĂșng ta, thấy đĂł lĂ  trả nghiệp, đĂĄng sợ, song với Tổ đĂŁ khĂŽng thấy thật, nĂłi gĂŹ lĂ  trả. Cũng như ĂŽng A khi chưa hiểu đạo, bị ĂŽng B lĂ m vĂ i hĂ nh động khĂŽng vừa lĂČng, ĂŽng liền mắng chửi ĂŽng B. Thời gian sau, ĂŽng A hiểu đạo, đĂșng lĂșc ĂŽng B trả thĂč mắng chửi thậm tệ hơn trước. Song ĂŽng A thấy lời nĂłi khĂŽng thật, khĂŽng cĂł gĂŹ quan trọng, nĂȘn vẫn tươi cười khĂŽng buồn, khĂŽng đổi nĂ©t mặt. Như thế ĂŽng A cĂł trả nợ trước hay khĂŽng trả nợ trước? Thật sự, nợ đĂŁ vay thĂŹ phải trả, chỉ khĂĄc ở chỗ mĂȘ thĂŹ thấy thật, ngộ thĂŹ thấy khĂŽng thật. ĐĂŁ khĂŽng thật thĂŹ trả cũng như khĂŽng trả. VĂŹ thế, nĂłi “liễu tức nghiệp chướng bản lai khĂŽng”. Cứu kĂ­nh thấy nghiệp bĂĄo khĂŽng thật, quả lĂ  thấu tột bản chất của nghiệp bĂĄo. Tuy khĂŽng thật mĂ  chẳng mất, đĂąy lĂ  bĂ­ yếu của đạo Phật.

PHẬT  LÀ  GÌ ?

Phật lĂ  lời nĂłi gọn, nĂłi đủ lĂ  Phật-đĂ  (Buddha) dịch Ăąm tiếng Phạn, dịch nghĩa lĂ  Người GiĂĄc Ngộ. PhĂ m nĂłi Phật lĂ  chỉ  cho đức ThĂ­ch-ca MĂąu-ni (Sakyamuni). Trước đĂąy hơn hai mươi lăm thế kỷ, ở thĂ nh Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu)  phĂ­a Bắc miền Trung Ấn Độ, trong cung vua Tịnh Phạn (Suddhodana) đĂŁ sanh một vị ThĂĄi tử tĂȘn Tất-đạt-đa (Siddhartha). Lớn lĂȘn, cĂł dịp ThĂĄi tử  đi dạo bốn cửa thĂ nh, chứng kiến sự sanh giĂ  bệnh chết của kiếp người, khiến NgĂ i xĂłt xa đau đớn. Sau đĂł, NgĂ i quyết định từ bỏ một cuộc đời sang cả trong hoĂ ng cung,  dấn thĂąn vĂ o rừng nĂși để tĂŹm ra con đường giải thoĂĄt sanh tử. Trải qua mười một năm trời học đạo vĂ  khổ tu, bốn mươi chĂ­n ngĂ y tọa thiền dưới cội bồ-đề, NgĂ i bỗng nhiĂȘn hoĂ n toĂ n giĂĄc ngộ, thĂ nh Phật hiệu lĂ  ThĂ­ch-ca MĂąu-ni. Sau khi giĂĄc ngộ, NgĂ i thấy rĂ” manh mối lĂŽi cuốn con người trĂŽi lăn trong dĂČng sanh tử vĂ  biết tột cĂčng con đường giải thoĂĄt sanh tử. NĂłi một cĂĄch khĂĄc, NgĂ i biết rĂ” nguyĂȘn nhĂąn vĂ  thĂ nh quả của sanh tử, biết rĂ” nguyĂȘn nhĂąn vĂ  thĂ nh quả của giải thoĂĄt sanh tử, đồng thời NgĂ i cũng biết rĂ” sự sanh thĂ nh vĂ  hoại diệt của mọi sự vật. Cũng gọi sự giĂĄc ngộ ấy lĂ  “TrĂ­ biết tất cả loại” (Nhất thiết chủng trĂ­).

ChĂ­nh trĂ­ tuệ nĂ y, NgĂ i đĂŁ được viĂȘn mĂŁn vĂ  cũng đem nĂł giĂĄo hĂła chĂșng sanh khiến tất cả đều được viĂȘn mĂŁn, nĂȘn gọi lĂ  Phật.

Phật chỉ nguyĂȘn nhĂąn đưa con người vĂ o đường sanh tử vĂ  manh mối giải thoĂĄt sanh tử một cĂĄch rĂ” rĂ ng, lĂ  Mười hai nhĂąn duyĂȘn: VĂŽ minh duyĂȘn HĂ nh... cho đến Sanh duyĂȘn LĂŁo Tử. ĐĂąy lĂ  vĂČng trĂČn nối tiếp triền miĂȘn trong sanh tử. Muốn giải thoĂĄt sanh tử, tức lĂ : vĂŽ minh diệt thĂŹ hĂ nh diệt... cho đến sanh diệt thĂŹ lĂŁo tử diệt. Thế lĂ  vĂČng sanh tử rĂŁ rời. NhĂŹn vĂ o mười hai nhĂąn duyĂȘn, chĂșng ta thấy vĂŽ minh lĂ  chủ động cuộc sanh tử, tiĂȘu diệt vĂŽ minh lĂ  giải thoĂĄt sanh tử. Thế thĂŹ, vĂŽ minh lĂ  đầu mối sanh tử, tiĂȘu diệt vĂŽ minh lĂ  đầu mối giải thoĂĄt sanh tử. Đầu mối cĂČn thĂŹ chi mạt ngọn ngĂ nh tiếp nối sanh trưởng, đầu mối diệt thĂŹ chi mạt ngọn ngĂ nh theo đĂł hết sạch.

VĂŽ minh lĂ  gĂŹ mĂ  cĂł khả năng mĂŁnh liệt như thế? VĂŽ minh lĂ  khĂŽng sĂĄng, lĂ  mĂȘ lầm. Ngay nơi cuộc sống nĂ y, mĂ  khĂŽng biết cĂĄi nĂ o lĂ  giả dối, khĂŽng nhận ra cĂĄi nĂ o lĂ  chĂąn thật, lĂ  vĂŽ minh. Giả khĂŽng biết, thật khĂŽng hay, quả tang lĂ  kẻ mĂȘ lầm. Đức Phật biết rĂ” những cĂĄi nĂ o lĂ  giả dối, nhận chĂąn cĂĄi chĂąn thật, nĂȘn gọi lĂ  Người GiĂĄc Ngộ. Được giĂĄc ngộ thÏ  khĂŽng cĂČn vĂŽ minh, nĂȘn giải thoĂĄt sanh tử, đồng thời cũng cĂł đầy đủ mọi diệu dụng mĂ  người đời khĂŽng thể biết hết, nĂȘn nĂłi “giải thoĂĄt bất tư nghì”. Thế lĂ , NgĂ i đĂŁ đạt được bản hoĂ i trước khi phĂĄt nguyện đi tu. Cũng chĂ­nh lĂ  cĂĄi thĂ nh quả viĂȘn mĂŁn của bao nhiĂȘu năm NgĂ i khổ cĂŽng đeo đuổi.

Sau khi đạt được sở nguyện, NgĂ i đem phĂĄp củ;a mĂŹnh đĂŁ được chỉ dạy lại cho mọi người, để cĂčng giĂĄc ngộ như NgĂ i. Trong thời gian ấy, NgĂ i đĂŁ giới thiệu bao nhiĂȘu bản nguyện cĂŽng hạnh của chư Phật khắp mười phương cho đồ đệ nghe. Do đĂł, chĂșng ta được biết thĂȘm nhiều danh hiệu chư Phật khĂĄc. Đức Phật lĂ  một con người thật, cĂł cha cĂł mẹ cĂł lịch sử rĂ” rĂ ng vĂ  sự giĂĄc ngộ của NgĂ i cũng hoĂ n toĂ n chĂąn thật. ChĂșng ta cĂł thể kiểm chứng sự giĂĄc ngộ ấy qua Tam Tạng giĂĄo điển của NgĂ i cĂČn lưu lại. ĐĂł lĂ  vấn đề Phật phĂĄp.

THẾ NÀO LÀ PHẬT PHÁP?

Phật phĂĄp lĂ  những điều đức Phật chứng kiến được sau khi giĂĄc ngộ, đem chỗ chứng kiến ấy nĂłi lại để cho mọi người hiểu biết để dứt sạch mĂȘ lầm vĂ  giĂĄc ngộ như NgĂ i. ChĂ­nh từ chỗ chứng kiến của NgĂ i nĂłi ra, khĂŽng phải do suy tư phỏng đoĂĄn như nhiều triết thuyết khĂĄc. VĂŹ thế, Phật phĂĄp lĂ  những chĂąn lĂœ, tĂčy trĂŹnh độ của người, Phật nĂłi cĂł sai biệt: ChĂąn lĂœ phổ biến, ChĂąn lĂœ tương đối, ChĂąn lĂœ tuyệt đối.

CHÂN LÝ PHỔ BIẾN

ChĂąn lĂœ phổ biến lĂ  những sự thật hiện hữu trĂ n đầy trĂȘn vạn vật. Những sự thật ấy đức Phật chỉ ra, chĂșng ta chịu khĂł khảo sĂĄt một cĂĄch tinh tế sẽ thấy hiển nhiĂȘn khĂŽng sai lệch. Trước hết nhĂŹn theo dĂČng thời gian, Phật nĂłi:

I. NhĂąn quả:

Tất cả sự vật cĂł hĂŹnh tướng, cĂł tĂĄc động đều hĂŹnh thĂ nh bằng nhĂąn quả. NhĂąn quả trĂčm khắp cả mọi sự vật, khĂŽng một sự vật nĂ o cĂł thể thoĂĄt ngoĂ i nhĂąn quả được. Song trong nhĂąn đến quả cĂł chĂĄnh nhĂąn, trợ  nhĂąn, thuận nhĂąn, nghịch nhĂąn nĂȘn trở thĂ nh vấn đề phức tạp. Lại cĂł những trường hợp vĂŹ nhĂąn quĂĄ nhỏ nhiệm, nhĂąn xa xĂŽi khiến người ta khĂŽng thể thấy, khĂŽng thể nhớ mĂ  biến thĂ nh khĂł hiểu. ChĂșng ta thử nhĂŹn từ lĂŁnh vực thực vật, động vật... để minh chứng lĂœ nhĂąn quả.

1. Về thực vật.  KhĂŽng một thứ cĂąy loại cỏ nĂ o mĂ  chẳng từ nhĂąn thĂ nh quả. Hoặc cĂł thứ nhĂąn của nĂł lĂ  hạt, cĂł thứ nhĂąn nĂł lĂ  lĂĄ, cĂł thứ nhĂąn nĂł lĂ  ngọn, cĂł thứ nhĂąn nĂł lĂ  rễ, lĂ  thĂąn. Từ cĂĄi nhĂąn ấy nẩy mầm sanh trưởng thĂ nh cĂąy, đơm hoa, kết quả. KhĂŽng cĂł loĂ i thực vật nĂ o ngẫu nhiĂȘn khĂŽng nhĂąn thĂ nh quả.

VĂ­ dụ, hạt cam lĂ  nhĂąn, lĂȘn thĂ nh cĂąy cam cĂł trĂĄi cam lĂ  quả. Hạt ớt lĂ  nhĂąn, lĂȘn thĂ nh cĂąy ớt cĂł trĂĄi ớt lĂ  quả... CĂł nhĂąn ắt phải cĂł quả. Song trong ấy cĂČn tĂčy thuộc thuận nhĂąn hay nghịch nhĂąn, mĂ  thĂ nh quả hay bất thĂ nh quả. Như cĂł hạt cam lĂ  chĂĄnh nhĂąn, cĂł phĂąn, đất, nước, ĂĄnh nắng... lĂ  trợ nhĂąn, được săn sĂłc vun quĂ©n lĂ  thuận nhĂąn, hạt cam ấy sẽ nẩy mầm sanh trưởng thĂ nh cĂąy cam vĂ  cĂł trĂĄi cam khĂŽng sai. Ngược lại, cĂł hạt cam mĂ  thiếu phĂąn đất nước ĂĄnh nắng... thĂŹ khĂŽng thể nẩy mầm sanh cĂąy cam, huống lĂ  cĂł trĂĄi cam. Hoặc cĂł hạt cam, cĂł phĂąn đất nước ĂĄnh nắng... mĂ  thiếu người săn sĂłc vun quĂ©n thĂŹ cĂł thể cĂł cĂąy cam mĂ  khĂł mong cĂł quả cam. Hoặc cĂł hạt cam, cĂł phĂąn đất nước ĂĄnh nắng... cĂł người vun quĂ©n, song bị sĂąu trĂčng ăn gốc, đục trong thĂąn cĂąy - nghịch nhĂąn - thĂŹ cĂąy cam ấy sẽ bị hoại. Hoặc cĂł trường hợp dường như khĂŽng nhĂąn mĂ  thĂ nh quả. Như chĂșng ta dọn sạch một thửa đất để trồng trọt. Thửa đất ấy, chĂșng ta cuốc khĂŽng cĂČn một gốc cỏ, lượm sạch khĂŽng sĂłt một cọng cỏ, ta tự cho lĂ  đất thật sạch. Thế mĂ , qua một vĂ i trận mưa, chĂșng ta thấy từ lĂČng đất cỏ vọt lĂȘn lấm tấm đều hết. Cỏ nĂ y từ đĂąu đến? Phải chăng đất sanh cỏ? Thật khĂŽng phải thế, bởi những hạt cỏ li ti đĂŁ nằm sẵn trong lĂČng đất mĂ  mắt chĂșng ta khĂŽng thể thấy. Gặp mưa, chĂșng nẩy mầm lĂȘn cĂąy lĂ  lĂœ đương nhiĂȘn. ĐĂąy lĂ  vĂŹ nhĂąn nhỏ nhiệm chĂșng ta khĂŽng thấy, nĂȘn cĂł những nhận xĂ©t sai lầm.

Lại cĂł trường hợp khĂĄc, một hĂŽm Tăng chĂșng trong chĂča chĂșng tĂŽi ra thăm vườn, bẻ được hai trĂĄi mĂŁng cầu xiĂȘm, từ hai cĂąy mĂŁng cầu cĂĄch nhau độ bốn thước tĂąy. Khi xẻ ra ăn, cả chĂșng đều ngạc nhiĂȘn, trố mắt nhĂŹn nhau, đặt cĂąu hỏi: Tại sao cĂčng một loại, chung một thửa đất, mĂ  trĂĄi nĂ y ngọt, trĂĄi kia chua? Mỗi người đề;u cĂł giả thuyết khĂĄc nhau, riĂȘng tĂŽi chỉ cười thĂŽi. Cuối cĂčng, tĂŽi giải thĂ­ch cho họ nghe: Sở dĩ hai cĂąy cĂčng một loại, chung một thửa đất mĂ  mĂči vị khĂĄc nhau, do trước kia tĂŽi lấy hạt của hai trĂĄi mĂŁng cầu chua vĂ  ngọt ương trồng, nĂȘn kết quả như thế. ĐĂł lĂ  vĂŹ nhĂąn xa xĂŽi khiến người ta khĂŽng thể biết, nĂȘn sanh nghi ngờ. Bởi những lĂœ do trĂȘn, nhĂąn quả trở thĂ nh tế nhị phức tạp, nếu người nhận xĂ©t nĂŽng nổi đơn thuần thĂŹ khĂł thấu triệt được.

2. Về động vật. Tất cả loĂ i động vật hĂŹnh thĂ nh cũng từ nhĂąn đến quả. CĂł loĂ i động vật nhĂąn lĂ  trứng, cĂł loĂ i động vật nhĂąn từ bĂ o thai, cĂł loĂ i động vật nhĂąn từ loĂ i khĂĄc hĂła ra. KhĂŽng cĂł loĂ i động vật nĂ o tự nhiĂȘn mĂ  cĂł, song cĂł cũng tĂčy thuộc chĂĄnh nhĂąn, trợ nhĂąn, thuận nhĂąn, nghịch nhĂąn, sự sanh trưởng của nĂł được hoĂ n hảo hay suy kĂ©m, hoặc hoại diệt chẳng hạn.

ĐĂąy lĂ  nĂłi nhĂąn quả trĂȘn vạn vật cĂł hĂŹnh tướng. ChĂșng ta cĂł thể khẳng định rằng “tất cả loĂ i sanh vật trĂȘn quả địa cầu vĂ  cả quả địa cầu nĂ y đều nằm gọn trong lĂČng nhĂąn quả”.

3. Về tĂĄc động. Chẳng những nhĂąn quả trĂčm khắp mọi loĂ i mọi vật cĂł hĂŹnh tướng, mĂ  nhĂąn quả cũng bao gồm mọi tạo tĂĄc mọi hĂ nh động của mọi loĂ i. Ở đĂąy chĂșng ta chĂș mục vĂ o loĂ i người để thấy rĂ” nhĂąn quả.

Những tĂĄc động về thĂąn miệng của chĂșng ta cĂł tĂĄnh cĂĄch lợi người, đem lại nguồn an vui cho người, lĂ  tĂĄc động lĂ nh. NĂł sẽ mang lại cho ta sự an vui ngay hiện tại, hoặc sau nĂ y, gọi lĂ  quả lĂ nh. Những tĂĄc động cĂł tĂĄnh cĂĄch thương tổn khiến người đau khổ, gọi lĂ  nhĂąn dữ. NĂł sẽ chuốc lấy sự đau khổ trở về ta ngay hiện tại, hoặc mai kia, gọi lĂ  quả dữ.

VĂ­ dụ, chĂșng ta ra tay cứu giĂșp người hoạn nạn nguy khốn, qua cơn hoạn nạn họ vui vẻ cĂĄm ơn ta. ChĂ­nh khi thấy họ an ổn, lĂČng chĂșng ta cũng vui lĂąng lĂąng. Mặc dĂč chĂșng ta khĂŽng mong gĂŹ hơn nữa, song người thọ ơn bao giờ cũng nghĩ đến 3;ền đĂĄp, nếu gặp cơ hội tốt, họ sẽ đền ơn ta. Ngược lại, chĂșng ta lĂ m thương tổn khiến người đau khổ, họ sẽ bực tức oĂĄn hờn phản khĂĄng ta. ChĂ­nh khi ấy lĂČng chĂșng ta cũng bị bất an. Nếu mai kia họ gặp dịp thuận tiện sẽ trả thĂč, khiến chĂșng ta bị khổ đau hơn, họ mới vừa lĂČng. ĐĂł lĂ  nhĂąn lĂ nh gặt quả lĂ nh, nhĂąn dữ chịu quả dữ.

Nhưng cũng cĂł những trường hợp dường như ngoại lệ, mĂ  thật khĂŽng phải. Như chĂșng ta đĂŁ gieo nhĂąn lĂ nh hoặc dữ, mĂ  suốt đời khĂŽng gặt được  kết quả; vĂŹ nhĂąn chưa chĂ­n muồi mĂ  bĂĄo thĂąn chĂșng ta đĂŁ hoại, nhĂąn ấy sẽ cĂČn tiếp tục theo thời gian chớ khĂŽng mất. Hoặc cĂł khi chĂșng ta khĂŽng gĂąy nhĂąn lại chịu quả. VĂŹ nhĂąn xa xĂŽi cĂČn lưu lại, chĂșng ta khĂŽng nhớ.

TĂĄc động của Ăœ cĂČn thầm lặng bĂȘn trong chưa phĂĄt lộ ra, song nĂł rất nguy hiểm. VĂŹ thĂąn miệng đều do nĂł chủ động sai khiến. NĂł dấy nhĂąn lĂ nh thĂŹ thĂąn miệng theo đĂł tạo nhĂąn lĂ nh, nĂł dấy nhĂąn dữ thĂŹ thĂąn miệng theo đĂł tạo nhĂąn dữ. Cho nĂȘn, người hiểu lẽ nhĂąn quả đối với tĂĄc động của Ăœ, phải dĂš dặt tối đa. TĂĄc động của Ăœ cĂł nhĂąn quả cũng y hệt thĂąn miệng.

Tuy nhiĂȘn, nhĂąn quả, khĂŽng phải đơn giản như nhiều người đĂŁ hiểu “gĂąy nhĂąn lĂ nh được quả lĂ nh, tạo nhĂąn dữ bị quả dữ”. Vẫn cĂł những trường hợp dường như trĂĄi lại. Bởi vĂŹ nhĂąn quả lĂ  một dĂČng biến động theo thời gian. Thời gian cĂł quĂĄ khứ, hiện tại, vị lai thĂŹ nhĂąn quả khĂŽng thể chặn một quĂŁng mĂ  đoĂĄn định được. ChĂșng ta muốn hiểu thấu đĂĄo nhĂąn quả phải căn cứ vĂ o ba thời mĂ  khảo sĂĄt. Nắm chắc lĂœ nhĂąn quả, chĂșng ta sẽ cĂł sức tự tĂ­n mĂŁnh liệt, vĂŹ khĂŽng cĂČn lệ thuộc vĂ o sức thiĂȘng liĂȘng bĂȘn ngoĂ i. ChĂșng ta tự nhận lĂ  chủ nhĂąn ĂŽng toĂ n cả cuộc đời của mĂŹnh.

NhĂąn quả lĂ  dĂČng biến động sanh diệt tiếp nối, nĂȘn nĂł lĂ  hiện thĂąn của VĂŽ thường. VĂŹ vĂŽ thường nĂȘn mĂŁi lăn lộn trong vĂČng sanh diệt, cũng lĂ  thĂ nh quả của luĂąn hồi. Chủ thuyết nhĂąn quả khĂŽng phải cố định cứng khằng, mĂ  linh động thăng giĂĄng, tĂčy theo sự đủ thiếu cĂĄc nhĂąn của nĂł. Người học Phật nhận chắc lĂœ nhĂąn quả, lĂ  đĂŁ cĂł căn bản vững vĂ ng trĂȘn đường tiến tu. Đồng thời cũng gạt phắt những thuyết mĂȘ tĂ­n vu vơ như: đồng bĂłng, bĂłi xăm, tướng số, may rủi... VĂŹ biết rĂ” mọi tĂĄc động đẹp xấu của chĂșng ta, sẽ cải tạo xĂąy dựng một cuộc đời vui khổ trong hiện tại vĂ  vị lai. CĂČn băn khoăn trĂŽng đợi, thắc mắc điều gĂŹ mĂ  phải đi coi bĂłi tướng số? Thế lĂ , chĂșng ta can đảm nhận chịu mọi trĂĄch nhiệm hay dở do mĂŹnh gĂąy nĂȘn, khĂŽng cĂČn oĂĄn hờn kĂȘu than chi cả. Cũng phĂĄ tan những bệnh chấp: định mạng, nhất nhĂąn, vĂŽ nhĂąn. VĂŹ biết rĂ” vạn vật trĂȘn thế gian khĂŽng cĂł cĂĄi gĂŹ cố định, duy nhất, ngẫu nhiĂȘn, mĂ  đều do nhĂąn quả hĂŹnh thĂ nh.

II. DuyĂȘn sanh:

NhĂŹn về mặt khĂŽng gian, vạn vật đều do cĂĄc duyĂȘn chung hợp thĂ nh hĂŹnh. Cho nĂȘn nĂłi “cĂĄc phĂĄp từ duyĂȘn sanh”. DuyĂȘn lĂ  chỉ cho nhiều phần tử tổ hợp thĂ nh một vật thể. Vật thể khĂŽng tự cĂł, phải do nhiều nguyĂȘn tố hay nhiều phần tử chung hợp. NĂłi tới duyĂȘn sanh lĂ  khĂŽng chấp nhận sự đơn thuần, mĂ  khẳng định lĂ  hợp thể. Vạn vật cĂł hĂŹnh tướng trĂȘn quả địa cầu vĂ  kể luĂŽn quả địa cầu đều do cĂĄc duyĂȘn chung hợp thĂ nh hĂŹnh. Cho đến những thứ khĂŽng cĂł hĂŹnh tướng, chỉ cĂł tĂĄc động, cũng thuộc duyĂȘn sanh.

Trước khảo sĂĄt những vật cĂł hĂŹnh tướng gần chĂșng ta nhất. Như cĂĄi bĂ n viết hiện đĂąy của ta, trước nĂł khĂŽng tự cĂł, phải cĂł gỗ, cĂł đinh, cĂł bĂ o, cĂł đục, cĂł cưa... vĂ  cĂł ĂŽng thợ mộc, do sự cưa xẻ bĂ o đục kết rĂĄp của ĂŽng, sau mới thĂ nh cĂĄi bĂ n. Những nguyĂȘn liệu dụng cụ vĂ  ĂŽng thợ mộc, đều lĂ  duyĂȘn chung hợp thĂ nh cĂĄi bĂ n. Nếu cĂł người hỏi: cĂĄi bĂ n nĂ y do vật gĂŹ lĂ m ra, chĂșng ta đĂĄp:  do ĂŽng thợ mộc, hoặc do gỗ... ĐĂł lĂ  lối đĂĄp đơn thuần, khĂŽng đĂșng toĂ n thể của cĂĄi bĂ n. Nếu chấp lối đĂĄp ấy đĂșng, thĂŹ mắc phải bệnh thiĂȘn kiến.

Đến như cĂĄi nhĂ  chĂșng ta hiện ở hoặc nhĂ  lĂĄ hay nhĂ  gạch, trước nĂł cũng khĂŽng tự cĂł. Nếu lĂ  nhĂ  lĂĄ, phải cĂł cột kĂšo đĂČn tay cĂąy lĂĄ rồi, sau chĂșng ta mới rĂĄp lại thĂ nh cĂĄi nhĂ . Nếu lĂ  nhĂ  gạch, phải cĂł gạch xi măng cĂĄt vĂŽi ngĂłi gỗ vĂ  thợ hồ, mới xĂąy thĂ nh cĂĄi nhĂ . Khi thĂ nh hĂŹnh cĂĄi nhĂ , gọi lĂ  duyĂȘn hợp; khi cĂĄi nhĂ  hư hoại đi, gọi lĂ  duyĂȘn tan. Chỉ do duyĂȘn hợp duyĂȘn tan, thật thể cĂĄi nhĂ  vốn khĂŽng thật cĂł.

Khảo sĂĄt như thế qua mọi sự vật, chĂșng ta khĂŽng thấy cĂł một sự vật nĂ o khĂŽng phải duyĂȘn hợp mĂ  thĂ nh. DĂč vật nhỏ bĂ© như cĂąy kim ngọn cỏ, vật to lớn như nĂși biển quả địa cầu, đều nằm chung trong một thĂŽng lệ ấy.

Cho đến những thứ khĂŽng cĂł hĂŹnh tướng, chỉ thấy tĂĄc động, cũng do duyĂȘn hợp mĂ  cĂł. Như điện, giĂł, chĂșng ta khĂŽng thấy hĂŹnh tướng nĂł, chỉ biết khi tĂĄc động dấy khởi. Về điện thĂŹ cĂł điện Ăąm điện dương, phối hợp mới phĂĄt khởi hiện tượng. Về giĂł phải cĂł khĂ­ nặng khĂ­ nhẹ... mới cĂł hoạt động.

Nơi con người, tư tưởng dấy khởi cũng phải cĂł sĂĄu cơ quan lĂ m chỗ tựa vĂ  đối diện với trần cảnh bĂȘn ngoĂ i. Nếu ba phần - tư tưởng, cơ quan, trần cảnh mĂ  thiếu một thĂŹ, khĂŽng sao dấy khởi được. Thế nĂȘn mọi tĂĄc động cĂł ra, đều do duyĂȘn hợp mĂ  cĂł.

NĂłi duyĂȘn sanh lĂ  nhằm vĂ o hợp thể, choĂĄn một khoảng khĂŽng gian. ĐĂŁ lĂ  hợp thể thĂŹ khĂŽng cĂł tự thể vĂ  thật thể. Tự thể đĂŁ khĂŽng thĂŹ, tĂȘn đặt cho sự vật cũng rỗng. VĂ­ như tĂȘn “cĂĄi nhà”, chĂșng ta phĂąn tĂ­ch từng viĂȘn gạch, từng miếng ngĂłi v.v... ra, tĂŹm xem cĂĄi gĂŹ lĂ  “cĂĄi nhà”? Chỉ khi hợp thể thĂ nh hĂŹnh, tạm đặt cho nĂł một cĂĄi tĂȘn. CĂĄi tĂȘn ấy chỉ cĂł giĂĄ trị tạm thời, từ khi hợp thể thĂ nh hĂŹnh, bởi trước vĂ  sau nĂł vốn khĂŽng cĂł. ChĂ­nh ngay khi thĂ nh hĂŹnh, chĂșng ta phĂąn tĂ­ch từng đơn vị một, tĂŹm tự thể cĂĄi tĂȘn chung ấy, vẫn khĂŽng cĂł. NĂȘn nĂłi: “cĂĄc phĂĄp duyĂȘn sanh tự thể lĂ  khĂŽng”. Trước khĂŽng, sau khĂŽng, giữa cũng chẳng thật, nĂȘn sự cĂł mặt của cĂĄc hợp thể lĂ  hư giả huyễn hoĂĄ. Do đĂł, nĂłi đến lĂœ duyĂȘn sanh thĂŹ, xem vạn vật đều như huyễn như hoĂĄ.

ThĂŽng suốt lĂœ duyĂȘn sanh, chĂșng ta thoĂĄt khỏi hai chứng bệnh: thiĂȘn kiến vĂ  mĂȘ lầm. Nhất lĂ  bệnh mĂȘ lầm, quả lĂ  bệnh trầm kha khĂł chữa trị. Vạn vật do hợp thể mĂ  cĂł, hư giả khĂŽng thật, lại mĂȘ lầm chấp lĂ  thật. VĂŹ chấp thật nĂȘn theo đĂł cĂł yĂȘu ghĂ©t vĂ  sanh tham sĂąn. ĐĂł lĂ  nguyĂȘn nhĂąn mĂŁi lăn trong vĂČng luĂąn hồi sanh diệt. Biết rĂ” duyĂȘn sanh hợp thể hư giả lĂ , dứt mĂȘ lầm chuyển thĂ nh trĂ­ tuệ. ĐĂąy lĂ  cửa ngĂ” của lĂąu đĂ i giĂĄc ngộ.

Trong phần “ChĂąn lĂœ phổ biến”, lĂœ nhĂąn quả vĂ  duyĂȘn sanh lĂ  hai sự thật, trĂ n đầy trĂȘn vạn vật vĂ  mọi tĂĄc động của chĂșng sanh. Sự thật ấy, quĂĄ khứ hiện tại vị lai đều khĂŽng thay đổi. Song nĂł tinh vi khĂł hiểu, người chịu khĂł nghiền ngẫm phĂąn tĂ­ch kỹ cĂ ng mới nhận ra được. Hai sự thật nĂ y nhằm vĂ o hai chiều của vũ trụ, nhĂąn quả chạy suốt chiều dọc thời gian, nhĂąn duyĂȘn xuyĂȘn tột chiều ngang khĂŽng gian. Do đĂł, gọi lĂ  “ChĂąn lĂœ phổ biến”.

CHÂN LÝ TƯƠNG ĐỐI

ChĂąn lĂœ tương đối lĂ  những sự thật cĂČn nằm trong đối đĂŁi đối trị nhau. Những sự đối đĂŁi ấy lĂ : sĂĄng đối tối, lạnh đối nĂłng, xấu đối tốt, thiện đối ĂĄc, khổ đối vui, động đối tịnh, sanh diệt đối vĂŽ sanh...CĂČn sanh hoạt trong tương đối thĂŹ, cĂł xấu phải cĂł tốt, cĂł thiện phải cĂł ĂĄc, cĂł khổ phải cĂł vui..., chĂșng ta khĂŽng thể chối cĂŁi sự thật ấy được. Chỗ khĂŽn ngoan của chĂșng ta lĂ , khĂ©o lợi dụng cĂĄi nĂ y đối trị cĂĄi khĂĄc, để tiến lĂȘn đĂșng nguyện vọng của mĂŹnh. Như lương y biết bệnh biết thuốc, khĂ©o dĂčng thuốc trị lĂ nh bệnh cho người. Phật phĂĄp lĂ  những phương thuốc trị lĂ nh bệnh cho chĂșng sanh, nĂȘn gọi Phật lĂ  Ông vua thầy thuốc (VĂŽ thượng y vương). Ở đĂąy, chĂșng ta chỉ đơn cử vĂ i lối đối trị để lĂ m sĂĄng tỏ lẽ nĂ y.

SĂĄng đối tối. ChĂșng ta biết tối khĂŽng phải tự nĂł tối, mĂ  do nhĂąn duyĂȘn thiếu ĂĄnh sĂĄng. Nếu ta khĂ©o tạo điều kiện - đĂšn dầu, đuốc, đĂšn điện...- cho nĂł ĂĄnh sĂĄng thĂŹ bĂłng tối tự mất. Ngược lại, muốn cĂł bĂłng tối cũng như thế. ĐĂąy lĂ  cĂĄi tối, sĂĄng của hiện tượng bĂȘn ngoĂ i. Đến cĂĄi tối, sĂĄng tinh thần bĂȘn trong của chĂșng ta cũng cĂł nhĂąn duyĂȘn. NhĂąn thiếu học, thiếu đọc sĂĄch khiến ta tối dốt. DĂčng ĂĄnh sĂĄng học tập đọc sĂĄch... thĂŹ cĂĄi tối dốt dần dần tiĂȘu diệt.

NĂłng đối lạnh. ChĂșng ta nhĂąn chạm khĂ­ lạnh, giĂł lạnh, nước lạnh... nĂȘn phĂĄt lạnh run. Biết thế, chĂșng ta phải tạo điều kiện cho cĂł hơi nĂłng để đối trị, như đốt lửa hơ, lĂČ sưởi ấm, mền bĂŽng trĂčm... Ngược lại, gặp khĂ­ nĂłng chĂșng ta phải dĂčng cĂĄc thứ lạnh trị, như nước, giĂł, mĂĄy điều hĂČa... Nếu lạnh trong thĂąn thĂŹ dĂčng thuốc nĂłng trị.

Khổ đối vui. Khổ cĂł nhiều loại: khổ do đĂłi rĂ©t, khổ do bệnh tật, khổ do vĂŽ minh phiền nĂŁo... Nếu khổ do đĂłi rĂ©t, chĂșng ta phải nỗ lực tạo điều kiện cho cĂł ăn cĂł mặc, tức lĂ  lấy cĂĄi vui no ấm trị cĂĄi khổ đĂłi rĂ©t. Nếu khổ vĂŹ bệnh tật, chĂșng ta phải dĂčng thuốc thang điều trị, lấy cĂĄi vui khỏe mạnh trị cĂĄi khổ bệnh tật. Nếu khổ do vĂŽ minh phiền nĂŁo, chĂșng ta phải lấy chĂĄnh phĂĄp của Phật trị nĂł. VĂŽ minh phiền nĂŁo tức lĂ  si tham sĂąn. Si mĂȘ lĂ  vĂŽ minh, tham sĂąn lĂ  phiền nĂŁo.

Bệnh si mĂȘ, chĂșng ta dĂčng trĂ­ tuệ điều trị. Tức lĂ  dĂčng phĂĄp “quĂĄn giới phĂąn biệt” hay “quĂĄn nhĂąn duyĂȘn”. Bởi chĂșng ta lười biếng khĂŽng chịu phĂąn tĂ­ch quĂĄn sĂĄt nĂȘn tĂąm trĂ­ mờ tối. PhĂąn tĂ­ch nội tĂąm tự thĂąn vĂ  ngoại cảnh cĂł chia từng phần từng giới hạn, gọi lĂ  quĂĄn giới phĂąn biệt. ChĂ­nh sự chia chẻ quĂĄn sĂĄt ấy, khiến chĂșng ta thấy rĂ” thĂąn tĂąm nĂ y khĂŽng thật, trĂ­ tuệ do đĂł dần dần phĂĄt sanh. Hoặc dĂčng quĂĄn nhĂąn duyĂȘn, khĂ©o khảo sĂĄt như phần “duyĂȘn sanh” trong mục ChĂąn lĂœ phổ biến ở trước.

Bệnh tham lam, cần phải tra xĂ©t coi tham thuộc loại nĂ o trong năm thứ tham: tham tiền của, tham sắc đẹp, tham danh vọng, tham ăn uống, tham ngủ nghỉ.

Tham tiền của thĂŹ dĂčng bố thĂ­ trị. Bởi vĂŹ tham thĂŹ muốn gom gĂłp gĂŹn giữ, mĂ  bố thĂ­ thĂŹ ban cho, cứu giĂșp chia sớt. ChĂ­nh của mĂŹnh cĂČn mang ra cứu giĂșp chia sớt kẻ khĂĄc, huống lĂ  của họ mĂ  mĂŹnh muốn gom gĂłp về, thật vĂŽ lĂœ. Do thật tĂąm bố thĂ­ thĂŹ bệnh tham tiền của từ từ lĂ nh hẳn.

Tham sắc đẹp vĂ  ăn uống phải dĂčng phĂĄp “quĂĄn bất tịnh” điều trị. Bất tịnh lĂ  bẩn thỉu nhơ nhớp. XĂ©t nơi thĂąn mĂŹnh từ trong đến ngoĂ i toĂ n trữ những đồ nhơ nhớp, như cĂĄi bĂŽ đậy kĂ­n, nếu nĂł hở rỉ ở đĂąu sẽ nghe mĂči hĂŽi thối trĂ n ra đấy. Những thứ nước hoa, mĂči son phấn, đều lĂ  loại sơn vẽ khĂ©o của cĂĄi bĂŽ. Nếu thật con người lĂ  sạch sẽ, cần gĂŹ phải tĂŽ điểm. CĂĄc loại tĂŽ điểm ấy chẳng qua lĂ , lối đĂĄnh lừa mắt mũi kẻ khĂĄc mĂ  thĂŽi. Những thức ăn uống lĂșc cĂČn bĂȘn ngoĂ i dường như thơm ngon, song khi qua khỏi cổ, sẽ biến thĂ nh những đồ bất tịnh. Thường dĂčng lối quĂĄn sĂĄt thĂąn nhơ nhớp như thế, sẽ trị lĂ nh bệnh tham sắc đẹp vĂ  ăn uống.

Tham danh vọng vĂ  ngủ nghỉ, nĂȘn dĂčng phĂĄp “quĂĄn vĂŽ thường” điều trị. VĂŽ thường lĂ  chỉ cho sự đời chợt cĂČn chợt mất khĂŽng bền bỉ lĂąu dĂ i. Danh vọng được đĂł rồi mất đĂł, như sương đầu ngọn cỏ, như lằn điện chớp. Thường nghĩ xĂ©t như thế thĂŹ cĂČn lĂČng nĂ o đeo đuổi danh vọng. Đời người mỏng manh sớm cĂČn tối mất, lĂșc cĂČn khoẻ mạnh cĂČn hoạt động, chĂșng ta phải quĂ­ tiếc thời gian, nỗ lực lĂ m lợi Ă­ch cho mĂŹnh cho người, đừng để một đời trĂŽi qua vĂŽ Ă­ch. Thấy rĂ” như vậy thĂŹ, đĂąu cam giết chết thĂŹ giờ trong cĂĄi ngủ nghỉ.

SĂąn hận dĂčng phĂĄp “quĂĄn từ bi” hạnh “nhẫn nhục” vĂ  “hỉ xả”, trị nĂł. SĂąn lĂ  nĂłng giận, hận lĂ  hờn phiền. NĂłng giận muốn la rầy đĂĄnh đập cho đĂŁ cơn giận, khiến người phải đau khổ. Bởi vĂŹ khi giận thĂŹ khĂŽng thương, lĂșc thương thĂŹ khĂŽng giận. Từ bi lĂ  hằng đem lĂČng thương chan rải khắp mọi người, xem sự vui khổ của người như sự vui khổ của chĂ­nh bản thĂąn mĂŹnh. Thương người như mĂŹnh, cĂČn lĂČng nĂ o hại người đau khổ. Tay trĂĄi lỡ đập tay phải đau điếng, tay phải cam nhận chịu khĂŽng đập lại, vĂŹ biết cĂčng một thĂąn mĂŹnh. LĂČng thương xem người như mĂŹnh, dĂč bị người lĂ m đau khổ mấy cũng nhịn chịu, khĂŽng nĂłng giận hại lại. Nhẫn nhục lĂ  nhịn chịu. Khi cơn nĂłng nổi lĂȘn cố gắng dằn Ă©p xuống, để giữ bĂŹnh tĩnh vĂ  nhịn chịu cho qua. Bởi đĂš Ă©p nĂȘn chỉ lĂ  phương tiện tạm thời khĂŽng thể hết gốc nĂłng giận. Chỉ cĂł quĂĄn từ bi thĂ nh cĂŽng thĂŹ gốc nĂłng giận mới tiĂȘu. Hờn phiền lĂ  lĂČng cĂČn ĂŽm ấp những mối bất bĂŹnh. Hỉ xả lĂ  vui vẻ buĂŽng bỏ hết, khiến lĂČng nhẹ nhĂ ng thơ thới. Ôm lĂČng hờn phiền lĂ  gốc bệnh hoạn khổ đau, vui vẻ buĂŽng bỏ hết thĂŹ lĂČng vui tươi an ổn, bệnh hoạn khổ đau khĂŽng cĂł lĂœ do gĂŹ tồn tại.

Khổ từ ngoại cảnh, khổ nơi bản thĂąn, khổ của nội tĂąm, chĂșng ta khĂ©o lấy sự an vui đối trị. Vui no ấm, vui khoẻ mạnh, vui sĂĄng suốt, vui hết tham lam, vui khĂŽng nĂłng giận... trị lĂ nh cĂĄc bệnh khổ ở trĂȘn.

Khổ lĂ  thĂ nh quả xấu do nhĂąn duyĂȘn xấu tạo nĂȘn. Khổ về vật chất vĂ  thể xĂĄc, do nhĂąn duyĂȘn thiếu thốn hoặc phản nghịch của vật chất gĂąy nĂȘn. Khổ về tinh thần, do nhĂąn duyĂȘn si, tham, sĂąn... chủ động. Si lĂ  khĂŽng biết đĂșng lẽ thật nĂȘn sanh tham, tham khĂŽng được như Ăœ nĂȘn nổi sĂąn. Ba thứ nĂ y lĂ  nhĂąn chĂĄnh tạo nĂȘn quả khổ. Quả khổ lĂ  Khổ đế, nhĂąn duyĂȘn tạo nĂȘn nĂł lĂ  Tập đế. Biết rĂ” nguyĂȘn nhĂąn vĂ  cĂĄc duyĂȘn rồi, dĂčng Phật phĂĄp đối trị lĂ  Đạo đế. Khi mọi nhĂąn duyĂȘn gĂąy đau khổ dứt sạch, gọi lĂ  Diệt đế. ĐĂąy lĂ  Bốn lẽ thật (Tứ đế) nằm trong phĂĄp đối đĂŁi vĂ  đối trị.

Động đối tịnh. Động lĂ  xao xuyến rối loạn, tịnh lĂ  yĂȘn ổn lặng lẽ. Ở đĂąy riĂȘng giải thĂ­ch về cĂĄch đối trị của tĂąm thức. TĂąm thức chĂșng ta xao xuyến rối loạn khiến suy yếu mờ tối. Muốn dừng sự xao xuyến rối loạn nĂ y, chĂșng ta phải dĂčng sự yĂȘn ổn lặng lẽ đối trị. Song chĂșng ta phải biết rĂ” do nhĂąn duyĂȘn gĂŹ khiến tĂąm thức xao xuyến rối loạn. Bởi tĂąm thức chạy theo sự được mất tiền của, được mất sắc đẹp, được mất danh vọng, được mất ăn uống, được mất ngủ nghỉ, mĂ  thĂ nh xao xuyến rối loạn. Muốn dừng sự chạy theo ấy, Phật phĂĄp dạy chĂșng ta trước tiĂȘn phải giữ giới. Giới lĂ  hĂ ng rĂ o ngăn chận tĂąm thức chạy theo ngũ dục. Kế dĂčng phương phĂĄp thiền quĂĄn lĂ m sợi dĂąy cột nĂł lại. NgoĂ i cĂł hĂ ng rĂ o giới luật, trong cĂł sợi dĂąy thiền quĂĄn, con khỉ tĂąm thức sẽ thĂșc thủ ngồi yĂȘn, dần dần ngủ lịm. Giới cĂł năm giới, mười giới v.v... nhằm ngăn chận mọi sự đuổi theo ngoại cảnh của tĂąm thức. Thiền quĂĄn cĂł sổ tức quĂĄn, từ bi quĂĄn, bất tịnh quĂĄn, nhĂąn duyĂȘn quĂĄn..., cốt cột chặt tĂąm thức lại một chỗ, bắt buộc nĂł phải yĂȘn lặng. ĐĂąy lĂ  phương phĂĄp lấy tịnh trị động.

Sanh diệt đối vĂŽ sanh. Cặp đối nĂ y cũng gọi lĂ  sanh tử đối Niết-bĂ n. Sanh diệt lĂ  nĂłi chung cho muĂŽn loĂ i, sanh tử chỉ nĂłi riĂȘng cho loĂ i động vật. Sanh tử đối Niết-bĂ n, lại khu biệt hoĂ n toĂ n vĂ o người Phật tử. MuĂŽn loĂ i hằng chịu sanh diệt, mĂ  khĂŽng biết lẽ vĂŽ sanh, để dĂčng đối trị. Đức Phật sau khi giĂĄc ngộ đĂŁ thấy rĂ” lẽ ấy, nĂȘn dạy đệ tử lấy vĂŽ sanh đối trị sanh diệt hay sanh tử. VĂŽ sanh lĂ  nghĩa chĂĄnh của Niết-bĂ n. DĂČng tĂąm thức biến động lĂ  nguồn gốc sanh tử. TĂąm thức biến động bởi do luyến ĂĄi bản thĂąn vĂ  ngoại cảnh. Nếu biết rĂ” cảnh vật vĂŽ thường, thĂąn người vĂŽ ngĂŁ thĂŹ dĂČng luyến ĂĄi sẽ khĂŽ kiệt, tĂąm thức sẽ dừng lặng. TĂąm thức dừng lặng thĂŹ nhĂąn duyĂȘn sanh tử dứt bặt, đĂł lĂ  nghĩa vĂŽ sanh. VĂ­ như giĂł dừng thĂŹ sĂłng lặng, mặt biển sẽ bằng phẳng an lĂ nh. Luyến ĂĄi lĂ  động cơ thĂșc đẩy tĂąm thức sanh diệt, cĂČn luyến ĂĄi thĂŹ sanh tử khĂŽng bao giờ dứt. ChĂșng ta yĂȘu mến một người, người ấy vắng đi thĂŹ tĂŹm cĂĄch gặp lại, hoặc nơi nĂ y hay nơi khĂĄc. LĂČng yĂȘu mến thĂșc giục chĂșng ta tĂŹm gặp nhau mĂŁi mĂŁi. Chỉ khi lĂČng yĂȘu mến cạn thĂŹ, sự tĂŹm kiếm mới dừng. Trong phĂĄp Mười hai nhĂąn duyĂȘn, Ái lĂ  động cơ thĂșc đẩy cĂł Thủ, Hữu rồi Sanh LĂŁo Tử ở đời sau. Ái dứt thĂŹ Thủ Hữu khĂŽng cĂČn, lĂ m gĂŹ cĂł Sanh LĂŁo Tử tiếp nối. Ái lĂ  luồng giĂł mạnh thổi cuốn sĂłng tĂąm thức nổi dậy. GiĂł Ái dừng thĂŹ sĂłng tĂąm thức cũng theo đĂł mĂ  lặng. Bức tường chặn giĂł Ái khĂŽng gĂŹ hơn quĂĄn cĂĄc phĂĄp vĂŽ thường, quĂĄn thĂąn tĂąm vĂŽ ngĂŁ.

Bờ sĂŽng bĂȘn nĂ y lĂ  sanh tử, bờ sĂŽng bĂȘn kia lĂ  Niết-bĂ n. Thấy rĂ” như thế, hĂ nh giả cấp bĂĄch kết bĂš vượt dĂČng sĂŽng qua bờ bĂȘn kia, qua rồi từ biệt vĩnh viễn bờ sĂŽng bĂȘn nĂ y. ĐĂł lĂ  quan niệm chĂĄn sanh tử cầu Niết-bĂ n của hĂ ng Nhị thừa, vĂŹ cĂČn thấy sự đối đĂŁi lĂ  chĂąn thật. Cũng dĂčng phươ;ng phĂĄp đối trị nĂ y, song Bồ-tĂĄt chỉ thấy lĂ  phương tiện tạm thời, nĂȘn khĂŽng mắc kẹt ưa chĂĄn.

ChĂąn lĂœ tương đối bĂ ng bạc khắp thế gian. Bất luận nhĂąn loại vật loại ngĂŽn ngữ tư tưởng... phĂĄt xuất đều nằm gọn trong phạm vi của nĂł. ChĂșng ta khĂŽn khĂ©o ứng dụng tĂ i tĂŹnh những phản đề, để tiĂȘu diệt chĂșng theo đĂșng đường lối vươn lĂȘn của chĂșng ta. KhĂŽng biết dĂčng, hoặc dĂčng sai phương phĂĄp đối trị, mĂ  muốn tiĂȘu diệt chĂșng, khĂŽng bao giờ thĂ nh cĂŽng. Thầy thuốc hay, lĂ  người khĂ©o biết bệnh biết thuốc vĂ  dĂčng thuốc trị liệu đĂșng phương phĂĄp. VĂŹ thế, Phật phĂĄp gọi lĂ  “phương phĂĄp trị liệu”.

CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI

Một thực thể khĂŽng lệ thuộc nhĂąn quả, duyĂȘn sanh, thoĂĄt ngoĂ i đối đĂŁi lĂ  chĂąn lĂœ tuyệt đối. KhĂŽng thuộc nhĂąn quả nĂȘn khĂŽng sanh diệt vĂŽ thường. KhĂŽng thuộc duyĂȘn sanh nĂȘn khĂŽng phải hợp tướng giả dối. ThoĂĄt ngoĂ i vĂČng đối đĂŁi nĂȘn khĂŽng trị liệu, khĂŽng so sĂĄnh, khĂŽng luận bĂ n, khĂŽng suy nghĩ đến được. Thực thể nĂ y khĂŽng lệ thuộc thời gian, khĂŽng bị chi phối của khĂŽng gian, vượt ngoĂ i mọi đối tượng trong vũ trụ. ChĂ­nh nĂł lĂ  sanh mạng lĂ  mạch sống của chĂșng sanh, mĂ  chĂșng sanh khĂŽng nhận ra nĂł. NĂł hiển nhiĂȘn hằng cĂł mặt nơi chĂșng ta, mĂ  chĂșng ta lĂŁng quĂȘn nĂł một cĂĄch đĂĄng thương. NĂł lĂ  thể chẳng sanh chẳng diệt vĩnh cửu trường tồn của chĂșng ta, chĂșng ta khĂŽng biết đến nĂł, đi nhận cĂĄi sanh diệt tạm bợ lĂ m mĂŹnh. Bỏ quĂȘn thực thể nĂ y lĂ  vĂŽ minh lĂ  si mĂȘ, nhận được nĂł lĂ  giĂĄc ngộ lĂ  trĂ­ tuệ. Bỏ quĂȘn nĂł, đi theo sanh diệt lĂ  luĂąn hồi, nhận sống với nĂł lĂ  vĂŽ sanh giải thoĂĄt. Bởi thực thể nĂ y hệ trọng dường ấy, nĂȘn chĂșng ta phải biết: NĂł tĂȘn gĂŹ? LĂ m sao nhận ra nĂł? Nhận được nĂł cĂł lợi Ă­ch gĂŹ? ChĂșng tĂŽi sẽ theo thứ tự giải quyết những thắc mắc nĂ y.

Thực thể nĂ y nguyĂȘn khĂŽng cĂł tĂȘn, trong Phật phĂĄp tĂčy cĂŽng dụng gắng gượng đặt rất nhiều tĂȘn: Kinh Kim Cang gọi lĂ  Kim Cang BĂĄt-nhĂŁ Ba-la-mật tức lĂ  trĂ­ tuệ cứu kĂ­nh như kim cang. Bởi vĂŹ trĂ­ tuệ nĂ y khĂŽng cĂł cĂĄi gĂŹ phĂĄ hoại được nĂł, mĂ  nĂł hay phĂĄ hoại tất cả, như chất kim cang. Kinh ViĂȘn GiĂĄc gọi nĂł lĂ  ViĂȘn giĂĄc tĂĄnh, lĂ  tĂĄnh giĂĄc trĂČn đầy. VĂŹ đối với cĂĄc thứ chĂąn lĂœ, chĂșng ta nhận được từng phần chĂąn lĂœ nĂ o thĂŹ, giĂĄc ngộ phần chĂąn lĂœ ấy, nĂȘn gọi lĂ  phần giĂĄc. Chỉ nhận được ChĂąn lĂœ tuyệt đối nĂ y, mới gọi lĂ  giĂĄc ngộ viĂȘn mĂŁn. Kinh PhĂĄp Hoa gọi lĂ  Tri kiến Phật hay Phật thừa. Bởi vĂŹ nĂł lĂ  cĂĄi thấy biết Phật, lĂ  cỗ xe đưa người đến Phật quả. Kinh Hoa NghiĂȘm gọi lĂ  TrĂ­ tuệ Phật. VĂŹ nhận được thực thể nĂ y lĂ  trĂ­ tuệ giĂĄc ngộ của chư Phật. Kinh Lăng NghiĂȘm gọi lĂ  ChĂąn tĂąm hay Như lai tĂ ng. NĂł lĂ  tĂąm thể chĂąn thật hay kho tĂ ng Như Lai của chĂșng sanh. Kinh Duy-ma-cật gọi lĂ  PhĂĄp mĂŽn bất nhị, vĂŹ nĂł vượt ra ngoĂ i vĂČng đối đĂŁi hai bĂȘn. Thiền tĂŽng gọi lĂ  ChĂąn tĂĄnh. NĂł lĂ  tĂĄnh chĂąn thật của tất cả chĂșng sanh. Lại cĂČn những tĂȘn thĂŽng dụng lĂ : ChĂąn như, Phật tĂĄnh, PhĂĄp thĂąn, Đạo, Bản lai  diện  mục..., khĂŽng thể kể xiết.

Tạm biết tĂȘn thể nĂ y một cĂĄch khĂĄi quĂĄt rồi, chĂșng ta cần phải nhận ra mặt mĂ y nĂł mới lĂ  điều thiết yếu. Song phĂ m cĂł nĂłi năng cĂł trĂŹnh bĂ y đều thuộc về tương đối, lĂ m sao diễn đạt khiến người chưa hiểu nhận được. ĐĂąy quả lĂ  điều thiĂȘn nan vạn nan. Tuy nhiĂȘn, chĂșng tĂŽi cũng gắng gượng trước tạm đặt những nguyĂȘn tắc, kế dẫn lời Phật dạy trong kinh, sau cĂčng nhắc lại những phương tiện của Thiền sư, họa chăng quĂ­ độc giả cĂł nhận được phần nĂ o chăng?

ChĂșng ta tạm đặt những nguyĂȘn tắc để khả dĩ nhận ra mặt mĂ y của nĂł. PhĂ m cĂĄi gĂŹ “cĂł hĂŹnh tướng đều do duyĂȘn hợp lĂ  hư giả”, cĂĄi gĂŹ “cĂł tĂĄc động lĂ  sanh diệt”, cĂĄi gĂŹ “đối đĂŁi lĂ  khĂŽng thật”. Ngược lại, cĂĄi gĂŹ “khĂŽng hĂŹnh tướng, khĂŽng tĂĄc động, khĂŽng đối đĂŁi lĂ  chĂąn thật thường cĂČn vĂŽ sanh”. CĂĄi khĂŽng hĂŹnh tướng thĂŹ khĂŽng giới hạn chỗ nơi trong ngoĂ i. Vừa đặt cĂąu hỏi tĂŹm chỗ nơi nĂł lĂ  sai. CĂĄi khĂŽng tĂĄc động thĂŹ khĂŽng sanh diệt, khĂŽng bị vĂŽ thường theo thời gian. Đặt vấn đề thời gian với nĂł lĂ  sai. CĂĄi khĂŽng đối đĂŁi thĂŹ khĂŽng cĂČn so sĂĄnh khĂŽng phĂąn biệt. Đặt vấn đề so sĂĄnh phĂąn biệt với nĂł lĂ  sai. Thực thể nĂ y trĂ n đầy hiện hữu nơi chĂșng ta. Vừa dấy tĂąm tĂŹm kiếm nĂł lĂ  sai. NĂł lĂ  thực thể của giĂĄc tri, khĂŽng phải cĂĄi đối tượng giĂĄc tri. Nếu khởi nghĩ cầu biết nĂł lĂ  sai. NĂł khĂŽng hĂŹnh tướng, khĂŽng tĂĄc động, khĂŽng đối đĂŁi, mĂ  cĂł mặt khắp ba nơi ấy. Cho nĂȘn nghĩ ly khai hĂŹnh tướng tĂĄc động đối đĂŁi để tĂŹm nĂł lĂ  sai. Yếu chỉ nhận ra nĂł lĂ  tự ta “trực nhận, thầm nhận”. Lời Phật dạy, phương tiện Tổ chỉ đều lĂ  lối “đập cỏ rắn sợ” hay “vỗ nước cĂĄ đau đầu” mĂ  thĂŽi. ChĂșng ta muốn nhận ra nĂł phải khĂ©o nhĂŹn theo tinh thần “ngĂłn tay chỉ mặt trăng”. Mặt trăng khĂŽng nằm tại đầu ngĂłn tay, khĂ©o nương theo ngĂłn tay thấy mặt trăng ở tận trong hư khĂŽng. Hoặc nhĂŹn theo tinh thần soi gương. NhĂąn thấy bĂłng trong gương, biết được mặt thật của mĂŹnh, đừng chấp bĂłng lĂ  thật, đợi khi xoay gương mất bĂłng la hoảng lĂȘn “mất mĂŹnh”.

ĐĂąy lĂ  phương tiện tạm đặt những nguyĂȘn tắc, nương nĂł khả dĩ chĂșng ta thấy được thực thể chĂ­nh mĂŹnh.

Thực thể nĂ y biểu lộ thường xuyĂȘn nơi sĂĄu cơ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thĂąn, Ăœ) của chĂșng ta, mĂ  khĂŽng lệ thuộc hoĂ n toĂ n sĂĄu cơ quan ấy. Dễ nhận dễ thấy nhất lĂ , ở mắt vĂ  tai. VĂŹ thế, đức Phật khi muốn chỉ thực thể chẳng sanh chẳng diệt ấy, thường dĂčng phương tiện chỉ ngay nơi mắt vĂ  tai của chĂșng ta.

Kinh Lăng NghiĂȘm cĂł đoạn:

...Phật ở trong đại chĂșng đưa tay lĂȘn rồi nắm lại xĂČe ra, nắm lại xĂČe ra, hỏi ngĂ i A-nan: Nay ĂŽng thấy cĂĄi gĂŹ? A-nan thưa: Con thấy bĂ n tay trăm bĂĄu của Như Lai ở trong chĂșng xĂČe nắm. Phật bảo A-nan: Ông thấy tay ta ở trong chĂșng xĂČe nắm, lĂ  tay ta cĂł xĂČe cĂł nắm hay cĂĄi thấy của ĂŽng cĂł xĂČe cĂł nắm? A-nan thưa: Tay trăm bĂĄu của Thế TĂŽn ở trong chĂșng xĂČe nắm. Con thấy tay Như Lai tự xĂČe nắm, chẳng phải tĂĄnh thấy của con cĂł xĂČe nắm. Phật hỏi: CĂĄi nĂ o động cĂĄi nĂ o tịnh?  A-nan thưa: Tay Phật động, tĂĄnh thấy của con cĂČn khĂŽng cĂł tịnh, huống nữa lĂ  động. Phật khen: ĐĂșng thế!

LĂșc đĂł, trong lĂČng bĂ n tay Phật phĂłng một lĂ n hĂ o quang bĂĄu soi bĂȘn phải ngĂ i A-nan, A-nan liền xoay đầu nhĂŹn bĂȘn phả;i; lại phĂłng quang soi bĂȘn trĂĄi ngĂ i A-nan, A-nan xoay đầu nhĂŹn bĂȘn trĂĄi.

Phật hỏi A-nan: HĂŽm nay tại sao đầu ĂŽng dao động? A-nan thưa: Con thấy hĂ o quang bĂĄu của Như Lai phĂłng đến bĂȘn trĂĄi bĂȘn phải của con, con nhĂŹn theo hai bĂȘn nĂȘn đầu tự dao động.  Phật hỏi: Ông nhĂŹn hĂ o quang Phật soi bĂȘn trĂĄi bĂȘn phải nĂȘn đầu dao động, thế lĂ  đầu ĂŽng động hay cĂĄi thấy động?  A-nan thưa: Bạch Thế TĂŽn! Đầu con tự động, tĂĄnh thấy của con cĂČn chẳng dừng, huống lĂ  dao động. Phật khen: ĐĂșng thế!

Khi ấy, Như Lai bảo khắp đại chĂșng rằng: Nếu như chĂșng sanh nhận lấy cĂĄi dao động gọi lĂ  trần, nhận lấy cĂĄi dao động gọi lĂ  khĂĄch. CĂĄc ĂŽng xem  A-nan, đầu tự dao động cĂĄi thấy khĂŽng động. Lại xem ta, tay tự xĂČe nắm cĂĄi thấy khĂŽng xĂČe nắm. Tại sao hĂŽm nay cĂĄc ĂŽng lấy động lĂ m thĂąn, lấy động lĂ m cảnh, từ thủy đến chung niệm niệm sanh diệt, quĂȘn mất chĂąn tĂĄnh lĂ m việc điĂȘn đảo, tĂąm tĂĄnh đĂŁ mất chĂąn, nĂȘn nhận vật lĂ m mĂŹnh, ở trong luĂąn hồi tự chịu lưu chuyển.

(Kinh Lăng NghiĂȘm cuối quyển 1 HĂĄn tự)

Qua đoạn kinh nĂ y, chĂșng ta nhận thấy thĂąm Ăœ Phật muốn chỉ cho ngĂ i A-nan vĂ  đại chĂșng biết: Ngoại cảnh biến động sanh diệt như bĂ n tay Phật xĂČe nắm, thĂąn nĂ y dao động vĂŽ thường như đầu ngĂ i A-nan xoay qua lại. Chỉ cĂł cĂĄi thấy, xem thấy cảnh biến động mĂ  khĂŽng bị biến động, tựa nơi đầu dao động mĂ  khĂŽng bị dao động. CĂĄi biến động vĂ  dao động lĂ  vĂŽ thường hư giả, tại sao chĂșng ta nhận nĂł lĂ m thật thĂąn mĂŹnh, lĂ m thật cảnh của mĂŹnh? TrĂĄi lại, cĂĄi thấy biết chưa từng dao động lĂ  chĂąn thật vĂŽ sanh, mĂ  chĂșng ta lại bỏ quĂȘn nĂł, để cam chịu lưu chuyển luĂąn hồi.

Lại cũng một đoạn trong kinh Lăng NghiĂȘm:

Vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: Con xưa chưa từng nghe sự chỉ dạy của Phật, gặp Ca-chiĂȘn-diĂȘn, Tỳ-la-chi-tử đều nĂłi: “ThĂąn nĂ y sau khi chết khĂŽng cĂČn gĂŹ nữa, gọi lĂ  Niết-bĂ n.” Nay con tuy gặp Phật vẫn cĂČn hồ nghi “lĂ m sao phĂĄt huy chứng biết chỗ tĂąm nĂ y chẳng sanh chẳng diệt”? Đại chĂșng ở đĂąy, những người cĂČn trong hĂ ng hữu lậu, thảy đều thĂ­ch được nghe. Phật hỏi: Đại vương! Nhục thĂąn hiện tại của ĂŽng lĂ  đồng kim cang thường trụ chẳng hoại hay lĂ  biến hoại? Vua thưa: Bạch Thế TĂŽn! ThĂąn con hiện nay trọn theo biến diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông chưa từng diệt lĂ m sao biết nĂł diệt? Vua thưa: Bạch Thế TĂŽn! ThĂąn biến hoại vĂŽ thường của con tuy chưa từng diệt, song con xem hiện tiền niệm niệm đổi dời luĂŽn luĂŽn chẳng dừng, như lửa tĂ n thĂ nh tro dần dần tiĂȘu mất, mất hết khĂŽng dừng, nĂȘn biết thĂąn nĂ y sẽ theo tiĂȘu diệt. Phật bảo: Đại vương! ĐĂșng thế. Nay ĂŽng đĂŁ giĂ , đi theo suy yếu, nhan mạo đĂąu giống lĂșc cĂČn trẻ? Vua thưa : Bạch Thế TĂŽn! Thuở xưa con cĂČn trẻ da dẻ tươi nhuận, đến lĂșc trưởng thĂ nh khĂ­ huyết sung mĂŁn, nay con giĂ  cả suy yếu hĂŹnh sắc khĂŽ khan, tinh thần mờ tối, tĂłc bạc mặt nhăn khĂŽng cĂČn bao lĂąu sẽ chết, lĂ m sao sĂĄnh được với lĂșc sung thạnh? Phật bảo: Đại vương! HĂŹnh dung của ĂŽng đĂąu lẽ giĂ  liền? Vua thưa: Bạch Thế TĂŽn! NĂł thầm biến hĂła đổi dời thật con chẳng biết, nĂłng lạnh đổi thay dần dần đến như thế. VĂŹ sao? Khi con hai mươi tuổi tuy nĂłi niĂȘn thiếu, nhan mạo đĂŁ giĂ  hơn lĂșc mười tuổi, đến ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi tuổi, nay đĂŁ sĂĄu mươi hai tuổi xem lại thuở năm mươi tuổi rĂ” rĂ ng cường trĂĄng. Bạch Thế TĂŽn! Sự thầm đổi dời tuy đặt thời hạn mười năm, song con suy xĂ©t kỹ nĂł biến đổi đĂąu những mười năm hai mươi năm, mĂ  thật dời đổi từng năm; đĂąu chỉ từng năm, mĂ  dời đổi từng thĂĄng, đĂąu những từng thĂĄng mĂ  dời đổi từng ngĂ y. Suy xĂ©t chĂ­n chắn tế nhị hơn thĂŹ khoảng mỗi sĂĄt-na, mỗi niệm đổi dời. VĂŹ thế, biết thĂąn con trọn theo biến diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông thấy sự biến hĂła đổi dời chẳng dừng, ngộ biết thĂąn ĂŽng tiĂȘu diệt; cũng chĂ­nh khi diệt đĂł, ĂŽng biết trong thĂąn cĂł cĂĄi chẳng diệt chăng? Vua chấp tay bạch Phật: Thật con chẳng biết. Phật bảo: Nay tĂŽi chỉ cho ĂŽng biết cĂĄi tĂĄnh chẳng sanh diệt. Đại vương! Ông khi mấy tuổi được thấy sĂŽng Hằng? Vua thưa: Khi con được ba tuổi mẹ bồng đi yết kiến Kỳ-bĂ  ThiĂȘn sang ngang sĂŽng nĂ y, khi ấy lĂ  biết sĂŽng Hằng. Phật bảo: Đại vương! Như ĂŽng đĂŁ nĂłi, khi hai mươi tuổi giĂ  hơn mười tuổi, cho đến sĂĄu mươi tuổi, năm thĂĄng ngĂ y giờ niệm niệm đổi dời, ắt khi ĂŽng ba tuổi thấy sĂŽng Hằng đến năm mười ba tuổi thấy sĂŽng Hằng, cĂĄi thấy ấy thế nĂ o? Vua thưa: Như lĂșc ba tuổi rĂ” rĂ ng khĂŽng đổi, cho đến hiện nay sĂĄu mươi hai tuổi vẫn khĂŽng cĂł khĂĄc. Phật bảo: Nay ĂŽng tự lo tĂłc bạc mặt nhăn, quyết định mặt nhăn hơn lĂșc cĂČn trẻ, song hiện nay ĂŽng thấy sĂŽng Hằng cĂčng với cĂĄi thấy sĂŽng Hằng thuở xưa cĂł trẻ cĂł giĂ  chăng? Vua thưa: Bạch Thế TĂŽn! KhĂŽng. Phật bảo: Đại vương! Mặt ĂŽng tuy nhăn, song tĂĄnh thấy của ĂŽng chưa từng nhăn; nhăn thĂŹ biến đổi, chẳng nhăn thĂŹ khĂŽng biến đổi; biến đổi thĂŹ bị sanh diệt, cĂĄi khĂŽng biến đổi vốn khĂŽng sanh diệt, tại sao ở trong ấy chịu sanh tử với ĂŽng, mĂ  ĂŽng dẫn lời  Mạc-dĂ -lĂȘ... đều nĂłi thĂąn nĂ y sau khi chết lĂ  diệt hết? ...

(Kinh Lăng NghiĂȘm đầu quyển 2 HĂĄn tự)

Đọc đoạn kinh nĂ y, chĂșng ta thấy Phật chỉ rĂ” rĂ ng ngay nơi thĂąn nĂ y cĂĄi nĂ o sanh diệt, cĂĄi nĂ o chẳng sanh diệt. ThĂąn lĂ  dĂČng biến động thay đổi từng phĂșt giĂąy, tức lĂ  vĂŽ thường hoại diệt. TĂĄnh thấy xưa nay chưa từng thay đổi thĂŹ lĂ m gĂŹ cĂł hoại diệt. NĂłi tĂĄnh thấy lĂ  chỉ cĂĄi thấy biết thường xuyĂȘn nơi mắt chĂșng ta, khi chưa hợp tĂĄc với niệm thứ hai để so sĂĄnh đẹp xấu hơn kĂ©m. Cho đến mắt chĂșng ta mở hay nhắm, nĂł cũng luĂŽn luĂŽn hiển lộ. NĂł khĂŽng lệ thuộc hoĂ n toĂ n vĂ o mắt, cơ quan mắt tốt thĂŹ nĂł hiện sĂĄng tỏ, cơ quan mắt xấu thĂŹ nĂł hiện lu mờ, cho đến cơ quan mắt hoại nĂł cũng khĂŽng bị hoại theo. ĐĂł lĂ  đặc tĂ­nh chẳng sanh chẳng diệt của nĂł vậy.

Chẳng những thực thể chẳng sanh chẳng diệt hằng biểu lộ ở mắt, mĂ  ở tai nĂł cũng cĂł mặt luĂŽn luĂŽn. Cũng kinh Lăng NghiĂȘm cĂł đoạn:

... Phật bảo La-hầu-la đĂĄnh một tiếng chuĂŽng, hỏi A-nan: Hiện giờ ĂŽng nghe chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng thưa: ChĂșng con nghe. Tiếng chuĂŽng bặt dứt, Phật lại h̔7;i: Hiện giờ cĂĄc ĂŽng nghe chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng thưa: Chẳng nghe. La-hầu-la lại đĂĄnh một tiếng chuĂŽng, Phật hỏi: Hiện giờ cĂĄc ĂŽng nghe chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng đĂĄp: Nghe. Phật hỏi A-nan: Ông tại sao nghe, tại sao chẳng nghe? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng bạch Phật: Nếu đĂĄnh tiếng chuĂŽng thĂŹ chĂșng con được nghe, đĂĄnh lĂąu tiếng bặt Ăąm vang dứt hết thĂŹ gọi lĂ  khĂŽng nghe.

Phật lại bảo La-hầu-la đĂĄnh chuĂŽng, hỏi A-nan: Hiện giờ cĂł tiếng chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng thưa: CĂł tiếng. Đợi giĂąy lĂąu tiếng bặt, Phật lại hỏi: Hiện giờ cĂł tiếng chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đĂĄp: KhĂŽng tiếng. GiĂąy lĂĄt La-hầu-la lại đĂĄnh chuĂŽng, Phật hỏi: Hiện giờ cĂł tiếng chăng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng đĂĄp: CĂł tiếng. Phật hỏi A-nan: Ông nĂłi thế nĂ o lĂ  cĂł tiếng, thế nĂ o lĂ  khĂŽng tiếng? A-nan vĂ  đại chĂșng đồng bạch: Nếu đĂĄnh chuĂŽng thĂŹ gọi cĂł tiếng, đĂĄnh lĂąu tiếng bặt Ăąm vang dứt hết thĂŹ gọi khĂŽng tiếng. Phật quở A-nan vĂ  đại chĂșng: HĂŽm nay tại sao cĂĄc ĂŽng tự nĂłi rối lọan?

Đại chĂșng vĂ  A-nan đồng thời hỏi Phật: Thế nĂ o hĂŽm nay chĂșng con nĂłi rối loạn? Phật bảo: TĂŽi hỏi cĂĄc ĂŽng nghe thĂŹ cĂĄc ĂŽng đĂĄp nghe, tĂŽi hỏi cĂĄc ĂŽng tiếng thĂŹ cĂĄc ĂŽng đĂĄp tiếng. Chỉ nghe với tiếng mĂ  đĂĄp khĂŽng nhất định. Tại sao như thế chẳng gọi lĂ  rối loạn?

NĂ y A-nan! Tiếng bặt khĂŽng cĂČn Ăąm vang ĂŽng nĂłi khĂŽng nghe, nếu thật khĂŽng nghe thĂŹ tĂĄnh nghe đĂŁ diệt, giống như cĂąy khĂŽ, lại đĂĄnh tiếng chuĂŽng thĂŹ ĂŽng lĂ m sao mĂ  biết? Biết cĂł biết khĂŽng chĂ­nh lĂ  thanh trần (tiếng) hoặc cĂł hoặc khĂŽng, đĂąu phải tĂĄnh nghe kia lĂ  cĂł lĂ  khĂŽng. Nếu tĂĄnh nghe thật khĂŽng thĂŹ ai biết nĂł khĂŽng? Thế nĂȘn, A-nan! Tiếng ở trong tĂĄnh nghe tự cĂł sanh diệt, chẳng phải tĂĄnh nghe của ĂŽng do cĂł tiếng, khĂŽng tiếng mĂ  nĂł thĂ nh cĂł thĂ nh khĂŽng. Ông cĂČn điĂȘn đảo nhận lầm tiếng lĂ m cĂĄi nghe, đĂąu cĂČn lạ gĂŹ chẳng mĂȘ lầm cho cĂĄi thường lĂ m đoạn. Trọn khĂŽng nĂȘn nĂłi lĂŹa cĂĄc thứ động tịnh, thĂŽng bĂ­t mĂ  bảo khĂŽng cĂł tĂĄnh nghe...

(Kinh Lăng NghiĂȘm cuối quyển 4 HĂĄn tự)

ĐĂąy lĂ  cĂĄi mĂȘ lầm chung của toĂ n thể chĂșng ta, nhận tiếng lĂ m cĂĄi nghe, nhận hĂŹnh tướng lĂ m cĂĄi thấy. CĂł tiếng gọi lĂ  cĂł nghe, khĂŽng tiếng gọi lĂ  khĂŽng nghe. CĂł hĂŹnh tướng gọi lĂ  cĂł thấy, khĂŽng hĂŹnh tướng gọi lĂ  khĂŽng thấy. Nghe thấy lĂ  cĂĄi giĂĄc tri của chĂ­nh mĂŹnh, hĂŹnh tướng vĂ  Ăąm thanh lĂ  trần cảnh bĂȘn ngoĂ i. Nhận lầm trần cảnh lĂ  mĂŹnh, trĂĄch gĂŹ khĂŽng mất mĂŹnh vĂ  trĂŽi lăn theo cĂĄi sanh diệt mĂŁi mĂŁi. ĐĂł lĂ  bằng chứng hiển nhiĂȘn để thấy chĂșng ta đang bị vĂŽ minh điĂȘn đảo. Nếu ngay nơi đĂąy mĂ  chĂșng ta khĂŽng chịu thức tỉnh, phĂĄt minh tĂĄnh chĂąn thường chẳng hoại, khĂŽng biết bao giờ ra khỏi vĂČng sanh tử luĂąn hồi.

ĐĂĄnh thức mọi người giĂĄc ngộ thể tĂĄnh ChĂąn thường của chĂ­nh mĂŹnh, Ăąu cũng lĂ  mục đĂ­ch chung của chư Phật. Kinh PhĂĄp Hoa cĂł đoạn:

...NĂ y XĂĄ-lợi-phất! Chư Phật tĂčy nghi nĂłi phĂĄp Ăœ thĂș khĂł hiểu. VĂŹ cớ sao? VĂŹ ta dĂčng vĂŽ số phương tiện cĂĄc thứ nhĂąn duyĂȘn lời lẽ thĂ­ dụ diễn nĂłi cĂĄc phĂĄp. PhĂĄp ấy khĂŽng phải do SUY NGHĨ PHÂN BIỆT hay hiểu, chỉ cĂł chư Phật mới hay biết đĂł. VĂŹ cớ sao? VĂŹ chư Phật Thế TĂŽn chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN mĂ  hiện ra đời.

XĂĄ-lợi-phất! Thế nĂ o nĂłi chư Phật Thế TĂŽn chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN mĂ  hiện ra đời? VĂŹ chư Phật Thế TĂŽn muốn chĂșng sanh MỞ TRI KIẾN PHẬT khiến được thanh tịnh mĂ  hiện ra đời, muốn chĂșng sanh NGỘ TRI KIẾN PHẬT mĂ  hiện ra đời, muốn chĂșng sanh NHẬP TRI KIẾN PHẬT mĂ  hiện ra đời.

XĂĄ-lợi-phất! ĐĂł lĂ  chư Phật chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN mĂ  hiện ra đời...

(Kinh PhĂĄp Hoa phẩm Phương Tiện)

Yếu chỉ chư Phật khĂŽng cĂł hai, duy dẫn đường chĂșng sanh vĂ o TRI KIẾN PHẬT. Tri kiến Phật tức lĂ  cĂĄi thấy biết Phật, sẵn cĂł nơi chĂșng ta. ChĂșng ta thấy nhĂąn nơi sắc tướng, sắc tướng mất, nĂłi khĂŽng thấy. Biết nhĂąn trần cảnh, trần cảnh khĂŽng, nĂłi khĂŽng biết. Ai thấy sắc tướng mất mĂ  nĂłi khĂŽng thấy? Ai biết trần cảnh khĂŽng mĂ  nĂłi khĂŽng biết? Quả tang chĂșșng ta quĂȘn mất chĂșng ta một cĂĄch đĂĄng thương. Mỗi hĂŽm, sĂĄng ra vừa mở mắt, chĂșng ta đĂŁ đặt sẵn bao nhiĂȘu vấn đề phải giải quyết trong ngĂ y nay. Đến tối ăn cơm xong, lĂȘn gường nằm kiểm điểm lại đĂŁ giải quyết được mấy vấn đề, cĂČn cặn lại vĂ  thĂȘm những vấn đề mới ngĂ y mai phải giải quyết. Cứ thế mĂŁi, ngĂ y nay ngĂ y mai... cho đến ngĂ y tắt thở mĂ  những vấn đề vẫn chưa giải quyết xong. Những vấn đề lĂ  việc bĂȘn ngoĂ i mĂ  thiết tha giải quyết, cĂČn chĂ­nh ĂŽng chủ đặt vấn đề vĂ  giải quyết vấn đề lại quĂȘn bẵng. Song ĂŽng chủ ấy lại lĂ  người khĂŽng cĂł vấn đề. QuĂȘn mĂŹnh chạy theo cảnh lĂ  cĂĄi thấy biết của chĂșng sanh. NhĂąn cảnh nhận được tĂĄnh chĂąn thường của chĂ­nh mĂŹnh lĂ  cĂĄi thấy biết Phật (Tri kiến Phật). QuĂȘn mĂŹnh lĂ  mĂȘ, nhận được mặt thật của mĂŹnh lĂ  giĂĄc. Chuyển mĂȘ khai ngộ cho chĂșng sanh đĂł lĂ  bản hoĂ i của chư Phật.

ChĂ­nh vĂŹ đĂĄnh thức chĂșng sanh sống trở lại cĂĄi thấy biết Phật của mĂŹnh, đừng chạy theo trần cảnh mĂ  quĂȘn mất mĂŹnh, kinh Kim Cang cĂł đoạn:

... Thế nĂȘn, Tu-bồ-đề! Bồ-tĂĄt nĂȘn lĂŹa tất cả tướng phĂĄt tĂąm VĂŽ thượng ChĂĄnh đẳng ChĂĄnh giĂĄc (Phật), khĂŽng nĂȘn trụ nơi sắc, khĂŽng nĂȘn trụ thanh, hương, vị, xĂșc, phĂĄp, nĂȘn phĂĄt tĂąm khĂŽng cĂł chỗ trụ. Nếu tĂąm cĂł trụ tức lĂ  chẳng trụ.

(Kinh Kim Cang)

TĂąm VĂŽ thượng ChĂĄnh đẳng ChĂĄnh giĂĄc lĂ  tĂąm Phật. TĂąm Phật khĂŽng dĂ­nh mắc sĂĄu trần, vĂŹ sĂĄu trần lĂ  phĂĄp sanh diệt, dĂ­nh mắc phĂĄp sanh diệt lĂ  tĂąm hư vọng của chĂșng sanh. Cho nĂȘn Bồ-tĂĄt muốn an trụ nơi tĂąm Phật thĂŹ khĂŽng nĂȘn dĂ­nh mắc sĂĄu trần. CĂČn chạy theo sĂĄu trần lĂ  cĂČn thấy trong cĂł tĂąm ngoĂ i cĂł cảnh, nằm trong phĂĄp đối đĂŁi giả dối. Biết trần cảnh duyĂȘn hợp giả dối, dừng tĂąm khĂŽng chạy theo nĂł lĂ , sống trở về tĂĄnh chĂąn thật tuyệt đối của mĂŹnh. ĐĂł lĂ  PhĂĄp mĂŽn bất nhị trong kinh Duy-ma-cật.

Kinh Duy-ma-cật cĂł đoạn:

Ông Duy-ma-c&#7853;t nĂłi với cĂĄc vị Bồ-tĂĄt: CĂĄc nhĂąn giả! Thế nĂ o lĂ  Bồ-tĂĄt vĂ o “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”? Cứ theo chỗ hiểu của mĂŹnh mĂ  nĂłi.

Bồ-tĂĄt PhĂĄp Tự Tại nĂłi: CĂĄc nhĂąn giả! Sanh diệt lĂ  hai. PhĂĄp vốn khĂŽng sanh cũng khĂŽng diệt, được vĂŽ sanh phĂĄp nhẫn, đĂł lĂ  vĂ o “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”.

Bồ-tĂĄt Đức Thủ nĂłi: NgĂŁ, ngĂŁ sở lĂ  hai. NhĂąn cĂł ngĂŁ mới cĂł ngĂŁ sở, nếu khĂŽng cĂł ngĂŁ thĂŹ khĂŽng cĂł ngĂŁ sở, đĂł lĂ  vĂ o “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”.

...

Bồ-tĂĄt Văn-thĂč nĂłi: Như Ăœ tĂŽi, đối với tất cả PhĂĄp khĂŽng nĂłi khĂŽng bĂ n, khĂŽng chỉ khĂŽng biết, xa lĂŹa cĂĄc vấn đĂĄp, đĂł lĂ  vĂ o “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”.

NgĂ i Văn-thĂč hỏi ĂŽng Duy-ma-cật: ChĂșng tĂŽi ai cũng nĂłi rồi, đến lượt nhĂąn giả nĂłi thế nĂ o lĂ  “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”?

Ông Duy-ma-cật ngồi im lặng.

NgĂ i Văn-thĂč khen: Hay thay! Hay thay! Cho đến khĂŽng cĂł văn tự ngữ ngĂŽn, đĂł mới thật vĂ o “phĂĄp mĂŽn khĂŽng hai”.

(Kinh Duy-ma-cật phẩm PhĂĄp MĂŽn Bất Nhị)

Người đọc kinh Phật rất khĂł hiểu vĂŹ cĂĄch lập ngĂŽn trong kinh. Thế thường nĂłi hai hoặc nĂłi một, nếu khĂŽng phải một, lĂ  hai, khĂŽng phải hai lĂ  một. Tại sao trong kinh nĂłi “khĂŽng hai” mĂ  chẳng nĂłi một? Bởi một đối hai, hai đối một, ở đĂąy chỉ phĂĄp thoĂĄt ngoĂ i đối đĂŁi nĂȘn nĂłi “khĂŽng hai”. Nếu cĂł dĂčng ngĂŽn ngữ cũng vĂŹ để dẹp ngĂŽn ngữ, như đoạn ngĂ i Văn-thĂč nĂłi. Đến chỗ cứu kĂ­nh ấy khĂŽng cĂČn lời để diễn bĂ y, vừa cĂł diễn bĂ y đều rơi vĂ o đối đĂŁi, chỉ ngay đĂł nhận được mới lĂ  người đạt đạo. ChĂ­nh đĂł lĂ  chỗ im lặng của ĂŽng Duy-ma-cật. NĂłi mĂ  khĂŽng nĂłi lĂ  mượn ngĂŽn ngữ để dẹp ngĂŽn ngữ, khĂŽng nĂłi mĂ  nĂłi lĂ  im lặng để thầm chỉ ChĂąn LĂœ Tuyệt Đối bặt hết ngữ ngĂŽn. ĐĂł lĂ  thĂĄi độ hai vị Bồ-tĂĄt ở cuối phẩm nĂ y.

Trong cĂĄc kinh cĂČn đầy dẫy những đoạn chỉ dạy ChĂąn LĂœ Tuyệt Đối nĂ y, chỉn e dẫn lắm thĂȘm rườm, chĂșng ta hĂŁy bước sang lĂŁnh vực Thiền sư.

Trước tiĂȘn lĂ  bĂ i thuyết phĂĄp kỳ diệu của Tổ Huệ Năng:

Sau khi khai ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bĂĄt bảo trở về phương Nam, Tổ đi đến ngọn Đại Dữu bị Huệ Minh đuổi theo kịp. Tổ để y bĂĄt trĂȘn tảng đĂĄ vĂ o rừng ẩn. Huệ Minh đến gặp y bĂĄt, song giở lĂȘn khĂŽng nổi, gọi:

- HĂ nh giả! TĂŽi đến đĂąy vĂŹ phĂĄp, khĂŽng phải vĂŹ y bĂĄt.

Tổ nghe gọi, bước ra ngồi trĂȘn tảng đĂĄ bảo:

- Nếu ĂŽng vĂŹ phĂĄp, hĂŁy bĂŹnh tĂąm nghe tĂŽi nĂłi.

Huệ Minh đứng yĂȘn lặng giĂąy lĂąu.

Tổ bảo:

- KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC, CÁI GÌ LÀ BẢN LAI DIỆN MỤC CỦA THƯỢÏNG TỌA MINH?

Nghe cĂąu nĂ y, Huệ Minh liền đại ngộ.

BĂ i thuyết phĂĄp ngắn, gọn nĂ y phản ảnh trung thực một sự nghiệp to tĂĄt Tổ vừa lĂŁnh hội nơi Ngũ Tổ vĂ  đang mang nĂł về phương Nam. ChĂ­nh đĂł cũng lĂ  bản hoĂ i của chư Phật.

Bản lai diện mục lĂ  “bộ mặt thật xưa nay” của chĂșng ta, nĂł lĂ  tĂȘn khĂĄc của Đạo, của PhĂĄp thĂąn, của Phật tĂĄnh, của ChĂąn tĂąm... ChĂșng ta cĂł bộ mặt thật muĂŽn đời khĂŽng đổi, mĂ  tự bỏ quĂȘn nĂł, bĂĄm vĂ o thĂąn hĂŹnh tạm bợ cho lĂ  thật mĂŹnh. CĂĄi thĂąn hĂŹnh đang chấp giữ lĂ  thật mĂŹnh, nĂł thay đổi từng phĂșt giĂąy, hợp tan khĂŽng nhất định. Thế thĂŹ lấy gĂŹ bảo chứng cho nĂł lĂ  thật? Quả thật một hĂŹnh tướng biến thiĂȘn, một hợp thể tạm bợ. NĂł cĂł, mĂ  khĂŽng thật cĂł vĂŹ luĂŽn luĂŽn đổi thay, cĂČn mĂ  khĂŽng thật cĂČn vĂŹ hợp tan chẳng định. Nếu chấp chặt nĂł lĂ  ta, thật lĂ  cĂĄi ta tạm bợ lĂ m sao! Hoặc cĂł người biết thĂąn nĂ y giả dối, chĂ­nh cĂĄi tĂąm biết thiện, biết ĂĄc, biết phải, biết quấy, tốt xấu... mới thật lĂ  ta. Song cĂĄi tĂąm phĂąn biệt hai bĂȘn, cũng lĂ  đổi thay tạm bợ. VĂŹ vừa dấy nghĩ về lĂ nh về dữ thĂŹ nĂł đĂŁ sanh diệt rồi. Nếu buĂŽng hết mọi vấn đề đối đĂŁi, tĂŹm lại nĂł thĂŹ tung tĂ­ch vắng tanh. Thế lĂ , ta ở đĂąu? Mất rồi sao? Thật bối rối vĂŽ cĂčng, nếu chấp cĂĄi suy nghĩ lĂ m ta. Chỉ vĂŹ chấp thĂąn tạm bợ, tĂąm giả dối lĂ m ta nĂȘn muĂŽn kiếp trĂŽi lăn trong sanh diệt, gọi lĂ  luĂąn hồi.

Ngay nơi thĂąn tạm bợ, tĂąm giả dối, chĂșng ta nhận ra “bộ mặt thật xưa nay” của mĂŹnh vĂ  sống hẳn với nĂł, dĂČng sanh diệt ngang đấy liền dừng, kiếp luĂąn hồi đến đĂąy giải thoĂĄt. “Bộ mặt thật xưa nay” chưa từng bị sanh diệt, một thực thể khĂŽng do duyĂȘn hợp, lĂ m gĂŹ bị đổi thay, tan hợp? NĂł vẫn cĂł vĂ  thường cĂČn mĂ  chĂșng ta quĂȘn đi, gọi lĂ  vĂŽ minh, nhận ra nĂł khĂŽng cĂČn lầm quĂȘn nữa, gọi lĂ  giĂĄc ngộ.

Muốn chỉ “Bộ mặt thật xưa nay” cho người, khĂŽng cĂł cĂĄch kỳ diệu nĂ o bằng cĂąu “khĂŽng nghĩ thiện, khĂŽng nghĩ ĂĄc, cĂĄi gĂŹ lĂ  bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” của Lục Tổ. Người ta cứ thắc mắc “cĂĄi gĂŹ lĂ  bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” mĂ  chẳng nhớ “khĂŽng nghĩ thiện, khĂŽng nghĩ ĂĄc”, lĂ  tối quan trọng. ChĂ­nh khi “khĂŽng nghĩ thiện, khĂŽng nghĩ ĂĄc” lĂ  bản lai diện mục của Thượng tọa Minh chớ gĂŹ. Bởi khi tĂąm bĂŹnh thường tỉnh tĂĄo, khĂŽng dấy nghĩ thiện ĂĄc, phải quấy..., quả lĂ  “bộ mặt thật xưa nay” xuất hiện. Vừa dấy nghĩ thiện ĂĄc...lĂ  động, lĂ  chạy theo sanh diệt, “bộ mặt thật xưa nay” bị khuất lấp mất rồi. Cho nĂȘn qua cĂąu nĂłi nĂ y, Thượng tọa Minh khĂ©o thấy được “bộ mặt thật xưa nay” của mĂŹnh, gọi lĂ  ngộ đạo.

Dưới đĂąy thĂȘm những bĂ i thuyết phĂĄp đơn giản bĂŹnh dị mĂ  hay tuyệt của cĂĄc Thiền sư.

“Thiền sư TĂčng Thẩm (Triệu ChĂąu) đến tham vấn Nam Tuyền (Phổ Nguyện), hỏi:

- Thế nĂ o lĂ  đạo?

Nam Tuyền đĂĄp:

- TĂąm bĂŹnh thường lĂ  đạo.

- Lại cĂł thể nhằm tiến đến chăng?

- Nghĩ nhằm tiến đến lĂ  trĂĄi.

- Khi chẳng nghĩ lĂ m sao biết lĂ  đạo?

- Đạo chẳng thuộc biết chẳng biết, biết lĂ  vọng giĂĄc, khĂŽng biết lĂ  vĂŽ kĂœ. Nếu thật đạt đạo thĂŹ chẳng nghi, vĂ­ như hư khĂŽng thĂȘnh thang rỗng rang đĂąu thể gắng nĂłi phải quấy.

Ngay cĂąu nĂłi nĂ y, Sư ngộ đạo.”

Đạo lĂ  tĂȘn khĂĄc của Bản lai diện mục hay PhĂĄp thĂąn... NĂł lĂ  thực thể tuyệt đối nằm sẵn nơi tĂąm tĂĄnh chĂșng ta. ChĂșng ta vừa dấy niệm tĂŹm nĂł, tiến đến nĂł lĂ  trĂĄi mất rồi. Khởi nghĩ biết nĂł đĂŁ rơi vĂ o vọng giĂĄc, khĂŽng nghĩ biết nĂł để tĂąm mờ mờ mịt mịt lại thuộc bệnh vĂŽ kĂœ. Dấy tĂąm phĂĄn đoĂĄn phải quấy cĂ ng xa với đạo.

CĂąu TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO, quả thật đĂŁ vĂ©n bức mĂ n vĂŽ minh cho mọi người thấy được “Bộ mặt thật xưa nay” của mĂŹnh rồi. Bởi khởi tĂąm tĂŹm kiếm lĂ  mất bĂŹnh thường, xĂ©t đoĂĄn phải quấy lĂ  mất bĂŹnh thường ... Chỉ tĂąm tỉnh tĂĄo sĂĄng suốt mĂ  khĂŽng dấy động, mới thật TÂM BÌNH THƯỜNG. TĂąm bĂŹnh thường khĂŽng tướng mạo, khĂŽng hĂŹnh dĂĄng, thể nĂł thĂȘnh thang rỗng rang đồng với hư khĂŽng. Thấy được tĂąm thể nĂ y lĂ  người đạt đạo.

*

“Thiền sư Đạo Ngộ bảo đệ tử lĂ  SĂčng TĂ­n rằng:

- Ngươi lĂ m thị giả ta, ta sẽ chỉ tĂąm yếu cho ngươi.

SĂčng TĂ­n nhận lĂ m thị giả, trải qua mấy năm mĂ  khĂŽng được chỉ dạy điều gĂŹ. SĂčng TĂ­n thưa:

- Từ ngĂ y con vĂ o đĂąy đến giờ, chưa được HĂČa thượng chỉ dạy tĂąm yếu.

Đạo Ngộ bảo:

- Từ ngĂ y ngươi vĂ o đĂąy đến nay, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tĂąm yếu.

- Chỉ dạy ở chỗ nĂ o?

- Ngươi dĂąng trĂ  lĂȘn, ta vĂŹ ngươi tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vĂŹ ngươi nhận. Ngươi xĂĄ lui ra thĂŹ ta gật đầu. Chỗ nĂ o chẳng chỉ dạy tĂąm yếu?

SĂčng TĂ­n cĂși đầu suy nghĩ giĂąy lĂąu.

Đạo Ngộ bảo:

- Thấy thĂŹ thẳng đĂł liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay cĂąu nĂ y, SĂčng TĂ­n khai ngộ.”

Đạo Ngộ nĂłi TĂąm yếu tức lĂ  Nam Tuyền nĂłi TĂąm bĂŹnh thường. Trong mọi hĂ nh động ăn cơm, mặc ĂĄo, tới lui qua lại của chĂșng ta đều biểu lộ tĂąm yếu đầy đủ. Chỉ đĂĄng tiếc, khi ăn chĂșng ta chẳng chịu ăn, lại nghĩ đến cĂĄc việc nĂ y, khi mặc chẳng chịu mặc lại suy cĂĄc việc nọ. ChĂșng ta khĂŽng thể sống được với tĂąm bĂŹnh thường trong mọi hoạt động của mĂŹnh. Hằng bị vọng tưởng cuốn hĂșt qua mọi lĂŁnh vực hoạt đ897;ng của nĂł. Do đĂł cả ngĂ y chĂșng ta mĂŁi đuổi theo vọng tưởng, hết thứ nĂ y đến loại khĂĄc, khĂŽng bao giờ được dừng nghỉ.

Ở đĂąy, Thiền sư Đạo Ngộ chỉ tĂąm yếu phĂĄt hiện nơi dĂąng trĂ , nhận cơm, gật đầu..., thật lĂ  bĂŹnh thường đơn giản. TĂąm yếu hằng hiện hữu nơi mọi hoạt động của chĂșng ta, mĂ  chĂșng ta thĂŽng qua khĂŽng chịu nhận. Bởi trong đầu Ăłc chĂșng ta chứa dẫy đầy cĂĄc thứ quĂĄi tượng, hiếu kỳ thĂŹ lĂ m sao nhận được cĂĄi bĂŹnh thường đơn giản nĂ y. NĂłi đến TĂąm yếu, Đạo, PhĂĄp thĂąn..., chĂșng ta tưởng tượng phải lĂ  cĂĄi gĂŹ phi thường kỳ đặc mới được. ĐĂąu ngờ, nĂł lại lĂ  cĂĄi rất giản đơn bĂŹnh dị. NĂ©m phắt mọi vọng tưởng cuồng loạn, chỉ sống với tĂąm thể an nhiĂȘn trong mọi hoạt động bĂŹnh thường lĂ , chĂșng ta đạt đạo, ngộ tĂąm yếu. CĂĄc lượn sĂłng lặn hụp trĂȘn mặt biển lĂ  hiện tượng sanh diệt. Khi mọi lượn sĂłng đều lặng yĂȘn, chỉ cĂČn một mặt biển phẳng lĂŹ, thử hỏi cĂĄi gĂŹ lĂ  sanh diệt? CĂł sĂłng nổi lĂȘn lĂ  cĂł hĂŹnh tướng sai biệt, khi sĂłng lặng hết tĂŹm xem cĂČn hĂŹnh tướng gĂŹ? Song đến đĂł khĂŽng thể nĂłi khĂŽng cĂł mặt biển. TĂąm thể chĂșng ta cũng thế, chỉ cần lặng hết mọi vọng tưởng thĂŹ thể tĂĄnh hiển bĂ y. Thế nĂȘn vừa suy nghĩ lĂ  lấp mất thể tĂĄnh rồi.

*

“Thiền sư HoĂ i Hải (BĂĄ Trượng) theo hầu MĂŁ Tổ đi dạo vườn, bỗng cĂł bầy chim bay qua. MĂŁ Tổ hỏi:

- Bay đĂł lĂ  gĂŹ?

HoĂ i Hải thưa:

- Bầy vịt trời.

- Bay đi đĂąu?

- Bay qua mất.

MĂŁ Tổ nắm lỗ mũi của Sư vặn mạnh một cĂĄi, đau quĂĄ Sư la thất thanh.

MĂŁ Tổ bảo:

- Sao khĂŽng nĂłi bay qua mất?

NhĂąn đĂąy Sư tỉnh ngộ.”

TĂąm yếu luĂŽn luĂŽn hiển lộ đầy đủ nơi sĂĄu căn, mĂ  chĂșng ta khĂŽng nhận thấy. ChĂșng ta một bề buĂŽng thả sĂĄu căn chạy theo sĂĄu trần. Mắt đối sắc cho lĂ  cĂł thấy, sắc trần qua mất nĂłi lĂ  khĂŽng thấy, lệ thuộc hẳn ngoại cảnh. Sắc trần lĂ  tướng sanh diệt chợt cĂł chợt khĂŽng, cĂĄi thấy biết sắc trần cĂł khi nĂ o sanh diệt, mĂ  chĂșng ta chỉ nhận sắc trần khĂŽng nhận cĂĄi thấy. CĂĄi thấy lĂ  hiện thĂąn của tĂąm yếu, lĂ  mạng sống ngĂ n đời của chĂșng ta. Thế mĂ , chĂșng ta quĂȘn đi mạng sống của chĂ­nh mĂŹnh, phĂłng tĂąm đuổi theo dĂČng sanh diệt của ngoại giới. Trường hợp Thiền sư HoĂ i Hải cũng thế, chỉ nhớ bầy chim bay qua mất, khĂŽng nhớ tĂĄnh thấy thường cĂČn của mĂŹnh. MĂŁ Tổ nắm lỗ mũi vặn mạnh, bảo “sao khĂŽng nĂłi bay qua mất”. Sư chợt tỉnh ngộ cĂĄi khĂŽng mất của mĂŹnh, hay thức được giấc mĂȘ “quĂȘn mĂŹnh theo vật”.

ChĂșng ta sống nhờ lỗ mũi hĂ­t vĂŽ thở ra, nĂł lĂ  sanh mạng của mĂŹnh, lỗ mũi hằng cĂł mặt thường trực ở trước chĂșng ta, mĂ  chĂșng ta khĂł thấy vĂ  Ă­t nhớ. Hằng ngĂ y chĂșng ta chỉ nhớ những vấn đề: ăn, mặc, đẹp, xấu... cĂČn hơi thở lĂ  điều tối thiết yếu lại quĂȘn đi. QuĂȘn hơi thở tức lĂ  đĂŁ quĂȘn mạng sống của mĂŹnh. Mạng sống đĂŁ quĂȘn đi thĂŹ sự sống khĂŽng cĂČn Ăœ nghĩa của sự sống. Sống của cĂĄi chết, của cĂĄi cuồng loạn. Phật, Tổ cố đĂĄnh thức chĂșng ta nhớ lại mạng sống của chĂ­nh mĂŹnh. Hằng sống với mạng sống của chĂ­nh mĂŹnh, lĂ m gĂŹ cĂł nghĩa chết. Như mĂŁi cĂČn thở ra vĂ o, sao nĂłi chết được. Bởi vĂŹ chết lĂ  mất đi cĂĄi sống, lĂ  dừng hơi thở. TĂĄnh thấy hằng hiện hữu nơi chĂșng ta mĂ  chĂșng ta khĂŽng thấy, vĂ­ như lỗ mũi thường cĂł mặt ở trước mắt mĂ  chĂșng ta dễ quĂȘn. CĂĄi nắm mũi vặn mạnh của MĂŁ Tổ, khiến Thiền sư HoĂ i Hải đau la thất thanh, liền đĂł tỉnh ngộ, quả lĂ  diệu thuật trong nhĂ  Thiền, cũng lĂ  một bĂ i thuyết phĂĄp khĂŽng l901;i kỳ diệu.

*

“Tướng quốc BĂči Hưu vĂ o viếng chĂča Khai NguyĂȘn, thấy trĂȘn vĂĄch chĂča cĂł vẽ hĂŹnh Cao tăng, BĂči Hưu hỏi Thiền sư Hy Vận (HoĂ ng BĂĄ):

- HĂŹnh thấy tại đĂąy, Cao tăng ở đĂąu?

Sư cất giọng trong thanh gọi:

- BĂči Hưu!

BĂči Hưu:

- Dạ!

Sư hỏi:

- Ở đĂąu?

BĂči Hưu liền ngộ được hạt chĂąu trĂȘn bĂși tĂłc.”

ChĂșng ta đến thăm nhĂ  người bạn, vừa ấn nĂșt chuĂŽng điện ngoĂ i cổng, liền cĂł người mở cửa, bao nhiĂȘu lần cũng thế. ChĂșng ta biết chắc chắn rằng nhĂ  nĂ y cĂł người gĂĄc cửa thường trực. Cũng vậy, nơi tai chĂșng ta nếu khĂŽng cĂł cĂĄi linh tri thường trực, khi động lĂ m sao cĂł phản ứng kịp thời. Ở đĂąy vừa gọi liền đĂĄp, khĂŽng cĂł phĂșt giĂąy chờ đợi nghĩ suy gĂŹ cả. Cho đến đang lĂșc ngủ say, bỗng cĂł tiếng gọi to cũng giật mĂŹnh thức giấc. CĂ ng thấy rĂ” cĂĄi linh tri nơi tai chĂșng ta khĂŽng khi nĂ o vắng mặt. Chỉ khi thức cĂĄc cơ quan hoạt động thĂŹ nĂł sĂĄng, lĂșc ngủ cĂĄc cơ quan đĂłng bĂ­t thĂŹ nĂł mờ. CĂĄi linh tri nĂ y mới thật lĂ  Chủ nhĂąn ĂŽng hay “Bộ mặt thật xưa nay” của chĂșng ta. ChĂșng ta quĂȘn lửng ĂŽng chủ, cứ chạy theo khĂĄch trần bĂȘn ngoĂ i. Một bề quĂȘn mĂŹnh theo vật, nĂȘn mĂŁi trầm luĂąn sanh tử. Đang lĂșc hoạt động lăng xăng, cĂł người hỏi: cĂĄi gĂŹ lĂ  ĂŽng chủ, chĂșng ta bĂ ng hoĂ ng sửng sốt khĂŽng biết đĂĄp thế nĂ o. Thế lĂ , hằng ngĂ y chĂșng ta nĂłi sống vĂŹ mĂŹnh, lo cho mĂŹnh, mĂ  quả thật chĂșng ta đĂŁ mất mĂŹnh. Nếu biết rĂ” ĂŽng chủ của mĂŹnh, chĂșng ta mới dĂĄm nĂłi thật sống, bằng khĂŽng biết ĂŽng chủ thế nĂ o, lĂ m sao nĂłi rằng mĂŹnh đang sống được. CĂł hoạt động cĂł sống cũng chỉ lĂ  cuộc sống vay mượn mĂ  thĂŽi.

Ông BĂči Hưu thấy hĂŹnh Cao tăng mĂ  khĂŽng biết Cao tăng ở đĂąu. ĐĂł lĂ  tĂąm trạng quĂȘn mất ĂŽng chủ, đang thao thức dĂČ tầm. Một tiếng gọi của Thiền sư Hy Vận, dường như một tiếng sĂ©t ngang tai, khiến ĂŽng bất chợt ứng thanh “dạ”, chồng thĂȘm một cĂąu hỏi “ở đĂąu”, hốt nhiĂȘn ĂŽng sĂĄng mắt. Ông chủ đĂŁ lĂąu ĂŽng băn khoăn thắc mắc kiếm tĂŹm, bất chợt hiện lồ lộ trước mắt. Hạt chĂąu quĂ­ trong bĂși tĂłc của nhĂ  vua, trong kinh PhĂĄp Hoa, chỉ dĂ nh tặng riĂȘng cho vị tướng quĂąn cĂł cĂŽng to nhất, hĂŽm nay ĂŽng nhận được. CĂĄi cao cả quĂ­ bĂĄu nhất trong đời sống con người lĂ  ĂŽng chủ. NhĂ  khĂŽng cĂł chủ lĂ  nhĂ  hoang, xĂĄc thĂąn khĂŽng nhận ra ĂŽng chủ lĂ  xĂĄc thĂąn rỗng. VĂŹ thế, mục đĂ­ch duy nhất của Phật, Tổ lĂ  chỉ cho chĂșng ta nhận ra ĂŽng chủ. Ông chủ ấy hằng cĂł mặt nơi tai, mắt... chĂșng ta, chỉ khĂ©o nhận liền thấy.

*

“Thiền sư Sư Bị (Huyền Sa) ngồi trong thất, cĂł vị Tăng đứng hầu, nhĂŹn xuống nền thất cĂł một điểm trắng, Sư hỏi Tăng:

- Ông thấy chăng?

Tăng thưa:

- Thấy.

Sư bảo:

- Ta thấy ĂŽng cũng thấy, tại sao cĂł người ngộ người khĂŽng ngộ?”

Hai thầy trĂČ đồng thấy một điểm trắng trĂȘn nền thất, tại sao thầy ngộ mĂ  trĂČ lại mĂȘ? Bởi vĂŹ trĂČ thấy chỉ thấy cĂĄi bị thấy, cho nĂȘn quĂȘn mất ĂŽng chủ tức lĂ  mĂȘ. Thầy thấy mĂ  khĂŽng chạy theo cĂĄi bị thấy, nhĂąn cĂĄi bị thấy nhận ra ĂŽng chủ hay thấy của chĂ­nh mĂŹnh, tức lĂ  ngộ. Đồng một cảnh mĂ  mĂȘ ngộ khĂĄc nhau, gốc tại quĂȘn mĂŹnh theo vật hay nhĂąn vật nhận được mĂŹnh. Ở hội Linh Sơn đức Phật đưa cĂ nh hoa sen lĂȘn, TĂŽn giả Ca-diếp miệng cười chĂșm chĂ­m, đồng Ăœ nghĩa nĂ y. Chư Tổ Thiền tĂŽng tận dụng mọi phương tiện, nĂ o đưa tay, dựng phất tử... khiến người nhận được ĂŽng chủ qua cĂĄi thấy của mĂŹnh.

Ngay khi thấy sự vật, tĂąm khĂŽng bị dấy một niệm nĂ o, chĂ­nh khi ấy “bộ mặt thật xưa nay” bĂ y hiện. VĂŹ cĂł thấy lĂ  cĂł biết, cĂĄi biết khĂŽng do suy nghĩ, khĂŽng do phĂąn biệt, mới lĂ  cĂĄi biết chĂąn thật, thoĂĄt ngoĂ i đối đĂŁi sanh diệt. CĂĄi biết do suy nghĩ, do phĂąn biệt đều lĂ  động, tạm cĂł rồi khĂŽng, lĂ m sao nĂłi chĂąn thật được. CĂĄi suy nghĩ phĂąn biệt lặng xuống, tĂĄnh giĂĄc tri hiện bĂ y rỡ rỡ, nĂł mới thật lĂ  ĂŽng chủ muĂŽn đời của ta. GiĂĄc tri mĂ  lặng lẽ thĂŹ lĂ m gĂŹ cĂł sanh diệt. Chỗ nĂ y cĂČn nghi ngờ gĂŹ, khĂŽng nĂłi nĂł chĂąn thật vĩnh cửu. Thế nĂȘn, mắt thấy sắc tướng mĂ  nhận được tĂĄnh thấy của mĂŹnh, lĂ  ngộ đạo, trĂĄi lại lĂ  mĂȘ.

*

“Thiền sư Cảnh Thanh ngồi trong thất, cĂł vị Tăng đứng bĂȘn cạnh, Sư hỏi:

- BĂȘn ngoĂ i cĂł tiếng gĂŹ?

Tăng thưa:

- Tiếng con nhĂĄi bị con rắn bắt kĂȘu.

Sư nĂłi:

- Sẽ bảo chĂșng sanh khổ, lại cĂł khổ chĂșng sanh.

HĂŽm khĂĄc, Sư hỏi vị Tăng bĂȘn cạnh:

- BĂȘn ngoĂ i cĂł tiếng gĂŹ?

Tăng thưa:

- Tiếng mưa rơi.

Sư bảo:

- ChĂșng sanh điĂȘn đảo quĂȘn mĂŹnh theo vật.

- HĂČa thượng thĂŹ sao?

- Vẫn chẳng quĂȘn mĂŹnh.

- Vẫn chẳng quĂȘn mĂŹnh, Ăœ nghĩa thế nĂ o?

- Xuất thĂąn cĂČn lĂ  dễ, thoĂĄt thể nĂłi rất khĂł.”

Rắn bắt nhĂĄi đĂł lĂ  chĂșng sanh khổ, vĂŹ con lớn hiếp con bĂ©. Song lại cĂł khổ chĂșng sanh, chĂ­nh lĂ  người quĂȘn mất mĂŹnh chạy theo ngoại cảnh. Hằng ngĂ y tai chĂșng ta chỉ lắng nghe tiếng động tịnh bĂȘn ngoĂ i, cĂł khi nĂ o nhận biết mĂŹnh cĂł tĂĄnh nghe thường trực. Vừa nghe tiếng động liền phĂąn biệt thuộc loại nĂ o, hay dở, lợi hại , phải quấy... rồi sanh tĂąm yĂȘu ghĂ©t. Cứ thế mĂŁi khĂŽng dừng, lĂ m sao chẳng bảo lĂ  “chĂșng sanh điĂȘn đảo quĂȘn mĂŹnh theo vật”? Chỉ cĂł người tỉnh giĂĄc mới biết phản quan lại mĂŹnh, mọi động tịnh bĂȘn ngoĂ i đều lĂ  phĂĄp sanh diệt, ĂŽng chủ biết được mọi động tịnh ấy mới lĂ  người chẳng sanh diệt. VĂŹ khi động vẫn biết động, lĂșc tịnh vẫn biết tịnh, hai tướng động tịnh đuổi nhau, ĂŽng chủ vẫn ngồi yĂȘn xem sự đổi thay của chĂșng. Người biết sống trở về ĂŽng chủ của mĂŹnh, mặc sự sanh diệt đổi thay của trần cảnh, lĂ  “vẫn khĂŽng quĂȘn mĂŹnh”. Chỗ khĂŽng quĂȘn mĂŹnh ấy, lĂ m sao diễn tả được, nĂȘn nĂłi “xuất thĂąn cĂČn lĂ  dễ, thoĂĄt thể nĂłi rất khó”.

Tai nghe tiếng mĂ  khĂŽng chạy theo phĂąn biệt tiếng, lại nhận nơi mĂŹnh hằng cĂł tĂĄnh nghe, lĂ  phĂĄp tu “Phản văn văn tự tĂĄnh” của Bồ-tĂĄt QuĂĄn Thế Âm. Âm thanh nhỏ lớn xa gần lĂșc nĂ o cũng cĂł, tĂĄnh nghe thường hằng nĂȘn mới thường nghe. Nếu tĂĄnh nghe cĂł giĂĄn đoạn, ắt chĂșng ta cĂł khi nghe  khi khĂŽng. Song khĂŽng khi nĂ o chĂșng ta chẳng nghe, dĂč khi khĂŽng cĂł tiếng động vẫn nghe khĂŽng tiếng. ĐĂąy lĂ  chứng cứ cụ thể, tĂĄnh nghe thường trực nơi mọi người chĂșng ta. Trong cĂĄc phương phĂĄp tu “trở về tự tĂĄnh”, biết phản chiếu lN41;i tĂĄnh nghe của mĂŹnh lĂ  ưu việt hơn cả. Cho nĂȘn trong kinh Lăng NghiĂȘm đức Phật bảo Bồ-tĂĄt Văn-thĂč chọn phương phĂĄp nĂ o viĂȘn thĂŽng, NgĂ i chọn ngay phĂĄp “nhĩ căn viĂȘn thĂŽng” của Bồ-tĂĄt QuĂĄn Thế Âm.

Thiền sư cĂł đến ngĂ n vạn phương tiện, lĂŁnh hội một thĂŹ tất cả đều thĂŽng. Sau khi thĂŽng lĂœ tuyệt đối, cĂł giĂĄ trị thế nĂ o?

Bởi vĂŹ tất cả chĂșng ta đều trĂŽng thấy mọi lẽ tạm bợ của cuộc đời, khiến khĂĄt khao tĂŹm kiếm hướng về chỗ trường cửu miĂȘn viễn. Song nĂłi đến chỗ nĂ y, dường như mọi người đều thở dĂ i tự nhận lĂ  vĂŽ phần. Hầu hết đều bĂł tay cĂși đầu trước thực thể bất sanh bất diệt ấy. Khao khĂĄt ước mơ mĂ  khĂŽng thể tĂŹm được, khĂŽng dĂĄm mĂČ tới, thật lĂ  đau đớn vĂŽ cĂčng. Một khi bất ngờ bắt gặp được nĂł thĂŹ cĂČn gĂŹ sung sướng cho bằng. ChĂ­nh tĂąm trạng TĂŽn giả XĂĄ-lợi-phất v.v... ở trong kinh PhĂĄp Hoa cũng thế. Từ khi tu hĂ nh cho đến nay, cĂĄc ngĂ i chỉ mong được quả Nhị thừa, khĂŽng khi nĂ o dĂĄm ước mơ đến Phật quả. Bất ngờ được đức Phật thọ kĂœ cho sẽ thĂ nh Phật, thật lĂ  một điều quĂĄ sức ước mong. NĂłi thĂ­ dụ chĂ ng cĂčng tử được ĂŽng trưởng giả trao sự nghiệp để bĂ y tỏ tĂąm trạng của cĂĄc NgĂ i. Thiền sư Thủy Lạo nĂłi với đồ đệ: “Từ khi ăn cĂĄi đạp của MĂŁ Tổ đến giờ, cười mĂŁi khĂŽng thĂŽi.” Thiền sư Huệ Hải cũng nĂłi: “Từ khi nhận được kho bĂĄu nhĂ  mĂŹnh đến nay, dĂčng mĂŁi khĂŽng thiếu.” Cười mĂŁi khĂŽng thĂŽi, vĂŹ hạt chĂąu vĂŽ giĂĄ bị đĂĄnh mất, bất chợt tĂŹm thấy nắm được trong tay, kể từ đĂąy hết rồi một kiếp lang thang nghĂšo đĂłi. DĂčng mĂŁi khĂŽng thiếu, vĂŹ nĂł lĂ  kho bĂĄu vĂŽ tận, ứng dụng tĂčy tĂąm, nĂȘn gọi lĂ  “bảo chĂąu như Ăœâ€. CĂł được hạt bảo chĂąu như Ăœ trong tay, tự thĂąn mọi nhu cầu đều toại nguyện, cĂČn thĂȘm tĂčy Ăœ cứu giĂșp tha nhĂąn. Thật lĂ  tự lợi, lợi tha viĂȘn mĂŁn.

Hạt “Minh chĂąu vĂŽ giá” hay “Bảo chĂąu như Ăœâ€, đều do đức Phật lấy lĂ m thĂ­ dụ để chỉ thể tĂĄnh tuyệt đối nĂ y. Bởi vĂŹ mạng sống lĂ  cứu kĂ­nh của chĂșng sanh, mạng sống cĂ ng dĂ i thĂŹ giĂĄ trị cĂ ng cao. Cho nĂȘn ở thế gian khĂŽng &#417;n gĂŹ to bằng ơn cứu mạng. Chỉ cần được cứu sống thĂȘm một vĂ i mươi năm, người ta cho đĂł lĂ  ơn sĂąu trời bể. Đạt được thể tĂĄnh nĂ y, lĂ  nhận lấy sanh mạng trường tồn miĂȘn viễn, vượt ngoĂ i vĂČng thời gian, khĂŽng cĂČn dĂčng con số nĂ o tĂ­nh kể được. Đức Phật dĂčng thĂ­ dụ “điểm mực” nơi phẩm Như Lai Thọ Lượng trong kinh PhĂĄp Hoa lĂ  nĂłi rĂ” Ăœ nĂ y. Đem thế giới tam thiĂȘn nghiền thĂ nh bụi nhỏ, lấy bụi ấy lĂ m mực, đi sang phương đĂŽng trải qua trăm ngĂ n muĂŽn ức thế giới mới điểm một điểm mực..., gom hết những thế giới cĂł điểm mực khĂŽng điểm mực đĂŁ đi qua, nghiền nĂĄt thĂ nh bụi, mỗi hạt bụi tĂ­nh lĂ  một kiếp, thử tĂ­nh tuổi thọ Phật lĂ  bao nhiĂȘu? DĂč cĂł nhĂ  toĂĄn học tĂ i tĂŹnh mấy cũng khĂŽng sao tĂ­nh nổi tuổi thọ của Phật. Phật ở đĂąy lĂ  chỉ Phật phĂĄp thĂąn, tức lĂ  thực thể tuyệt đối sẵn cĂł nơi mọi chĂșng sanh vậy.

Thực thể nĂ y khĂŽng những vượt ngoĂ i thời gian, mĂ  cũng bao trĂčm khắp khĂŽng gian. Kinh Hoa NghiĂȘm đức Phật dĂčng thĂ­ dụ “phĂĄ vi trần xuất kinh quyển”, để nĂłi lĂȘn thể rộng lớn của nĂł. NĂłi rằng “CĂł một quyển kinh lượng bằng thế giới tam thiĂȘn đại thiĂȘn, vĂČ trĂČn nhĂ©t trong hạt bụi nhỏ, cĂł người trĂ­ tuệ xem biết, dĂčng phương tiện đập vỡ hạt bụi lấy quyển kinh. Trong quyển kinh ghi chĂ©p đầy đủ mọi sự thật của thế giới tam thiĂȘn đại thiĂȘn...”. Quyển kinh dụ thể tĂĄnh tuyệt đối hay Phật tĂĄnh, hạt bụi dụ thĂąn tứ đại của chĂșng sanh. Muốn biết mọi sự vật trong vũ trụ, khĂŽng gĂŹ hơn ngay nơi thĂąn nĂ y nhận ra thể tĂĄnh tuyệt đối, mọi sự thật hiện bĂ y đầy đủ trong ấy. CĂł ai ngờ trong hạt bụi nhỏ lại chứa quyển kinh to như thế, chỉ người trĂ­ tuệ (Phật) mới nhận thấy được nĂł. ChĂșng ta khĂŽng khi nĂ o dĂĄm thừa nhận mĂŹnh cĂł thể tĂĄnh rộng lớn trĂčm khắp vũ trụ, mĂ  hằng tự nhận mĂŹnh như cĂąy lau, cĂąy sậy trĂȘn địa cầu, như hạt cĂĄt trong bĂŁi sa mạc. VĂŹ thế, đọc kinh Duy-ma-cật thấy nĂłi “îng Duy-ma-cật đưa tay nắm thế giới dời đi nơi khĂĄc...”, lĂ m sao chĂșng ta dĂĄm tin. TĂŽn giả A-nan sau khi ngộ được chĂąn tĂąm, bạch Phật rằng “con xem thĂąn cha mẹ sanh (so với chĂąn tĂąm) như hạt bụi trong hư khĂŽng, như hĂČn bọt ngoĂ i bể cả...(Kinh Lăng NghiĂȘm). Tuệ Trung Thượng Sĩ, một Thi̓3;n sư Việt Nam, cĂł vị Tăng hỏi: “Sanh tử lĂ  việc lớn lĂ m sao giải quyết?” Thượng Sĩ đĂĄp: “Trong hư khĂŽng dĂ i cĂł chướng gĂŹ hai vĂ nh xe, ngoĂ i bể cả cĂł ngại gĂŹ hĂČn bọt nổi.” Ý nĂłi rằng, sự sanh tử của thĂąn nĂ y đối với phĂĄp thĂąn như hai vĂ nh xe nĂ©m trong hư khĂŽng, như hĂČn bọt nổi trong bể cả, cĂł nghĩa lĂœ gĂŹ mĂ  quan trọng. Hạt bụi sĂĄnh với hư khĂŽng, hĂČn bọt so với bể cả, giĂĄ trị quĂĄ rĂ” rĂ ng, nĂȘn nĂłi “viĂȘn ngọc vĂŽ giá”.

Sống được với thể tĂĄnh nĂ y thĂŹ diệu dụng vĂŽ cĂčng, lợi mĂŹnh lợi người viĂȘn mĂŁn. Hằng ngĂ y chĂșng ta chỉ sống với vọng tưởng, mĂ  cĂČn cĂł trăm ngĂ n tĂĄc dụng, tạo ra trăm điều ngĂ n việc. Phương chi sống với thể tĂĄnh linh minh thĂŹ diệu dụng lĂ m sao lường được. Căn cứ hiện tượng thế gian phĂĄn xĂ©t, để thấy rĂ” điều nĂ y. TrĂȘn thế gian cĂĄi gĂŹ cĂ ng thĂŽ thĂŹ dụng cĂ ng yếu, cĂĄi gĂŹ cĂ ng tế thĂŹ dụng cĂ ng mạnh. Như đất thể thĂŽ hơn nước, nĂȘn bị nước cuốn; nước thể thĂŽ hơn giĂł, nĂȘn bị giĂł đĂča. Sức mạnh của giĂł lĂ m tan cả đất, cuộn phăng cả nước mĂ  khĂŽng thấy hĂŹnh dĂĄng tướng mạo gĂŹ. Sức mạnh của nguyĂȘn tử, của khinh khĂ­ cũng tương tợ như thế. Vọng tưởng lĂ  tướng tĂąm duyĂȘn theo phĂĄp trần... nĂȘn cĂł tướng mạo. Khi tĂąm ta tưởng quả nĂși, liền cĂł quả nĂși hiện nơi tĂąm, tĂąm nhớ người liền cĂł người hiện... Dấy tĂąm thĂŹ cĂł cảnh, tĂąm cảnh dĂ­nh liền nhau. TĂąm khĂŽng rời cảnh, đĂł lĂ  tĂąm hư vọng cũng gọi lĂ  vọng tưởng. Cảnh cĂł đến ngĂ n vạn nĂȘn tĂąm duyĂȘn cảnh cũng cả trăm thứ. CĂł tướng mạo lĂ  tĂąm thĂŽ, chia nhiều thứ lĂ  bị phĂąn tĂĄn. TĂąm thĂŽ vĂ  phĂąn tĂĄn nĂȘn cĂŽng dụng của nĂł yếu ớt tầm thường. Khi vọng tưởng đĂŁ lặng sạch, chỉ cĂČn một tĂąm thể linh minh, khĂŽng hĂŹnh dĂĄng tướng mạo, nĂȘn ứng dụng vĂŽ cĂčng. Đến chỗ nĂ y gọi lĂ  “diệu dụng khĂŽng thể nghĩ bĂ n”. Bởi diệu dụng khĂŽng thể nghĩ bĂ n, nĂȘn dụ lĂ  Bảo ChĂąu Như Ý. Nắm hạt chĂąu nĂ y trong tay thĂŹ mọi việc đều như Ăœ, tức lĂ  mĂŁn nguyện tự tại. Một bĂȘn cĂŽng dụng tầm thường cuộc hạn, một bĂȘn diệu dụng khĂŽng thể nghĩ bĂ n tự do tự tại, đối chiếu nhau chĂșng ta thấy rĂ” giĂĄ trị sai biệt của đĂŽi bĂȘn rồi.

ChĂąn lĂœ tuyệt đối khĂŽng cĂł ở bĂȘn ngoĂ i, mĂ  nằm sẵn ngay nơi chĂșng ta. ChĂșng ta muốn tĂŹm nĂł, phải biết quay lại mĂŹnh, đừng chạy ra ngoĂ i tĂŹm kiếm vĂŽ Ă­ch. ChĂąn lĂœ tuyệt đối nơi mĂŹnh, chĂ­nh lĂ  ĂŽng chủ của mĂŹnh, nhận ra ĂŽng chủ thĂŹ mọi chĂąn lĂœ trong vũ trụ đều thấy rĂ”. Nhận ra vĂ  sống được với ĂŽng chủ của mĂŹnh thĂŹ, vĂČng luĂąn hồi chấm dứt, mọi khổ đau hết sạch, được giĂĄc ngộ giải thoĂĄt hoĂ n toĂ n.

HỌC PHẬT BẰNG CÁCH NÀO?

Hỏi học Phật bằng cĂĄch nĂ o, tức lĂ  hỏi đến phương phĂĄp học Phật. Ở thế gian mĂŽn học nĂ o cũng cĂł phương phĂĄp riĂȘng của nĂł. VĂ­ như mĂŽn toĂĄn học, người học trĂČ trước phải biết số, kế học thuộc cửu chương, học cĂĄch cộng trừ nhĂąn chia, lĂȘn nữa phải học cĂŽng thức, phương trĂŹnh v.v... MĂŽn văn chương, trước phải biết chữ cĂĄi, học rĂĄp vần, viết chĂĄnh tả, học văn phạm, tập cĂĄch lĂ m văn v.v... Phương chi Phật phĂĄp lĂ  mĂŽn học giĂĄc ngộ, mĂ  khĂŽng cĂł phương phĂĄp riĂȘng của nĂł hay sao?

Phương phĂĄp học Phật tức lĂ  ba mĂŽn Tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ, vĂ  Tu tuệ. Bởi vĂŹ muốn vĂ o cửa giĂĄc ngộ khĂŽng phải anh tướng trĂ­ tuệ thĂŹ khĂŽng sao vĂ o được. Phật phĂĄp lĂ  chĂąn lĂœ lĂ  những sự thật, nếu khĂŽng cĂł ngọn đuốc trĂ­ tuệ soi sĂĄng, lĂ m sao chĂșng ta thấy mọi sự thật ở chung quanh, khĂŽng cần trĂ­ tuệ, chỉ dĂčng lĂČng tin đến với đạo Phật, để học Phật phĂĄp, thật lĂ  sai lầm lớn lao. ĐĂąy lĂ  chứng bệnh trầm trọng của Phật tử hiện thời. Cần chữa lĂ nh bệnh nĂ y, chĂșng ta phải ứng dụng triệt để ba mĂŽn Tuệ học vĂ o cĂŽng trĂŹnh tu học Phật phĂĄp.

Thế nĂ o lĂ  Văn tuệ?

Văn lĂ  nghe, do nghe giĂĄo lĂœ Phật phĂĄp trĂ­ tuệ mở sĂĄng, gọi lĂ  Văn tuệ. ChĂșng ta nghe Phật phĂĄp qua lời giảng dạy của chư Tăng, của thiện hữu tri thức đĂŁ tu học trước ta. Những lời giảng dạy ấy xuất phĂĄt từ kinh điển của Phật, trong đĂł chứa toĂ n lời lẽ chĂąn chĂĄnh, chỉ bĂ y mọi sự thật cho chĂșng sanh. CĂ ng nghe trĂ­ tuệ chĂșng ta cĂ ng sĂĄng. Hoặc chĂșng ta trực tiếp đọc kinh sĂĄch Phật, khiến mở mang trĂ­ tuệ cũng thuộc Văn tuệ. Chịu khĂł nghe giảng dạy, chịu khĂł nghiĂȘn cứu kinh sĂĄch Phật, đĂł lĂ  người biết từ cửa Văn tuệ tiến thẳng vĂ o ngĂŽi nhĂ  Phật phĂĄp.

Thế nĂ o lĂ  Tư tuệ?

Tư lĂ  suy xĂ©t phĂĄn đoĂĄn, do suy xĂ©t phĂĄn đoĂĄn những lời dạy trong Phật phĂĄp, trĂ­ tuệ cĂ ng tăng trưởng. ChĂșng ta được nghe lời chỉ dạy của thầy bạn, dẫn từ trong kinh Phật ra, song nghe rồi tin liền lĂ  chưa đủ tư cĂĄch học Phật. Buộc chĂșng ta phải dĂčng trĂ­ phĂĄn đoĂĄn xem đĂșng hay sai, nếu quả thật đĂșng, từ đĂł chĂșng ta mới tin. CĂł thế mới thực hĂ nh đĂșng cĂąu “cĂĄc người phải tự thắp đuốc lĂȘn mĂ  đi, thắp đuốc lĂȘn với chĂĄnh phĂĄp”, trong kinh PhĂĄp CĂș. ChĂșng ta muốn mở mang trĂ­ tuệ, song tự mĂŹnh lĂ m sao mở được, phải mồi ngọn đuốc trĂ­ tuệ của mĂŹnh với ngọn đuốc chĂĄnh phĂĄp của Phật, trĂ­ tuệ mới phĂĄt sĂĄng.

Mồi bằng cĂĄch nĂ o?

VĂ­ như chĂșng ta nghe vị Sư giảng rằng: “Tất cả thế gian đều lĂ  vĂŽ thường.” Sau đĂł phải dĂčng trĂ­ tuệ của mĂŹnh phĂĄn đoĂĄn xem đĂșng hay khĂŽng. ChĂșng ta tự đặt cĂąu hỏi: Tất cả thế gian đều lĂ  vĂŽ thường, cĂł sự vật nĂ o thoĂĄt ngoĂ i luật lệ ấy chăng? Nếu cĂł, cĂąu nĂłi nĂ y chưa phải chĂąn lĂœ. Bằng khĂŽng, mới thật đĂșng chĂąn lĂœ, chĂșng ta sẽ hoĂ n toĂ n tin. Thế rồi, ta tự khảo sĂĄt :

Con người cĂł phải vĂŽ thường khĂŽng? Từ ĂŽng bĂ  đến cha mẹ chĂșng ta đều cĂł sanh ra, lớn lĂȘn, bệnh hoạn, giĂ  yếu rồi chết. Kể luĂŽn cả ta, khi nĂ o cĂČn nhỏ bĂ©, lớn lĂȘn, bệnh hoạn, giĂ  yếu, rồi cũng sẽ chết. Trong gia đĂŹnh thĂąn tộc chĂșng ta đĂŁ thế, ngoĂ i xĂŁ hội cũng thế, cả nhĂąn loại trĂȘn thế giới cũng thế; ngĂ n xưa lĂ  thế, mĂŁi sau nĂ y cũng thế. Quả lĂ  con người vĂŽ thường.

Đến những sự vật, nĂ o nhĂ  cửa, bĂ n ghế, xe cộ... cĂł bị vĂŽ thường khĂŽng? ChĂ­nh cĂĄi nhĂ  của mĂŹnh, khi mới cất thĂŹ tốt đẹp lĂ nh lặn, qua vĂ i ba năm thấy cũ dần, đến năm mười năm thĂŹ hư sập. CĂĄi bĂ n viết cũng thế, khi mới đĂłng xem bĂłng loĂĄng tốt đẹp, dĂčng mấy năm thấy đĂŁ cũ, trĂłc sơn khờn mặt, rồi đĂąy sẽ mục nĂĄt hư hoại. Chiếc xe đạp khi mới mua đem về mới toanh, chạy được một năm vỏ đĂŁ rĂĄch, cổ lỏng, cĂĄc con ốc lờn... vĂ i năm nữa sẽ hư. Thế lĂ , nhĂ  cửa, bĂ n ghế, xe cộ... những vật cần dĂčng bĂȘn cạnh chĂșng ta thảy bị vĂŽ thường chi phối. Cho đến trăm ngĂ n vật khĂĄc, nếu khảo sĂĄt đều thấy đồng một số phận như nhau.

ChĂșng ta cĂł thể kết luận rằng: “tất cả thế gian lĂ  vĂŽ thường”, quả thật lĂ  chĂąn lĂœ. Ta tin chắc lẽ nĂ y, dĂč cĂł ai nĂłi khĂĄc đi, cũng khĂŽng lĂ m lay động được lĂČng tin của ta. Bởi lĂČng tin nĂ y đĂŁ được gạn lọc qua sĂ ng lĂœ trĂ­, nĂȘn nĂł vững chắc khĂŽng dễ gĂŹ lĂ m lung lay.

Lại một thĂ­ dụ, chĂșng ta nghe vị Sư giảng lĂœ luĂąn hồi, bảo rằng: “MuĂŽn vật ở thế gian đều xoay quanh vĂČng luĂąn hồi.” Ta tự đặt cĂąu hỏi: Tại sao muĂŽn vật đều luĂąn hồi? CĂł vật nĂ o khĂŽng luĂąn hồi chăng? ChĂșng ta bắt đầu xĂ©t từ thực vật:

CĂąy cối thĂ nh hĂŹnh bắt nguồn từ hạt, hạt nẩy mầm tăng trưởng thĂ nh cĂąy, nở hoa, kết trĂĄi; trĂĄi sanh hạt, hạt lại nẩy mầm... lộn đi đảo lại khĂŽng cĂčng. Song đĂł lĂ  sự lộn đi đảo lại từ cĂąy nĂ y sang cĂąy khĂĄc, ngay bản thĂąn cĂąy ấy cĂł đảo lộn vậy khĂŽng? Cũng lộn đi đảo lại như thế. ThĂąn cĂąy hiện sống đĂąy, do chĂąm rễ hĂșt đất nước... nuĂŽi dưỡng mới được sanh trưởng, dần dần thĂ nh đại thọ. Rễ hĂșt đất nước nuĂŽi dưỡng thĂąn cĂ nh lĂĄ, lĂĄ rụng biến thĂ nh phĂąn đất, cĂ nh gĂŁy mục cũng thĂ nh phĂąn đất, thĂąn cĂąy ngĂŁ mục cũng trở về đất nước. ThĂąn cĂąy nhờ đất nước sanh trưởng, khi ngĂŁ mục lại trở về đất nước.

Nước do ĂĄnh nắng bốc thĂ nh hơi, hơi lĂȘn cao gặp khĂ­ lạnh đọng lại, rơi xuống thĂ nh nước; nước lại bốc hơi... mĂŁi mĂŁi khĂŽng cĂčng.

To như quả địa cầu vẫn quay trĂČn quanh cĂĄi trục, sĂĄng rồi tối, tối lại sĂĄng. Căn cứ vĂ o sự quay trĂČn của nĂł, người ta chia ra ngĂ y giờ thĂĄng năm, thời tiết xuĂąn hạ thu đĂŽng, xoay vần thế mĂŁi khĂŽng cĂčng.

Do sự khảo sĂĄt trĂȘn, chĂșng ta khẳng định rằng “muĂŽn vật ở thế gian đều xoay quanh vĂČng luĂąn hồi”, lĂ  sự thật khĂŽng cĂČn gĂŹ phải nghi ngờ.

TrĂȘn đĂąy tạm cử vĂ i thĂ­ dụ lĂ m căn bản cho cĂŽng cuộc suy xĂ©t phĂĄn đoĂĄn Phật phĂĄp. Căn cứ vĂ o đĂąy, chĂșng ta phĂĄn xĂ©t những lời Phật dạy, hoặc chư Tăng dạy trong những trường hợp khĂĄc. CĂł thế, mới phĂąn biệt được chĂĄnh tĂ  vĂ  mới đĂșng tinh thần người học Phật.

Thế nĂ o lĂ  Tu Tuệ?

Sau khi phĂĄn xĂ©t lời Phật dạy lĂ  đĂșng, chĂșng ta đem ĂĄp dụng trong cuộc sống hằng ngĂ y của mĂŹnh, khiến chĂĄnh lĂœ cĂ ng bĂ y hiện sĂĄng tỏ, lĂ  tu tuệ. VĂ­ như, đĂŁ biết rĂ” “tất cả thế gian lĂ  vĂŽ thường”, chĂșng ta ứng dụng sự vĂŽ thường vĂ o đời sống của mĂŹnh, trong những trường hợp như sau:

ĐĂŁ biết rĂ” thế gian lĂ  vĂŽ thường, khi gặp vĂŽ thường đến với bản thĂąn, với gia đĂŹnh ta, ta vẫn giữ bĂŹnh tĩnh khĂŽng hốt hoảng hĂŁi sợ. VĂŹ biết chắc điều đĂł ở thế gian khĂŽng ai trĂĄnh khỏi, sợ hĂŁi kinh hoĂ ng chỉ lĂ m rối thĂȘm vĂŽ Ă­ch. Bởi khĂŽng sợ nĂȘn tĂąm ta bĂŹnh tĩnh sĂĄng suốt, giải quyết mọi việc một cĂĄch tốt đẹp. ChĂșng ta vẫn đủ sĂĄng suốt để khuyĂȘn giải cho những người đồng cảnh ngộ bớt đau khổ.

Biết rĂ” thế gian lĂ  vĂŽ thường, mọi sự tranh giĂ nh danh lợi, tĂ i sắc... lĂČng ta nguội lạnh. Tranh giĂ nh những thứ tạm bợ ấy lĂ m gĂŹ, để rồi chuốc khổ về mĂŹnh, gĂąy đau khổ cho người, rốt cuộc chỉ thĂ nh việc mĂČ trăng bắt bĂłng. LĂČng tham lam giĂ nh giật dục lạc thế gian, do đĂąy dứt sạch.

Do thấy rĂ” lẽ vĂŽ thường, chĂșng ta khĂŽng thể ngồi yĂȘn chờ chết. Phải cố gắng lĂ m mọi viN79;c lĂ nh, nếu cơn vĂŽ thường đến, chĂșng ta cĂł muốn lĂ m cũng khĂŽng sao lĂ m được. Lại biết quĂ­ tiếc thời giờ, một ngĂ y qua rồi khĂŽng tĂŹm lại được, phải cấp bĂĄch nỗ lực lĂ m lợi mĂŹnh lợi người, khĂŽng thể chần chờ.

ĐĂł lĂ  ba trường hợp do biết “thế gian vĂŽ thường”, chĂșng ta khĂ©o ứng dụng tu hĂ nh trong cuộc sống hiện tại của mĂŹnh. Bao nhiĂȘu sự lợi Ă­ch tốt đẹp sẽ theo đĂł mĂ  tăng trưởng. Sự tu hĂ nh ấy, đi đĂŽi với tĂąm trĂ­ tỉnh tĂĄo sĂĄng suốt, nĂȘn gọi lĂ  “Tu tuệ”.

VĂ­ dụ khĂĄc, chĂșng ta nhận rĂ” “muĂŽn vật luĂąn hồi”, liền ứng dụng lĂœ luĂąn hồi vĂ o cuộc sống của mĂŹnh. Nếu phải luĂąn hồi, chĂșng ta chọn cĂĄi luĂąn hồi nĂ o tốt đẹp an ổn hơn. VĂ­ như, biết cĂĄc loĂ i thảo mộc từ hạt nẩy mầm, sanh trưởng thĂ nh cĂąy, đơm hoa, kết quả; hạt lại nẩy mầm... ChĂșng ta nĂȘn chọn lựa hạt tốt giống ngon đem ương, để sau nĂ y kết quả ngon, cho ta vĂ  mọi người được thưởng thức vị ngon. Cũng thế, trong vĂČng luĂąn hồi bản thĂąn ta cũng khĂŽng thoĂĄt khỏi, ta cần tạo những nhĂąn tốt, nhĂąn an vui, để mai kia cĂł lăn lộn cũng lăn lộn trong chỗ tốt, chỗ an vui.

ĐĂŁ biết muĂŽn vật luĂąn hồi, chĂșng ta phải tĂŹm xem nguyĂȘn nhĂąn nĂ o lĂŽi cuốn vĂ o trong ấy. Biết rĂ” nguyĂȘn nhĂąn rồi, phải tĂŹm cĂĄch thoĂĄt ra ngoĂ i vĂČng luĂąn hồi. KhĂŽng đầu hĂ ng khuất phục, để chịu lăn mĂŁi trong luĂąn hồi. Như cĂĄc nhĂ  khoa học nghiĂȘn cứu biết sức hĂșt của quả đất, sau đĂł tĂŹm cĂĄch chế phi thuyền đủ sức mạnh vượt ra ngoĂ i vĂČng hĂșt của quả đất, đi thẳng vĂ o quĩ đạo v.v... Biết luĂąn hồi để tĂŹm cĂĄch thoĂĄt ra, chĂ­nh lĂ  tinh thần “Tu tuệ”.

Văn tuệ, Tư tuệ rất cần thiết, song Tu tuệ lại cĂ ng quan trọng hơn. Nếu cĂł văn tuệ, tư tuệ mĂ  thiếu tu tuệ thĂŹ chỉ lĂ  tuệ rỗng, khĂŽng lợi Ă­ch thiết thực cho đời sống con người. Nhờ tu tuệ mới thẩm định được giĂĄ trị văn, tư ở trĂȘn vĂ  giĂșp cho văn, tư được kết quả viĂȘn mĂŁn.

VĂŹ thế, đức Phật dạy hĂ ng Phật tử đi chĂča lĂ  cốt gặp Sư tăng, Sư ni, gặp Tăng Ni rồi cần phải thưa hỏi Phật phĂĄp, thưa hỏi xong phải ghi nhớ, ghi nhớ rồi cần phĂĄn xĂ©t, phĂĄn xĂ©t rồi phải tiến tu. Được vậy mới đĂșng tinh thần Phật tử (Phỏng theo bĂ i kinh Ma-ha-nam trong Tạp A-hĂ m). Bồ-tĂĄt QuĂĄn Thế Âm cũng trĂŹnh với Phật, thuở quĂĄ khứ lĂąu xa NgĂ i gặp Phật dạy tu phương phĂĄp văn, tư, tu được vĂ o chĂĄnh định vĂ  cho hiệu lĂ  QuĂĄn Thế Âm (Kinh Lăng NghiĂȘm). ChĂ­nh trong giới Bồ-tĂĄt, Phật cũng dạy “dĂč ở xa trăm ngĂ n dặm, nghe cĂł người nĂłi kinh luật, người mới thọ giới Bồ-tĂĄt cũng phải mang kinh luật đến đĂł học (Kinh Phạm VĂ”ng). Quả nhiĂȘn đức Phật khĂŽng chấp nhận đệ tử tu hĂ nh tối dốt, phải đầy đủ ba mĂŽn Tuệ học, mới xứng lĂ  đệ tử của NgĂ i.

Ba mĂŽn Tuệ học nĂ y hoĂ n toĂ n thĂ­ch hợp với tinh thần khoa học hiện nay. Bất luận mĂŽn học nĂ o, trước tiĂȘn học lĂœ thuyết, kế phĂȘ bĂŹnh lĂœ thuyết, sau thĂ­ nghiệm hay thực hĂ nh lĂœ thuyết. LĂœ thuyết tức lĂ  văn tuệ, phĂȘ bĂŹnh tức lĂ  tư tuệ, thĂ­ nghiệm.

LÀM SAO TU THEO PHẬT?

Chỉ dạy chĂșng sanh tu hĂ nh thĂ nh Phật lĂ  bản hoĂ i của chư Phật. Song vĂŹ trĂŹnh độ khả năng sai biệt của chĂșng sanh, khĂŽng thể đồng tu theo một mĂŽn vĂ  đồng kết quả như nhau được, bất đắc dĩ Phật phải dạy nhiều phương phĂĄp tu khĂĄc nhau. Trong đĂł đại khĂĄi chia lĂ m hai loại: tu cĂČn luĂąn hồi, tu ra khỏi luĂąn hồi (giải thoĂĄt).

Tu cĂČn luĂąn hồi

Trong phần Phật phĂĄp ở trước, ChĂąn lĂœ phổ biến cĂł NhĂąn quả vĂ  DuyĂȘn sanh, động cơ chủ yếu của hai lĂœ nĂ y lĂ  Nghiệp. Cho nĂȘn nĂłi “nghiệp quả” vĂ  “nghiệp duyĂȘn”. Do nghiệp lĂ nh dữ lĂ m nhĂąn đưa đến kết quả tốt xấu lĂ  quả. Bởi nghiệp lĂŽi cuốn thĂșc đẩy theo duyĂȘn kết hợp sanh trưởng, nghiệp mĂŁn duyĂȘn rĂŁ rời thĂŹ hợp thể tan hoại. Thế nĂȘn, nghiệp lĂ  chủ động trong vĂČng luĂąn hồi. Nghiệp hệ trọng dường ấy, chĂșng ta cần biết nĂł lĂ  gĂŹ?

Nghiệp lĂ  hĂ nh động tạo tĂĄc của chĂșng sanh, xuất phĂĄt từ thĂąn miệng Ăœ, nĂłi gọn lĂ  tĂĄc động. TĂĄc động do chĂșng sanh tạo ra, rồi chi phối lại chĂșng sanh. VĂ­ như chĂ ng họa sĩ tưởng tượng vẽ hĂŹnh một mỹ nữ, vẽ xong ngắm xem những nĂ©t kiều diễm của mỹ nữ, chĂ ng ta lại sanh yĂȘu bức họa do chĂ­nh tay mĂŹnh vẽ. Cũng thế, chĂșng sanh do thĂąn miệng Ăœ tạo nghiệp, nghiệp lại lĂŽi cuốn chĂșng sanh đi thọ quả bĂĄo, thọ bĂĄo lại tạo nghiệp, mĂŁi mĂŁi khĂŽng cĂčng. Sự quanh quẩn xuống lĂȘn do động cơ nghiệp thĂșc đẩy, gọi lĂ  luĂąn hồi.

NĂłi đến nghiệp lĂ  xĂĄc định quyền lĂ m chủ của chĂ­nh mĂŹnh, mĂŹnh tạo rồi mĂŹnh chịu, khĂŽng do sức thiĂȘng liĂȘng nĂ o tạo nĂȘn, cũng khĂŽng do sự bắt buộc của tha nhĂąn. Chỉ cĂł tĂĄc động của chĂșng ta, lĂąu thĂ nh thĂłi quen cĂł sức mạnh chi phối lại chĂșng ta. VĂ­ như bệnh hĂșt thuốc, ghiền rượu chẳng hạn. KhĂŽng cĂł người nĂ o vừa biết ăn biết nĂłi lĂ  ghiền thuốc ghiền rượu ngay, phải do buổi đầu tập tĂ nh lĂąu ngĂ y thĂ nh thĂłi quen, cĂł sức mạnh thĂșc đẩy người ta phải tiếp tục đi theo con đường đĂł, tức lĂ  thĂ nh bệnh ghiền. Khi đĂŁ thĂ nh bệnh ghiền thĂŹ, chi phối hoĂ n toĂ n đời sống của họ, cĂł đĂŽi khi họ chĂĄn sợ cĂĄi bệnh của mĂŹnh, muốn dừng bỏ mĂ  khĂŽng thể bỏ được. ĐĂł lĂ  sức mạnh của nghiệp dẫn.

Nghiệp cĂł chia nghiệp lĂ nh vĂ  nghiệp dữ, nhưng cả hai đều cĂČn cuốn hĂșt trong vĂČng luĂąn hồi. Người biết tu cần gĂąy tạo nghiệp lĂ nh, chừa bỏ nghiệp dữ. ĐĂł lĂ  chĂșng ta biết chọn lựa sự luĂąn hồi tốt đẹp an ổn trong tương lai. Như ở thế gian:

CĂł người muốn tĂŹm thĂș vui tao nhĂŁ một mĂŹnh, hằng ngĂ y tập uống trĂ  chơi kiểng lĂ m thơ, lĂąu rồi thĂ nh thĂłi quen, thiếu những thứ ấy nghe buồn bực khĂł chịu, đĂŁ thĂ nh nghiệp trĂ  thơ.

CĂł người thĂ­ch thĂș vui cờ nhạc cĂčng vĂ i tri kỷ đĂĄnh nhạc chơi cờ, dần dần thĂ nh thĂłi quen, thiếu nĂł cũng khĂŽng chịu nổi, đĂŁ thĂ nh nghiệp cờ đĂ n.

CĂł ngư&#7901;i ưa cĂĄi vui say sưa nhộn nhịp vĂ o cao lĂąu tửu điếm hĂ­ trường, mĂŁi thĂ nh thĂłi quen, khĂŽng đến đĂł cảm nghe sầu nĂŁo bứt rứt, đĂŁ thĂ nh nghiệp rượu chĂš.

CĂł người thĂ­ch đỏ đen rủ nhau đến sĂČng bạc, nhiều lần trở nĂȘn ghiền cờ bạc, đĂŁ thĂ nh nghiệp cờ bạc.

Những nghiệp nĂ y đều do người tập tĂ nh mĂ  cĂł, khĂŽng phải ngẫu nhiĂȘn được thĂ nh. Trong những nghiệp ấy cĂł cĂĄi thanh bai tao nhĂŁ, cĂł cĂĄi vui vẻ nhẹ nhĂ ng, cĂł cĂĄi hư người mất nết, chung qui đều do người tập lấy rồi chịu lấy. Thế lĂ  chĂșng ta trọn quyền định lấy số phận hiện tại vĂ  vị lai của mĂŹnh.

Nghiệp xuất phĂĄt từ thĂąn miệng Ăœ của chĂșng ta. Nơi thĂąn cĂł giết hại, trộm cướp, dĂąm dật (tĂ  dĂąm); nơi miệng cĂł nĂłi dối trĂĄ, nĂłi ly giĂĄn, nĂłi hoa mỹ, nĂłi thĂŽ bạo; nơi Ăœ cĂł si mĂȘ, tham lam, nĂłng giận. Những điều nĂ y dường như thĂłi xấu ngĂ n đời đĂŁ mang sẵn trong con người chĂșng ta. ChĂșng ta cĂł mặt trĂȘn nhĂąn gian nĂ y lĂ  cĂł nĂł theo, thĂłi quen nĂ y lĂ m đau khổ chĂșng sanh, nĂȘn gọi lĂ  nghiệp ĂĄc. Biết dừng những thĂłi xấu ấy, hay chuyển cĂĄi xấu thĂ nh tốt lĂ  biết tu.

Tu cĂł hai hạng: dừng nghiệp vĂ  chuyển nghiệp.

Tu dừng nghiệp

Từ xa xưa khĂŽng biết đạo lĂœ, chĂșng ta buĂŽng lung thĂąn chạy theo sự giết hại, trộm cướp, dĂąm dật (tĂ  dĂąm) lĂ m đau khổ chĂșng sanh, tức lĂ  nghiệp ĂĄc nơi thĂąn. Giờ đĂąy biết đạo lĂœ, dừng lại khĂŽng lĂ m nữa, lĂ  tu dừng nghiệp của thĂąn. Trước kia nơi miệng ưa nĂłi dối trĂĄ, nĂłi ly giĂĄn, nĂłi hoa mỹ, nĂłi thĂŽ bạo để lường gạt, chia lĂŹa, say mĂȘ, bực tức khiến người đau khổ, lĂ  nghiệp ĂĄc của miệng. Hiện nay biết chận đứng ngăn đĂłn khĂŽng cho nĂłi những lời ấy nữa, lĂ  tu dừng nghiệp nơi miệng. Khi xưa Ăœ phĂłng tĂșng chạy theo si mĂȘ, tham lam, nĂłng giận lĂŽi cuốn bản thĂąn mĂŹnh vĂ o đường lầm lạc khổ đau vĂ  lĂ m thương tổn đến kẻ khĂĄc, lĂ  nghiệp ĂĄc của Ăœ. Giờ nĂ y chĂșng ta biết hối lỗi, bắt buộc nĂł dừng lại, lĂ  tu dừng nghiệp của Ăœ.

Biết dừng ba nghiệp lĂ m ĂĄc, tức lĂ  ba nghiệp lĂ nh, vĂŹ khĂŽng cĂČn lĂ m đau khổ chĂșng sanh. Ta khĂŽng tạo nghiệp khổ với chĂșng sanh, lĂ m gĂŹ bị nghiệp ĂĄc lĂŽi cuốn chĂșng ta đến nơi đền trả. Song biết dừng nghiệp ĂĄc mới lĂ  cĂĄi thiện tiĂȘu cực, cần tiến lĂȘn tu cĂĄi thiện tĂ­ch cực chuyển nghiệp.

Tu chuyển nghiệp

Chuyển nghiệp tức lĂ  thay nghiệp xấu đổi thĂ nh nghiệp tốt. Thay vĂŹ ngĂ y xưa thĂąn ưa giết hại, trộm cướp, dĂąm dật (tĂ  dĂąm) nay thĂ­ch lĂ m việc cứu mạng, giĂșp đỡ, trinh bạch, lĂ  chuyển nghiệp ĂĄc thĂ nh nghiệp thiện của thĂąn. NgĂ y xưa miệng thường nĂłi dối trĂĄ, nĂłi ly giĂĄn, nĂłi hoa mỹ, nĂłi thĂŽ bạo, nay đổi thĂ nh nĂłi chĂąn thật, nĂłi hĂČa hợp, nĂłi đĂșng lĂœ, nĂłi nhĂŁ nhặn, lĂ  chuyển nghiệp ĂĄc thĂ nh nghiệp thiện của miệng. NgĂ y xưa Ăœ hay si mĂȘ, tham lam, nĂłng giận nay sửa lại thĂ nh trĂ­ tuệ, buĂŽng xả, từ bi, lĂ  chuyển nghiệp ĂĄc thĂ nh nghiệp thiện của Ăœ. Tu mười nghiệp lĂ nh nĂ y cĂł tĂĄnh cĂĄch xĂąy dựng kiến tạo sự an vui tốt đẹp cho mọi người. Ở nhĂąn gian nếu được đa số người biết tu chuyển nghiệp thĂŹ, nhĂąn gian khĂŽng cầu hạnh phĂșc mĂ  hạnh phĂșc cũng tự đến. Biết tu chuyển nghiệp thĂŹ hiện tại được an lĂ nh, tương lai cũng vui vẻ.

Tuy cĂČn luĂąn hồi, song người biết tu dừng nghiệp vĂ  chuyển nghiệp hằng đến những nơi vui vẻ cao sang. Ngược lại, kẻ buĂŽng lung ba nghiệp lĂ m ĂĄc thĂŹ thường tới lui những nơi đau khổ cơ cực. Như nhĂąn loại hiện sống trĂȘn quả địa cầu nĂ y, cĂł những nơi vui tươi sung sướng, cũng cĂł những nơi đau khổ nghĂšo nĂ n, đến trong một nước một xứ cũng vẫn cĂł kẻ khổ người vui. Quan sĂĄt qua những cảnh tượng ấy, chĂșng ta thấy tĂčy nghiệp duyĂȘn gĂąy tạo, chịu khổ vui sai biệt của chĂșng sanh thật quĂĄ rĂ” rĂ ng.

Mặc dĂč thế, muốn giĂșp sức mạnh cho việc tu dừng nghiệp vĂ  chuyển nghiệp được kết quả viĂȘn mĂŁn, điều kiện tiĂȘn quyết phải Qui y Tam Bảo vĂ  giữ gĂŹn năm giới.

Qui y lĂ  đặt định hướng cho cả cuộc đời của mĂŹnh. ChĂșng ta tập tu dừng nghiệp vĂ  chuyển nghiệp để nhằm mục đĂ­ch gĂŹ? Phải chăng vĂŹ muốn tiến theo gĂłt chĂąn của đức Phật, sống theo chĂĄnh phĂĄp của NgĂ i, nương sự hướng dẫn của chư Tăng, để cuộc sống của chĂșng ta cĂ ng ngĂ y cĂ ng vươn cao. Suốt đời chĂșng ta nhằm thẳng mục tiĂȘu ấy mĂ  tiến, khĂŽng cĂČn thĂĄi độ ngại ngĂčng chần chờ, dũng cảm cương quyết vượt mọi trở ngại, đến được mục tiĂȘu mới thĂŽi. Được vậy mới đĂșng tinh thần Qui y Tam Bảo, tức lĂ  xứng đĂĄng sự trở về nương tựa Phật, PhĂĄp vĂ  Tăng.

Giới luật lĂ  hĂ ng rĂ o ngăn chận ba nghiệp khỏi rơi vĂ o hố tội lỗi. GĂŹn giữ năm giới lĂ  trạm nghỉ chĂąn đầu trĂȘn con đường tu dừng nghiệp. Thiếu trạm nghỉ chĂąn nĂ y, chĂșng ta khĂŽng đủ sức khỏe leo lĂȘn ngọn nĂși thiện nghiệp an toĂ n. Năm giới cũng lĂ  nấc thang đầu trĂȘn cĂąy thang giải thoĂĄt. Mọi sự an lĂ nh siĂȘu thoĂĄt đều bắt nguồn từ năm giới. Cho nĂȘn lĂ  Phật tử phải xem trọng vĂ  tuĂąn giữ năm giới, như người gĂŹn giữ hĂČn ngọc quĂ­, trong khi đi xuyĂȘn qua bọn người bất lương.

Bởi qui y giữ giới cĂł tĂĄnh cĂĄch quan yếu như thế, nĂȘn mọi người muốn trở thĂ nh Phật tử trước phải phĂĄt nguyện qui y Tam Bảo vĂ  gĂŹn giữ năm giới. Đầy đủ qui giới rồi, chĂșng ta mới cĂł thể tiến tu lĂȘn cĂĄc phĂĄp mĂŽn khĂĄc.

Tu ra khỏi luĂąn hồi (giải thoĂĄt)

ChĂșng ta đĂŁ biết chủ động lực trong vĂČng luĂąn hồi lĂ  nghiệp, thĂąn miệng Ăœ lĂ  nơi xuất phĂĄt nghiệp, nghiệp cĂČn thĂŹ cĂČn luĂąn hồi, nghiệp sạch thĂŹ hết luĂąn hồi. Nhưng trong ba nghiĂȘĂŻp, Ăœ nghiệp lĂ  chủ động, vĂŹ cĂł Ăœ nghĩ mới sai khiến miệng nĂłi thĂąn lĂ m. Muốn sạch nghiệp, chĂșng ta trước phải lo tảo thanh Ăœ nghiệp. KhĂŽng chịu dọn dẹp Ăœ nghiệp, chỉ lo tu tập thĂąn miệng, lĂ  lĂ m việc ngọn ngĂ nh.

Thuở xưa, Tổ HoĂ i Nhượng ở Nam Nhạc thường thấy Thiền sư Đạo Nhất (MĂŁ Tổ) ra tảng đĂĄ ngồi thiền suốt ngĂ y. Tổ đến hỏi: Đại đức ngồi thiền để lĂ m gĂŹ? Đạo Nhất thưa: Để lĂ m Phật. HĂŽm sau, Tổ lấy hĂČn gạch đến trĂȘn phiến đĂĄ bĂȘn cạnh tảng đĂĄ Đạo Nhất ngồi thiền, Tổ mĂ i. Đạo Nhất thấy lạ hỏi: Thầy mĂ i gạch để lĂ m gĂŹ? Tổ đĂĄp: MĂ i để lĂ m gương. Đạo Nhất thưa: MĂ i gạch đĂąu thể lĂ m gương được? Tổ bảo: Ngồi thiền đĂąu thể thĂ nh Phật được. Đạo Nhất hỏi: Vậy lĂ m thế nĂ o mới phải? Tổ bảo: Như trĂąu kĂ©o xe, nếu xe khĂŽng đi, đĂĄnh xe lĂ  phải, đĂĄnh trĂąu lĂ  phải? Đạo Nhất lặng thinh.

Xe lĂ  cĂĄi bị động, trĂąu lĂ  chủ động. Muốn điều khiển xe đi phải nhằm thẳng cĂĄi chủ động thĂŽi thĂșc nĂł. Cắm đầu đĂĄnh đập thĂŽi thĂșc cĂĄi bị động chỉ lĂ  việc phĂ­ cĂŽng vĂŽ Ă­ch. ThĂąn miệng lĂ  cĂĄi bị động, Ăœ lĂ  chủ động, khĂŽng chịu thĂșc liễm Ăœ, cố kềm thĂąn ngồi ngay thẳng hay khiến miệng đọc tụng mĂŁi, cũng lĂ  việc khĂŽng cĂŽng. ThĂșc liễm kềm hĂŁm Ăœ đĂąu hạn cuộc hĂŹnh thức ngồi hay đứng, mĂ  cả bốn oai nghi, đi đứng ngồi nằm, đều phải theo dĂ”i luĂŽn. Hằng theo dĂ”i như thế, khả dĩ chận đứng được Ăœ nghiệp. Ý nghiệp dừng lặng rồi, thĂąn nghiệp, khẩu nghiệp theo đĂł được thanh tịnh.

Thế nĂȘn, những phương phĂĄp tu trong đạo Phật như: tụng kinh, trĂŹ chĂș, niệm Phật, tọa thiền... đều nhắm thẳng chận đứng Ăœ nghiệp. CĂĄc vị TĂŽn tĂșc thường dạy: “Tụng kinh khĂŽng loạn tưởng mới đầy đủ phước đức, trĂŹ chĂș tĂąm khĂŽng xao động mới linh nghiệm, niệm Phật nhất tĂąm mới được vĂŁng sanh, tọa thiền tĂąm lặng lẽ mới được chĂĄnh định.” KhĂŽng loạn tưởng, tĂąm khĂŽng xao động, nhất tĂąm, tĂąm lặng lẽ đều lĂ  trạng thĂĄi dừng lặng của Ăœ nghiệp. Tuy phĂĄp tu cĂł thĂŽ tế khĂĄc nhau, song cứu kĂ­nh đều gặp nhau ở chỗ dẹp sạch Ăœ nghiệp. Đứng về mặt cứu kĂ­nh nhĂŹn nhau, chĂșng ta dung thĂŽng tất cả phĂĄp tu khĂŽng thấy gĂŹ chướng ngại. Từ cửa phương tiện phĂȘ bĂŹnh nhau, chĂșng ta thấy dường như cĂł mĂąu thuẫn lẫn nhau. Cho nĂȘn người thĂŽng lĂ  nhĂŹn đến chỗ cứu kĂ­nh, kẻ hạn cuộc chỉ thấy ở phương tiện. Phật phĂĄp như ngĂŽi nhĂ  nhiều cửa, bất luận từ cửa nĂ o miễn vĂ o được trong nhĂ  đều gặp nhau, đồng chứng kiến những sự vật hiện cĂł như nhau. Băn khoăn thắc mắc tại sao người đĂł đi cửa kia khĂŽng đi cửa nĂ y, hoặc cố tĂŹnh khuyến dụ họ trở lại đi cửa nĂ y, đừng đi cửa kia, lĂ  tĂąm trạng của kẻ học Phật sơ đẳng. “HĂŁy tự do chọn lấy một cửa nĂ o thuận tiện với vị trĂ­ đang đứng, cố gắng tiến vĂ o nhĂ  sẽ được lợi Ă­ch”, đĂąy lĂ  lời khuyĂȘn của người thĂŽng suốt.

Phạm vi quyển sĂĄch nĂ y, chĂșng tĂŽi chỉ giải thĂ­ch đơn giản về hai phương phĂĄp Niệm Phật vĂ  Tu Thiền. NĂłi khĂĄc đi lĂ  lối tu của Tịnh độ tĂŽng vĂ  Thiền tĂŽng, để hĂ nh giả nương theo đĂł tiến tu giải thoĂĄt luĂąn hồi sanh tử.

Phương phĂĄp niệm Phật

Phương phĂĄp niệm Phật cĂł QuĂĄn tưởng niệm Phật vĂ  TrĂŹ danh niệm Phật. QuĂĄn tưởng niệm Phật căn cứ kinh QuĂĄn VĂŽ Lượng Thọ, TrĂŹ danh niệm Phật căn cứ kinh A-di-đĂ . TrĂŹ danh niệm Phật được đại đa số Tăng Ni vĂ  Phật tử tu tập, nĂȘn ở đĂąy riĂȘng giải thĂ­ch.

PhĂĄp mĂŽn tu tập nĂ o của Phật dạy đều cĂł chia Phương tiện vĂ  Cứu kĂ­nh. Phương tiện vĂ­ như cửa cổng, cứu kĂ­nh vĂ­ như ĂŽng chủ nhĂ . Muốn gặp ĂŽng chủ nhĂ , trước tiĂȘn chĂșng ta phải từ cửa cổng đi vĂ o nhĂ . Nếu khĂŽng nương cửa cổng thĂŹ khĂł vĂ o đến nhĂ , huống lĂ  gặp ĂŽng chủ. Cửa cổng lĂ  điều kiện tiĂȘn quyết để gặp ĂŽng chủ, thiếu điều kiện nĂ y thĂŹ sự mong muốn khĂł thĂ nh đạt. Phương phĂĄp TrĂŹ danh niệm Phật muốn được kết quả viĂȘn mĂŁn, trước phải khĂ©o ứng dụng phương tiện của nĂł.

Thế nĂ o lĂ  phương tiện của phĂĄp TrĂŹ danh niệm Phật?

Phương tiện TrĂŹ danh niệm Phật lĂ  “dĂčng tĂŹnh cảm để dẹp tĂŹnh cảm”, nĂłi cụ thể hơn “dĂčng gai lể gai”. Cho nĂȘn cửa phương tiện của nĂł lĂ  Ưa (hĂąn)  vĂ  ChĂĄn (yếm) hay hồi hướng. Bởi vĂŹ phĂ m phu chĂșng ta hằng đắm mĂȘ theo dục lạc thế gian, thường ngĂ y tĂąm niệm cứ tung tăng đuổi theo dục lạc, muốn dừng tĂąm niệm lại, song khĂŽng tĂ i nĂ o dừng nổi. Thấy thế, Phật thương xĂłt vĂŹ chĂșng ta nĂłi kinh A-di-đĂ , chủ yếu trong ấy, trước diễn tả cảnh trang nghiĂȘm đẹp đẽ ở cĂ”i Cực Lạc, sau chĂȘ trĂĄch sự khổ sở nhơ nhớp ở cĂ”i Ta-bĂ , khiến chĂșng sanh sanh tĂąm ưa thĂ­ch cĂ”i Cực Lạc, chĂĄn ngĂĄn cĂ”i Ta-bĂ . TĂąm ưa chĂĄn đến cao độ thĂŹ niệm danh hiệu Phật dễ được nhất tĂąm. Nếu khĂŽng biết ưa chĂĄn, dĂč cĂł niệm Phật cũng chỉ niệm trong loạn tưởng mĂ  thĂŽi. Thế nĂȘn, Ưa ChĂĄn lĂ  cửa cổng đi vĂ o ngĂŽi nhĂ  Cực Lạc.

Ưa cĂĄi gĂŹ?

Thể theo kinh A-di-đĂ , đức Phật ThĂ­ch-ca định nghĩa cĂ”i Cực Lạc lĂ :

“ChĂșng sanh trong cĂ”i nĂ y khĂŽng cĂł cĂĄc thứ khổ, chỉ thọ cĂĄc điều vui, nĂȘn gọi lĂ  Cực Lạc.”

Lại nữa, cĂ”i Cực Lạc nĂ o lĂ  hĂ ng rĂ o, lưới giăng, hĂ ng cĂąy đều lĂ m bằng bốn thứ bĂĄu – bạc, vĂ ng, lưu ly, pha lĂȘ - ao nước rất ngon lĂ nh đầy đủ tĂĄm thứ cĂŽng đức, trĂȘn bờ ao cĂł nhĂ  lầu xĂąy bằng bảy bĂĄu -bạc vĂ ng lưu ly pha lĂȘ xa cừ xĂ­ch chĂąu mĂŁ nĂŁo - dưới ao cĂł hoa sen lĂĄ to bằng bĂĄnh xe, hoa nở phĂĄt ĂĄnh sĂĄng tĂčy theo sắc vĂ  nhả hương thơm ngĂ o ngạt, cĂł nhạc trời, cĂł mưa hoa, cĂł chim hĂłt thĂ nh tiếng nĂłi phĂĄp ...

Đức Phật chủ cĂ”i Cực Lạc hiệu A-di-đĂ  - VĂŽ lượng quang, VĂŽ lượng thọ - đang vĂŹ chĂșng nĂłi phĂĄp. DĂąn chĂșng ở cĂ”i nĂ y toĂ n lĂ  hĂ ng Thanh văn, Bồ-tĂĄt tu hĂ nh đều được khĂŽng cĂČn lui sụt vĂ  cĂł những vị chỉ cĂČn một đời được bổ đi lĂ m Phật ..., cho nĂȘn ở đĂąy thảy đều lĂ  hạng người lĂ nh bậc thượng.

CĂ”i nĂ y chứa đựng đầy đủ những yếu tố mĂ  chĂșng ta đang ưa thĂ­ch, nĂ o lĂ  thuần vui khĂŽng khổ, trang nghiĂȘm đẹp đẽ, bảy bĂĄu dẫy đầy, thầy thĂĄnh bạn hiền, s&#7889;ng lĂąu khỏe mạnh, ăn mặc tĂčy Ăœ, lui tới thong dong ... Những hĂŹnh ảnh nĂ y khiến chĂșng ta khao khĂĄt ước mơ, đĂł lĂ  Ưa.

ChĂĄn cĂĄi gĂŹ?

Phần sau kinh A-di-đĂ , đức Phật ThĂ­ch-ca nĂłi:

“Chư Phật ở mười phương cũng khen ngợi ta rằng: Phật ThĂ­ch-ca MĂąu-ni hay lĂ m được việc Ă­t cĂł khĂł lĂ m, hay ở thế giới Ta-bĂ  xấu ĂĄc đầy dẫy năm thứ nhơ nhớp - kiếp người nhơ nhớp, kiến chấp nhơ nhớp, phiền nĂŁo nhơ nhớp, chĂșng sanh nhơ nhớp, mạng sống nhơ nhớp - được thĂ nh Phật, vĂŹ chĂșng sanh nĂłi phĂĄp khĂł tin.”

ĐĂł lĂ  Phật chĂȘ trĂĄch cĂ”i Ta-bĂ  nhơ nhớp xấu xa khiến chĂșng ta nhĂ m chĂĄn xa lĂĄnh. Hai bĂȘn đĂŁ trưng bĂ y rĂ” rĂ ng trước mắt chĂșng ta, một bĂȘn thĂŹ tốt đẹp trang nghiĂȘm sang trọng vui vẻ, một bĂȘn nhơ nhớp xấu xa khổ đau, để chĂșng ta sanh tĂąm ưa thĂ­ch bĂȘn vui, chĂĄn ngĂĄn bĂȘn khổ. ĐĂł lĂ  cửa cổng ưa chĂĄn để tiến vĂ o ngĂŽi nhĂ  Cực Lạc.

VĂŹ ưa thĂ­ch say mĂȘ cảnh đẹp cĂ”i Cực Lạc, chĂĄn ngĂĄn cĂĄi xấu xa nhơ nhớp cĂ”i Ta-bĂ , nĂȘn tĂąm phiền rộn lăng xăng chạy theo dục lạc thế gian của chĂșng ta dần dần khĂŽ lạnh, chừng đĂł ứng dụng phĂĄp tu TrĂŹ danh niệm Phật mới thĂ nh cĂŽng. Song muốn tĂąm ưa chĂĄn lĂȘn đến cực điểm, hằng ngĂ y chĂșng ta phải phĂĄt nguyện hồi hướng.

Hồi hướng thế nĂ o?

Hồi lĂ  xoay lại, hướng lĂ  hướng đến. ChĂșng ta xoay sự ưa thĂ­ch quyến luyến nơi cĂ”i Ta-bĂ  hướng đến cĂ”i Cực Lạc để chĂĄn cĂ”i Ta-bĂ , mến ưa Cực Lạc. VĂ­ như:

Mỗi khi ra đường thấy rĂĄc rến sĂŹnh lầy nhơ nhớp, chĂșng ta khởi nghĩ: CĂ”i Ta-bĂ  thật lĂ  bẩn thỉu nhơ nhớp đĂĄng chĂĄn, cĂ”i Cực Lạc toĂ n bảy bĂĄu trang nghiĂȘm trong sạch đĂĄng ưa thĂ­ch. Ta nhất định phĂĄt nguyện sanh về Cực Lạc để khỏi thấy sự nhơ nhớp nĂ y nữa. &#272;Ăł lĂ  hồi nhơ nhớp hướng trong sạch.

Hoặc khi chĂșng ta gặp những nghịch cảnh bức bĂĄch khổ đau liền khởi nghĩ: CĂ”i Ta-bĂ  nhiều đau khổ bất như Ăœ, ở Cực Lạc hoĂ n toĂ n an vui mĂŁn nguyện. Ta phải chĂĄn cĂ”i nĂ y, mong mỏi được vĂŁng sanh về cĂ”i Cực Lạc mới toại nguyện. ĐĂąy lĂ  hồi đau khổ hướng Cực Lạc.

Hoặc khi ra chợ hay xĂłm lĂ ng nghe những lời chửi bới nguyền rủa, chĂșng ta khởi nghĩ: Ở Ta-bĂ  thường nghe những lời xấu ĂĄc, cĂ”i Cực Lạc hằng nghe tiếng nhạc trời, tiếng chim nĂłi phĂĄp... ta rất chĂĄn ngĂĄn cĂ”i Ta-bĂ , nguyện sanh về Cực Lạc để hằng ngĂ y được nghe phĂĄp. ĐĂąy lĂ  hồi phiền nĂŁo hướng về Bồ-đề.

Hoặc trong tĂŹnh huynh đệ bằng hữu cĂł xẩy ra việc phản trắc, chĂșng ta khởi nghĩ: Ở cĂ”i Ta-bĂ  bạn bĂš khĂŽng thật tốt khiến ta phiền nĂŁo, cĂ”i Cực Lạc toĂ n lĂ  người lĂ nh bậc thượng đĂĄng kĂ­nh mến. Ta nhất định nguyện sanh về bĂȘn ấy để được lĂ m bạn với những người toĂ n thiện. ĐĂąy lĂ  hồi bạn ĂĄc hướng bạn lĂ nh.

Hoặc vĂŹ sanh kế vất vả nhọc nhằn mĂ  kiếm miếng ăn khĂŽng đủ, tấm mặc chẳng lĂ nh, chĂșng ta khởi nghĩ: Ở Ta-bĂ  lĂ m khổ nhọc mĂ  khĂŽng đủ ăn khĂŽng cĂł mặc, cĂ”i Cực Lạc muốn ăn cĂł ăn muốn mặc cĂł mặc, khỏi lo lắng mệt nhọc. Ta quyết định nguyện sanh về Cực Lạc để được ăn no mặc ấm mĂ  khĂŽng nhọc nhằn. ĐĂąy lĂ  hồi đĂłi rĂĄch hướng no ấm...

TĂłm lại, mọi trường hợp mọi hoĂ n cảnh vừa xảy đến với chĂșng ta, chĂșng ta khĂ©o lợi dụng để hồi hướng về Cực Lạc, khiến tĂąm chĂĄn Ta-bĂ  cĂ ng ngĂ y cĂ ng mĂŁnh liệt, lĂČng ưa Cực Lạc cĂ ng lĂșc cĂ ng tăng trưởng. ĐĂł lĂ  chĂșng ta khĂ©o tận dụng cĂĄnh cửa phương tiện ưa chĂĄn tiến vĂ o ngĂŽi nhĂ  Tịnh Độ.

Thế nĂ o lĂ  cứu kĂ­nh của phĂĄp TrĂŹ danh niệm Phật?

Cũng kinh A-di-đĂ  dưới phần giới thiệu cĂ”i Cực Lạc, đức Phật ThĂ­ch-ca nĂłi:

“Nếu cĂł người thiện nam thiệĂŻn nữ nghe nĂłi về Phật A-di-đĂ , chuyĂȘn trĂŹ danh hiệu, hoặc một ngĂ y, hai ngĂ y, ba ngĂ y, bốn ngĂ y, năm ngĂ y, sĂĄu ngĂ y, bảy ngĂ y nhất tĂąm khĂŽng loạn, người ấy khi chết được Phật A-di-đĂ  vĂ  ThĂĄnh chĂșng hiện ở trước. Người nĂ y khi chết tĂąm khĂŽng điĂȘn đảo liền được vĂŁng sanh về cĂ”i Cực Lạc của Phật A-di-đĂ .”

Người muốn vĂŁng sanh về cĂ”i Cực Lạc phải giữ niệm danh hiệu đức Phật A-di-đĂ , hoặc một ngĂ y cho đến bảy ngĂ y nhất tĂąm khĂŽng loạn, nhất định được vĂŁng sanh về cĂ”i Cực Lạc. Bởi vĂŹ hĂ nh giả đĂŁ chĂĄn ngĂĄn cĂ”i Ta-bĂ  lắm rồi, một lĂČng hĂąm mộ cĂ”i Cực Lạc, nĂȘn dĂčng sĂĄu chữ Nam-mĂŽ-a-di-đĂ  Phật lĂ m cĂŽng phu tu trĂŹ hằng ngĂ y. DĂčng sĂĄu chữ nĂ y lĂ m sợi dĂąy xiềng niệt cổ con khỉ Ăœ thức của mĂŹnh, bắt buộc nĂł phải nằm im một chỗ. Tức lĂ  đi đứng ngồi nằm lĂ m việc hay nghỉ ngơi đều niệm danh hiệu Phật, hoặc niệm thầm, hoặc niệm ra tiếng tĂčy hoĂ n cảnh. KiĂȘn trĂŹ nắm giữ danh hiệu Phật khĂŽng lơi lỏng, lĂąu ngĂ y Ăœ thức sẽ kiệt quệ từ từ, cho đến một ngĂ y nĂ o đĂł sẽ lặng mất. ĐĂł lĂ  niệm Phật được nhất tĂąm. Niệm Phật nhất tĂąm thĂŹ Ăœ nghiệp được lắng sạch, thĂąn nghiệp khẩu nghiệp cũng theo đĂł sạch luĂŽn. Tức ứng hợp với cĂąu “tam nghiệp hằng thanh tịnh đồng Phật vĂŁng TĂąy Phương”. Ba nghiệp sạch hết, cĂČn động lực nĂ o lĂŽi kĂ©o chĂșng ta đi vĂ o đường luĂąn hồi?

Song chĂșng ta cần giản trạch nhất niệm vĂ  nhất tĂąm. Niệm Phật chỉ cĂČn nhất niệm, được vĂŁng sanh Tịnh độ lĂ  sự. Niệm Phật đến nhất tĂąm, thấy Tự tĂĄnh Di-đĂ  duy tĂąm Tịnh độ lĂ  lĂœ.

Chỉ chuyĂȘn trĂŹ sĂĄu chữ Di-đĂ  khĂŽng cĂł niệm nĂ o khĂĄc chen vĂ o, mượn một niệm dẹp tất cả niệm. Duy giữ một niệm niệm Phật, đi đứng ngồi nằm liĂȘn tục khĂŽng giĂĄn đoạn, đến đĂąy lĂ  nhất niệm. Nương niệm nĂ y cầu vĂŁng sanh về cĂ”i Phật Di-đĂ  chắc chắn s&#7869; mĂŁn nguyện, lĂ  sự niệm Phật.

DĂčng lục tự Di-đĂ  lĂ m diệu dược trị mọi chứng bệnh loạn tưởng, khi bệnh lĂ nh thuốc cũng bỏ. Tức lĂ  niệm Phật đến chỗ vĂŽ niệm, chỉ cĂČn nhất tĂąm chĂąn như, lĂ  nhất tĂąm. Niệm Phật đến vĂŽ niệm, thĂŹ thấy tự tĂĄnh lĂ  Di-đĂ , bản tĂąm lĂ  Tịnh độ, hiện bĂ y trước mắt. Tự tĂĄnh của mĂŹnh xưa nay hằng giĂĄc, nĂȘn nĂłi “VĂŽ lượng quang”. Tự tĂĄnh chưa từng sanh diệt, thoĂĄt ngoĂ i vĂČng thời gian, nĂȘn nĂłi “VĂŽ lượng thọ”. Bản tĂąm mĂŹnh xưa nay hằng thanh tịnh do vọng tưởng dấy động nĂȘn bị nhiễm ĂŽ, theo nghiệp dẫn đi trong lục đạo, vọng tưởng lắng sạch chỉ cĂČn một tĂąm thanh tịnh lĂ  tịnh độ, nĂȘn nĂłi “TÂM TỊNH THÌ ĐỘ TỊNH”. ĐĂąy lĂ  lĂœ niệm Phật, đĂșng với tinh thần Đại thừa Phật giĂĄo, cĂčng cĂĄc phĂĄp tu khĂĄc đồng gặp nhau.

Song buổi đầu, người niệm Phật cần đầy đủ niềm tin vĂ o lời giới thiệu của đức ThĂ­ch-ca, trĂŽng cậy hẳn vĂ o cĂ”i Cực Lạc của đức Phật A-di-đĂ , gĂĄ tĂąm nơi đĂł để gầy dựng, lĂČng ưa chĂĄn. KhĂŽng cần lĂœ luận cĂ”i Cực Lạc cĂł hay khĂŽng, chỉ tin quyết rằng đức Phật ThĂ­ch-ca khĂŽng dối gạt ta, y theo lời NgĂ i dạy tu hĂ nh chắc chắn sẽ được lợi Ă­ch lớn. Đủ lĂČng tin rồi, chuyĂȘn tĂąm trĂŹ niệm ngĂ y đĂȘm khĂŽng lơi lỏng, chẳng kể ngĂ y giờ năm thĂĄng, chỉ khi nĂ o được nhất tĂąm mới thĂŽi. Đồng thời đối duyĂȘn xĂșc cảnh khĂ©o phĂĄt nguyện hồi hướng về Cực Lạc, hĂ nh giả đầy đủ lĂČng tin (tĂ­n), chuyĂȘn tĂąm trĂŹ niệm (hạnh), thường xuyĂȘn phĂĄt nguyện hồi hướng (nguyện) lĂ  đầy đủ điều kiện tu trĂŹ phĂĄp mĂŽn TrĂŹ danh niệm Phật.

Tuy nhiĂȘn, nhĂŹn phĂĄp mĂŽn tu nĂ o, chĂșng ta phải nhĂŹn thẳng cứu kĂ­nh, đừng mắc kẹt ở phương tiện. VĂŹ phương tiện lĂ  tĂčy cơ, căn cơ chĂșng sanh cĂł cao thấp sai biệt, đức Phật vĂŹ lợi Ă­ch khắp quần sanh, nĂȘn lập cửa phương tiện cĂł nhiều sai biệt. ChĂșng ta đừng chấp vĂ o trĂŹnh độ mĂŹnh để phĂȘ bĂŹnh kẻ khĂĄc, cũng đừng vin khả năng kẻ khĂĄc trở lại khinh rẻ mĂŹnh. Phải biết căn cơ trĂŹnh độ mĂŹnh, chọn lấy phĂĄp tu thĂ­ch hợp với mĂŹnh, lĂ  người khĂŽn ngoan nhất.

Phương phĂĄp tu thiền

Tu Thiền lĂ  lối tu hướng thẳng vĂ o nội tĂąm, dẹp sạch vọng tưởng suy tĂ­nh của mĂŹnh. Muốn dẹp sạch vọng tưởng cũng cĂł chia phương tiện vĂ  cứu kĂ­nh.

Phương tiện của Thiền lĂ  “dĂčng trĂ­ tuệ dẹp tĂŹnh cảm”. Tức lĂ  nhĂŹn thẳng vĂ o sự vật quan sĂĄt phĂąn tĂ­ch để thấy sự tạm bợ giả dối của chĂșng, khiến lĂČng lạnh nhạt khĂŽng cĂČn phiền rộn say mĂȘ. Do đĂł, hĂ nh giả dụng cĂŽng tu tập tĂąm để được an định.

Thiền cĂł nhiều phĂĄp khĂĄc nhau, cĂł thiền ngoại đạo, thiền Phật giĂĄo. Trong thiền Phật giĂĄo đại loại chia lĂ m hai: Thiền đối trị vĂ  Thiền tuyệt đối.

Thiền đối trị:

TĂčy theo sự đắm nhiễm của chĂșng sanh, Phật dạy phương phĂĄp đối trị, như theo bệnh cho thuốc. Nếu hĂ nh giả cĂł bệnh gĂŹ nặng, vị Thiện tri thức phải biết rĂ” để chỉ dạy phĂĄp tu đối trị đĂșng bệnh. Song phải khĂ©o ứng dụng phương tiện của Thiền, sự tu hĂ nh mới mong đạt kết quả như nguyện.

Phương tiện của Thiền đối trị lĂ , nhĂŹn thẳng trĂȘn hĂŹnh tướng sự vật thấy rĂ” nĂł sanh diệt vĂŽ thường vĂ  biết thật do nhĂąn duyĂȘn hĂČa hợp mĂ  cĂł. DĂčng trĂ­ tuệ quĂĄn sĂĄt vạn vật vĂŽ thường, duyĂȘn hợp, khĂŽng cĂł cĂĄi gĂŹ lĂąu bền vĂ  nguyĂȘn thể. LĂČng đắm nhiễm nhĂąn đĂł từ từ lắng dịu. Tiếp sau, chĂșng ta mới ứng dụng lối tu đối trị.

PhĂĄp tu đối trị cĂł nhiều mĂŽn, hĂ nh giả nặng về bệnh gĂŹ thĂŹ dĂčng mĂŽn đĂł đối trị. Như người nhiều vọng tưởng dĂčng “Sổ tức quĂĄn” đối trị, người nặng sắc dục dĂčng “Bất tịnh quĂĄn” đối trị, người thường nĂłng giận dĂčng “Từ bi quĂĄn” đối trị, người quĂĄ ngu si dĂčng “Giới phĂąn biệt quĂĄn” đ̔9;i trị v.v... Trong những phương phĂĄp đối trị đều dĂčng đề mục để tham cứu quĂĄn sĂĄt lĂąu ngĂ y thuần thục tĂąm an định. Ở đĂąy chỉ đơn cử một phĂĄp phổ thĂŽng nhất lĂ  “Sổ tức quĂĄn”.

Nếu người nhiều vọng tưởng nĂȘn tu phĂĄp thiền “sổ tức”. Sổ tức lĂ  đếm hơi thở. ĐĂąy lĂ  phĂĄp tu thĂŽng dụng nhất trong giới tu thiền. VĂŹ vọng tưởng lĂ  bệnh chung của tất cả chĂșng sanh, muốn ngăn chận nĂł trước phải nhờ phương phĂĄp đếm hơi thở. Hơn nữa, người mới tập tu thiền trước phải điều hĂČa hơi thở, hơi thở lĂ  mạch sống thiết yếu nhất của con người. Điều hĂČa được hơi thở lĂ  bước thĂ nh cĂŽng đầu của sức khỏe vĂ  an tĂąm. ThĂąn khỏe mạnh tĂąm an ổn, hĂ nh giả mới nỗ lực tiến thẳng vĂ o phĂĄp mĂŽn thĂąm diệu được.

PhĂĄp sổ tức lĂ  tĂȘn phĂĄp đầu của “Lục diệu phĂĄp mĂŽn”. Trong sĂĄu phĂĄp mĂŽn nhiệm mầu nĂ y, đầu tiĂȘn lĂ  Sổ tức (đếm hơi thở), kế TĂčy tức (theo hơi thở), Chỉ (dừng lại một chỗ), QuĂĄn (quĂĄn sĂĄt), HoĂ n (xem xĂ©t trở lại), Tịnh (lĂłng lặng trong sạch). HĂ nh giả ứng dụng phĂĄp thiền “đếm hơi thở” phải tu từ thĂŽ đến tế, đầy đủ sĂĄu phĂĄp mới được viĂȘn mĂŁn. SĂĄu phĂĄp nĂ y cĂł cĂŽng hiệu dừng lặng mọi vọng tưởng một cĂĄch thần diệu, nĂȘn gọi lĂ  Lục Diệu PhĂĄp MĂŽn. Ở đĂąy chỉ giải thĂ­ch đơn giản sĂĄu phĂĄp như sau:

- Sổ tức. HĂ nh giả sau khi ngồi ngay thẳng đĂșng phĂĄp vĂ  sử dụng lối nhập thiền đầy đủ, liền ứng dụng phĂĄp đếm hơi thở để trụ tĂąm. HĂ nh giả hĂ­t hơi vĂŽ cĂčng, thở ra sạch, đếm một. HĂ­t vĂŽ cĂčng thở ra sạch đếm hai. MĂŁi thế, đến mười bỏ, đếm trở lại một. Nếu giữa chừng tĂąm tĂĄn loạn quĂȘn số phải đếm lại một. Phải chĂș tĂąm vĂ o số vĂ  hơi thở một cĂĄch tinh tế, tĂąm vừa xao lĂŁng liền chỉnh lại ngay. Nếu tĂąm xao xuyến khĂł kềm, nĂȘn dĂčng cĂĄch đếm nhặt hơn. HĂ­t hơi vĂŽ đến cĂčng đếm một, thở ra sạch đếm hai. Đếm đến mười bỏ, trở lại một, như cĂĄch đếm ở trĂȘn. Đến khi nĂ o ngồi nửa giờ, một giờ mĂ  đếm khĂŽng lộn, khĂŽng quĂȘn hơi thở, lĂ  tĂąm đĂŁ tạm yĂȘn. Liền tiến lĂȘn phĂĄp khĂĄc:

- TĂčy tức. HĂ nh giả bỏ khĂŽng đếm số nữa, chỉ chĂș tĂąm theo hơi thở. Hơi thở vĂ o đến đĂąu biết đến đĂł, hơi thở ra cũng biết rĂ nh rĂ”. Hơi thở dĂ i, ngắn, lạnh, nĂłng đều biết rĂ” mồn một. Theo dĂ”i hơi thở, như người chủ nợ theo dĂ”i con nợ vậy. Khi ngồi thời gian bao lĂąu, tĂąm cũng chỉ duyĂȘn theo hơi thở khĂŽng xao lĂŁng, tức lĂ  tĂąm an định. Cần chuyển lĂȘn phĂĄp kế:

- Chỉ.  HĂ nh giả khĂŽng theo hơi thở vĂŽ ra nữa, tĂąm dừng trụ tại mũi để xem hơi thở ra vĂ o. TĂąm an trụ một chỗ khĂŽng xao động, hằng thấy hơi thở ra vĂ o khĂŽng lửng quĂȘn. Suốt thời gian ngồi, tĂąm vẫn an trụ, khĂŽng loạn động, nĂȘn tiến lĂȘn phĂĄp tế hơn:

- QuĂĄn. HĂ nh giả khĂŽng an trụ yĂȘn lặng, khởi quĂĄn sĂĄt hơi thở. Hơi thở vĂŽ rồi ra khĂŽng dừng trụ, tức lĂ  vĂŽ thường. ThĂąn mạng nương hơi thở mĂ  sống, nĂȘn cũng đồng lĂ  vĂŽ thường. Hơi thở ra vĂ o thời gian thật ngắn ngủi, thĂąn mạng tựa vĂ o hơi thở cũng chợt cĂł chợt khĂŽng. Hơi thở vĂ o khĂŽng cĂł chỗ nơi, hơi thở ra khĂŽng xứ sở. Chỗ nơi xứ sở khĂŽng thĂŹ, hơi thở lĂ m gĂŹ thật cĂł. ThĂąn mạng nương hơi thở mĂ  cĂČn, thật quĂĄ tạm bợ giả dối. QuĂĄn sĂĄt như thế thĂŹ tĂąm chấp thật ngĂŁ tan biến. ĐĂŁ khĂŽng cĂČn chấp thĂąn lĂ  thật lĂ  lĂąu dĂ i, cần phải sang phĂĄp khĂĄc:

- HoĂ n.  HĂ nh giả chiếu soi lại tĂąm hay quĂĄn sĂĄt trước, xem nĂł ra sao vĂ  ở đĂąu? Soi tới soi lui vẫn khĂŽng thấy hĂŹnh bĂłng nĂł. Hằng chiếu soi lại tĂąm năng quĂĄn, tĂąm nĂ y tự lặng lẽ, tức lĂ  an định. Đến đĂąy phải tiến nấc chĂłt:

- Tịnh. HĂ nh giả buĂŽng cả chiếu lại tĂąm năng quĂĄn, chỉ cĂČn một tĂąm thanh tịnh tỉnh sĂĄng. KhĂŽng loạn tưởng, chẳng hĂŽn trầm, thuần một tĂąm lặng lẽ tỉnh sĂĄng. Hằng sống với cĂĄi tỉnh sĂĄng nĂ y, tức lĂ  chỗ cứu kĂ­nh của Lục Diệu PhĂĄp MĂŽn. Đến đĂąy dĂČng Ăœ thức sanh diệt đĂŁ tan biến, những vọng nghiệp do Ăœ thức gĂąy tạo cũng trong sạch, cĂČn gĂŹ phiền rộn lĂŽi cuốn hĂ nh giả đi vĂ o đường luĂąn hồi.

HĂ nh giả khĂ©o ứng dụng đĂșng mức Lục Diệu PhĂĄp MĂŽn lĂ  đầy đủ diệu dụng thoĂĄt khỏi luĂąn hồi sanh tử. Song lĂșc tu hĂ nh ắt cĂČn gặp nhiều khĂł khăn trở ngại vĂ  những tướng trạng lạ phĂĄt hiện, hĂ nh giả cần được thầy cĂł thực nghiệm hướng dẫn, mới hy vọng tu tiến dễ dĂ ng.

Thiền tuyệt đối:

PhĂĄp Thiền nĂ y do Phật ThĂ­ch-ca ở trong hội Linh Sơn đưa cĂ nh hoa lĂȘn, Tổ Ca-diếp cười chĂșm chĂ­m rồi được truyền tĂąm ấn. Truyền thừa mĂŁi đến vị Tổ thứ hai mươi tĂĄm lĂ  Bồ-đề-đạt-ma, NgĂ i sang Trung Quốc truyền cho Tổ Huệ Khả, lan dần sang Việt Nam, Triều TiĂȘn, Nhật Bản vĂ  tiếp tục đến hiện nay. Đến Trung Quốc, Tổ Đạt-ma dĂ”ng dạc tuyĂȘn bố phĂĄp nĂ y lĂ :

“GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN, TRỰC CHỈ NHÂN TÂM, KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT.” (Truyền ngoĂ i giĂĄo lĂœ, chỉ thẳng tĂąm người, thấy tĂĄnh thĂ nh Phật.) Qua cĂąu tuyĂȘn bố của NgĂ i, chĂșng ta thấy rĂ” tĂĄnh cĂĄch tuyệt đối của nĂł.

Thiền nĂ y tạm nĂłi cĂł hai lối tu: hoặc từ KHÔNG vĂ o CÓ, hoặc từ CÓ ra KHÔNG. Từ khĂŽng vĂ o cĂł lĂ , trước biết rĂ” tất cả phĂĄp giả dối khĂŽng thật, sau nhận ra chĂąn tĂąm chĂąn thật lĂ  thực thể tuyệt đối bất sanh bất diệt, hằng sống với nĂł lĂ  đạt đạo. Từ cĂł ra khĂŽng lĂ , trước nhận ra ĂŽng chủ chĂąn tĂąm, sau nhĂŹn ra cĂĄc phĂĄp đều hư giả tạm bợ, thường sống với ĂŽng chủ của mĂŹnh lĂ  thấy tĂĄnh thĂ nh Phật.

- Từ khĂŽng vĂ o cĂł.

HĂ nh giả dĂčng trĂ­ tuệ BĂĄt-nhĂŁ soi thấy sự vật do duyĂȘn hợp mĂ  cĂł, tự tĂĄnh lĂ  khĂŽng, khĂŽng cĂł thật tĂĄnh, chỉ cĂł giả tướng duyĂȘn hợp. NhĂŹn trĂȘn giả tướng thấy rĂ” tự tĂĄnh của nĂł lĂ  khĂŽng, tĂĄnh khĂŽng nĂȘn duyĂȘn hợp giả cĂł. DuyĂȘn hợp tạm gọi lĂ  sanh, duyĂȘn tan tạm gọi lĂ  diệt. Sanh diệt khĂŽng cĂł thực thể, chỉ lĂ  việc duyĂȘn hợp duyĂȘn tan. Sanh khĂŽng thật, diệt khĂŽng thật thĂŹ khắp nhĂąn gian cĂČn vật nĂ o thật đĂąu? Hằng dĂčng trĂ­ tuệ chiếu soi như thế, thấy tất cả sự vật quả lĂ  cĂĄi bĂłng hĂČn bọt, tự thể lĂ  khĂŽng. Thế nĂȘn, cửa thiền người đời gọi lĂ  cửa KHÔNG.

Nương cửa BĂĄt-nhĂŁ tiến vĂ o trong nhĂ  thấy được ĂŽng chủ lĂ  thĂ nh cĂŽng. Tức lĂ  từ cĂĄi giả nhận ra lẽ thật, dứt sạch vĂŽ minh ngĂ n đời, sống với trĂ­ tuệ viĂȘn mĂŁn lĂ  giĂĄc ngộ giải thoĂĄt. Lầm lẫn những giả tướng cho lĂ  thật, bỏ quĂȘn cĂĄi thật muĂŽn đời lĂ  vĂŽ minh. Giả tướng thĂŹ sanh diệt, thực thể chẳng hề sanh diệt, nĂȘn nhận ra vĂ  sống được với thực thể, lĂ  giải thoĂĄt luĂąn hồi sanh tử. ĐĂąy lĂ  “chỉ thẳng tĂąm người, thấy tĂĄnh thĂ nh Phật”. TĂĄnh lĂ  chỉ thực thể sẵn cĂł nơi mọi chĂșng sanh, khĂŽng do tạo tĂĄc thĂ nh khĂŽng do tu tập được. Người khĂ©o biết mọi cĂĄi giả rồi, tự nhận ra thực thể nĂ y, hằng sống với nĂł lĂ  “thấy tĂĄnh thĂ nh Phật” hiển bĂ y rĂ nh rĂ” nơi đĂąy vậy.

Song nĂłi phĂĄp nĂ y mĂ  khĂŽng cĂł phĂĄp, vĂŹ nĂł khĂŽng cĂČn đối đĂŁi đối trị, nĂȘn nĂłi “phĂĄp vốn khĂŽng phĂĄp” (phĂĄp bản vĂŽ phĂĄp). KhĂŽng cĂČn khuĂŽn trong hĂŹnh thức nĂ o. NĂȘn khĂŽng cĂł cĂĄch “nhập, trụ, xuất”, như cĂĄc phĂĄp thiền khĂĄc. Đọc hết cĂĄc tập sĂĄch nĂłi về thiền nĂ y, chĂșng ta khĂŽng tĂŹm đĂąu thấy một phương thức tu tập thứ tự. VĂŹ thế, đừng đĂČi hỏi một phương thức tu tập, hĂ nh giả cần tận dụng chiếc gươm BĂĄt-nhĂŁ dọn sạch khu rừng kiến chấp thĂŹ Bảo sở hiện bĂ y. Băn khoăn tĂŹm kiếm phương phĂĄp tu tập, chĂșng ta sẽ hoĂ n toĂ n thất vọng. HĂŁy nghe cĂąu hỏi của Tổ Huệ Khả cầu xin nơi Tổ Đạt-ma:

- TĂąm con chẳng an, xin HĂČa thượng dạy con phương phĂĄp an tĂąm?

- Đem tĂąm ra, ta an cho.

- Con tĂŹm tĂąm khĂŽng được.

- Ta đĂŁ an tĂąm cho ngươi rồi.

Tổ Huệ Khả lĂŁnh hội yếu chỉ.

Đọc đoạn sử nĂ y, chĂșng ta hoĂ n toĂ n vĂŽ vọng, tĂŹm đĂąu ra “phĂĄp an tĂąm”. Lời cầu xin tha thiết của Tổ Huệ Khả, đĂĄp lại bằng cĂąu nửa hư nửa thực của Tổ Đạt-ma, khiến chĂșng ta bối rối khĂł hiểu. Song ngay lĂșc đĂł, Tổ Huệ Khả lĂŁnh hội được. Thật lĂ  việc lạ đời Ă­t cĂł.

Trong lĂșc tọa thiền bị vọng tưởng dấy khởi nhiễu loạn khiến tĂąm bất an. Băn khoăn tĂŹm kiếm một phương phĂĄp an tĂąm lĂ  một điều tối cần yếu. Cho nĂȘn nghe ở đĂąu cĂł bậc thiện tri thức tu thiền, liền khăn gĂłi lĂȘn đường đến cầu phĂĄp an tĂąm. Nếu học được phĂĄp nĂ y hay phĂĄp nọ để an tĂąm, rốt cuộc cũng chỉ lĂ  lấy nĂłng trừ lạnh, dĂčng sĂĄng đuổi tối mĂ  thĂŽi. Tất cả thứ đối đĂŁi ấy đều lĂ  tướng giả dối khĂŽng thật. Tổ Đạt-ma khĂŽng dạy theo lối ấy, chỉ bảo “đem tĂąm ra, ta an cho”. NhĂŹn thẳng lại cĂĄi tĂąm nhiễu động lăng xăng kia, nĂł biến mất khĂŽng cĂČn tăm dạng. Tổ Huệ Khả đĂ nh thưa “con tĂŹm tĂąm khĂŽng được”. Tổ Đạt-ma chỉ cần nĂłi thĂȘm một cĂąu “ta đĂŁ an tĂąm cho ngươi rồi”. Tổ Huệ Khả liền thấy lối đi.

Từ thuở nĂ o, chĂșng ta cứ tin rằng cĂĄi tĂąm suy nghĩ lăng xăng lĂ  thật cĂł, hĂŽm nay tĂŹm lại khĂŽng thấy bĂłng dĂĄng, mới biết nĂł lĂ  khĂŽng. Biết nĂł khĂŽng thĂŹ nĂł đĂąu cĂČn khả năng lĂŽi cuốn quấy nhiễu chĂșng ta nữa. ChĂșng dấy lĂȘn, ta khĂŽng theo, tĂąm chẳng an lĂ  gĂŹ? Sở dĩ tĂąm ta chẳng an, vĂŹ vọng vừa dấy lĂȘn ta tĂčy thuận theo chĂșng, nghĩ việc nĂ y chưa xong, tiếp đến việc khĂĄc, chạy mĂŁi khĂŽng dừng. Nay đĂąy, chĂșng vừa dấy lĂȘn, ta biết lĂ  khĂŽng, khĂŽng theo, tự nĂł lặng mất, quả lĂ  “DiĂȘĂŻu thuật an tĂąm”. KhĂŽng nương một phĂĄp, chẳng mượn một tướng, nhĂŹn thẳng mặt vọng tưởng tự nĂł biến tan như mĂąy khĂłi, đĂąy lĂ  trực chỉ khĂŽng nương phương tiện. Ai khờ gĂŹ đuổi theo cĂĄi hư giả, cũng khĂŽng khờ gĂŹ cố tĂŹnh trừ diệt, chỉ cần biết nĂł hư ảo khĂŽng theo lĂ  đủ. Yếu chỉ an tĂąm của Tổ Đạt-ma lĂ  ở chỗ đĂł.

CĂł vị Tăng hỏi Thiền sư TĂŽng Mật (KhuĂȘ Phong): Thế nĂ o lĂ  tu? Sư đĂĄp: “Biết vọng tức lĂ  tu.” Thật lĂ  đ;ơn giản mĂ  quĂĄ đầy đủ. Biết vọng khĂŽng theo, tĂąm tự yĂȘn lặng, lĂ  diệu thuật của mĂŽn thiền nĂ y. Tuy nĂłi tu mĂ  khĂŽng tu, vĂŹ cĂł trừ cĂł dẹp, cĂł bồi bổ gĂŹ đĂąu? Chẳng qua dĂčng trĂ­ tuệ soi thấu cĂĄi giả dối, tĂąm tự lặng lẽ tạm gọi lĂ  tu.

PhĂĄp tu khĂŽng tu nĂ y, mở mĂ n bằng trĂ­ tuệ, chung cuộc sống với tĂąm thể nhất như. Thiền sư Duy TĂ­n đời Tống nĂłi: “Trước ba mươi năm, tĂŽi thấy nĂși sĂŽng lĂ  nĂși sĂŽng. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tĂŽi thấy nĂși sĂŽng khĂŽng phải nĂși sĂŽng. Nay được chỗ dứt sạch, thấy nĂși sĂŽng lĂ  nĂși sĂŽng.”

Trước ba mươi năm lĂ  lĂșc Sư chưa biết tu thiền, cĂĄi nhĂŹn của Sư cũng như tất cả cĂĄi nhĂŹn của phĂ m phu khĂĄc: Thấy nĂși lĂ  thật nĂși, thấy sĂŽng lĂ  thật sĂŽng, thấy người lĂ  thật người... Sau khi được thiện hữu tri thức chỉ dạy, Sư nhĂŹn nĂși sĂŽng khĂŽng cĂČn thật nĂși sĂŽng nữa, mĂ  lĂ  hợp thể giả dối do cĂĄc duyĂȘn chung hợp, tự tĂĄnh rỗng khĂŽng. Sư mở mắt trĂ­ tuệ nhĂŹn mọi vật, mĂŁi đến nay mọi nhiễm ĂŽ dĂ­nh mắc đều dứt sạch, chỉ hiện bĂ y lồ lộ một tĂąm thể thanh tịnh nhất như. Đến đĂąy, Sư nhĂŹn nĂși sĂŽng lĂ  nĂși sĂŽng, vĂŹ đĂŁ dứt sạch mọi kiến chấp, mọi phĂąn biệt. Quả lĂ  kẻ đi đến đĂ­ch của quĂŁng đường chim vậy.

ChĂșng ta sẽ thấy lối tu nĂ y cụ thể hơn, qua lời thầy Tri viĂȘn hỏi Thiền Sư DuyĂȘn QuĂĄn:

- Khi giặc nhĂ  khĂł giữ thĂŹ thế nĂ o?

- Biết được chẳng phải oan gia.

- Sau khi biết được thĂŹ sao?

- Biếm đến nước vĂŽ sanh.

- Nước vĂŽ sanh đĂąu khĂŽng phải chỗ y an thĂąn lập mạng?

- Nước chết khĂŽng chứa được rồng.

- Thế nĂ o lĂ  nước sống chứa rồng?

- Dậy mĂČi chẳng thĂ nh sĂłng.

- Bỗng khi đầm nghiĂȘng nĂși đổ thĂŹ thế nĂ o?

Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng thầy Tri viĂȘn bảo:

- Chớ nĂłi ướt gĂłc ca-sa của lĂŁo Tăng.

Giặc nhĂ  khĂł giữ lĂ  vọng tưởng do sĂĄu chĂș giặc (lục tặc) dẫn vĂ o. Biết vọng tưởng lĂ  giả dối, nĂł khĂŽng hại ta được, trĂĄi lại ta đĂŁ điều phục chĂșng. Sau khi biết nĂł, tự nĂł dừng lặng, cĂ ng lĂąu cĂ ng lặng lĂ  an trụ chỗ vĂŽ sanh. Nhưng đừng thấy đĂąy lĂ  cứu kĂ­nh, mĂ  phải chết chĂŹm trong ấy, cần phải phấn phĂĄt tỉnh giĂĄc, hằng tỉnh sĂĄng đầy đủ diệu dụng mĂ  khĂŽng động, mới thật nước sống chứa rồng. Đến đĂąy dĂč trời nghiĂȘng đất sụp cũng khĂŽng lay động tĂąm thiền giả, đĂł lĂ  “khĂŽng ướt gĂłc ca-sa của lĂŁo Tăng”.

ThĂ nh quả của lối tu nĂ y, khĂŽng phải được thần thĂŽng mầu nhiệm, biến hĂła tự tại, mĂ  quĂ­ ở chỗ tĂĄm giĂł (bĂĄt phong) thổi chẳng động. TĂĄm giĂł lĂ :

Lợi - Được tĂ i lợi tĂąm khĂŽng xao xuyến.

Suy - Gặp suy hao lĂČng vẫn thản nhiĂȘn.

Hủy - Bị hủy nhục lĂČng khĂŽng bực tức.

Dự - Được cĂŽng kĂȘnh tĂąm vẫn như khĂŽng.

Xưng -Được ngợi khen tĂąm vẫn bĂŹnh thản.

Cơ - Bị chĂȘ bai lĂČng khĂŽng biến đổi.

Khổ - Gặp đau khổ lĂČng vẫn an nhiĂȘn.

Lạc - Được việc vui tĂąm khĂŽng xao động.

Cho đến, dĂč đối đầu với hoĂ n cảnh nĂ o, gặp việc khĂł khăn gĂŹ, tĂąm vẫn như như bất động, đĂąy lĂ  thĂ nh cĂŽng viĂȘn mĂŁn của người tu thiền.

- Từ cĂł ra khĂŽng

Do nhận được chĂąn tĂĄnh nơi mĂŹnh, nhĂŹn ra vạn vật đều lĂ  tướng giả dối do nhĂąn duyĂȘn hĂČa hợp. ChĂąn tĂĄnh lĂ  thật tướng mĂ  khĂŽng tướng, rời cả nhĂąn duyĂȘn vĂ  tự nhiĂȘn, giĂĄc khĂŽng tăng mĂȘ cũng chẳng giảm, cĂČn nĂłi gĂŹ lĂ  thường hay vĂŽ thường. Linh minh tỉnh sĂĄng, hằng cĂł mặt nơi mọi chĂșng sanh, mĂ  chĂșng sanh tự bỏ quĂȘn, chĂșng sanh nhận được, gọi lĂ  Phật. ChĂșng ta hĂŁy nghe Thiền sư Đại An hỏi Tổ BĂĄ Trượng:

- Con muốn cầu biết Phật, thế nĂ o lĂ  phải?

- Thật lĂ  người cỡi trĂąu tĂŹm trĂąu.

- Sau khi biết thế thĂŹ thế nĂ o?

- Như người cỡi trĂąu về đến nhĂ .

- Chẳng biết trước sau gĂŹn giữ thế nĂ o?

- Như người chăn trĂąu cầm roi dĂČm chừng, khĂŽng cho nĂł ăn lĂșa mạ của người.

Sư lĂŁnh hội Ăœ chỉ.

ChĂșng ta đĂŁ cĂł Phật mĂ  khĂŽng dĂĄm tự nhận, mĂŁi chạy đi thưa hỏi, như người cỡi trĂąu tĂŹm trĂąu. Nhận được chĂąn tĂĄnh nơi mĂŹnh, khĂŽng cĂČn băn khoăn tĂŹm kiếm, như người cỡi trĂąu về đến nhĂ . Biết được chưa phải xong việc, cần bền chĂ­ chăm nom bảo vệ cho nĂł thuần phục, như; chĂș mục đồng cầm roi chăn trĂąu. ĐĂąy lĂ  yếu chỉ tu hĂ nh của người trước nhận ra ĂŽng chủ.

Sau nĂ y, Thiền sư Đại An dạy chĂșng:

Cả thảy cĂĄc ngươi đến Đại An nĂ y tĂŹm cầu cĂĄi gĂŹ? Nếu muốn lĂ m Phật, cĂĄc ngươi tự lĂ  Phật. Sao lại gĂĄnh Phật sang nhĂ  bĂȘn cạnh tĂŹm, luống tự nhọc nhằn. VĂ­ như con nai khĂĄt nước mĂ  chạy theo ĂĄnh nắng, biết bao giờ được khế hợp.

Cả thảy cĂĄc ngươi mỗi người cĂł hĂČn ngọc quĂ­ vĂŽ giĂĄ, từ cửa con mắt phĂłng quang soi sĂĄng nĂși sĂŽng cĂąy cỏ, từ cửa lỗ tai phĂłng quang nhận lĂŁnh phĂąn biệt tất cả Ăąm thanh lĂ nh dữ, sĂĄu cửa ngĂ y đĂȘm hằng phĂłng quang sĂĄng, cũng gọi lĂ  phĂłng quang tam-muội. CĂĄc ngươi tự chẳng biết, lại nhận bĂłng thĂąn tứ đại. NĂł lĂ  vật do trong ngoĂ i giĂșp đỡ khĂŽng dĂĄm chinh nghiĂȘng, như người gĂĄnh nặng đi qua cĂąy cầu khỉ, dĂš dặt sợ sảy chĂąn...

Qua hai đoạn dạy chĂșng của Thiền sư Đại An, chĂșng ta thấy Phật tĂĄnh đĂŁ sẵn nơi mĂŹnh, khĂ©o nhận lĂ  được, đừng chạy tĂŹm cầu bĂȘn ngoĂ i, cĂ ng tĂŹm cĂ ng nhọc nhằn vĂŽ Ă­ch. Phật tĂĄnh hiển lộ đầy đủ nơi sĂĄu căn chĂșng ta, cần nhĂŹn lại lĂ  thấy. Khổ nỗi, chĂșng ta khĂŽng khi nĂ o dĂĄm nhận nĂł, mĂ  hằng nhận thĂąn tứ đại nĂ y lĂ  mĂŹnh. ThĂąn tứ đại do duyĂȘn trong, ngoĂ i giĂșp đỡ, thiếu duyĂȘn lĂ  nĂł hoại liền, như người gĂĄnh nặng đi qua cĂąy độc mộc kiều, hớ chĂąn lĂ  tĂ© nhĂ o. QuĂȘn cĂĄi chĂąn thật, nhận cĂĄi giả dối thĂŹ phĂșt giĂąy nĂ o cũng lo Ăąu sợ sệt, ngại cơn vĂŽ thường bất chợt đến với nĂł. Nhận được cĂĄi chĂąn thật bất biến, mọi sợ sệt lo Ăąu đều tan mất, thĂŹ cĂČn cĂĄi gĂŹ hại được chĂąn tĂĄnh nĂ y, quả lĂ  Niết-bĂ n hiện tại trần gian.

CĂł vị Tăng hỏi Thiền sư Thạch Cựu:

- Thế nĂ o lĂ  hạt chĂąu trong tay Địa Tạng?

- Trong tay ĂŽng lại cĂł chăng?

- Con chẳng hội.

- Chớ dối đại chĂșng.

Sư nĂłi tụng :

Bất thức tự gia bảo

TĂčy tha nhận ngoại trần

Nhật trung đĂ o ảnh chất

Cảnh lĂœ thất đầu nhĂąn.

Dịch:

BĂĄu nhĂ  mĂŹnh chẳng biết

Theo người nhận ngoại trần

Giữa trưa chạy trốn bĂłng

Kẻ soi gương mất đầu.

ChĂșng sanh một bề chạy theo ngoại cảnh quĂȘn bẵng bản tĂąm. Chỉ cầu hỏi hạt chĂąu trong tay Bồ-tĂĄt Địa Tạng, quĂȘn lửng trong tay mĂŹnh sẵn cĂł hạt chĂąu. Hạt chĂąu ấy theo dĂ”i chĂșng ta như bĂłng theo hĂŹnh, mặc dĂč ta lăn lộn sĂĄu đường, lang thang trong tam giới, hạt chĂąu hằng cĂł mặt trong tĂși ĂĄo chĂșng ta. ChĂșng ta si mĂȘ bỏ quĂȘn nĂł, như chĂ ng Diễn-nhĂŁ xem gương thấy bĂłng đầu mặt hiện trong gương, Ășp gương lại bĂłng đầu mặt mất đi, hoảng la lĂȘn “tĂŽi mất đầu”. ChĂ ng ta phĂĄt cuồng ĂŽm đầu chạy la “tĂŽi mất đầu”. Tất cả chĂșng ta cũng thế, hằng ngĂ y cứ chạy theo vọng tưởng suy tĂ­nh, cĂł nĂł lĂ  cĂł mĂŹnh, một khi vọng tưởng lặng xuống, hoảng la “mất mĂŹnh”. Vọng tưởng lĂ  cĂĄi chợt sanh chợt diệt, khĂŽng cội gốc nơi chốn, mĂ  chấp lĂ  thật mĂŹnh. Khi vọng tưởng lặng xuống, mọi cĂŽng dụng thấy nghe hiểu biết vẫn nguyĂȘn vẹn, mĂ  nĂłi “mất mĂŹnh”. Thử hỏi ai lĂ  kẻ biết mất mĂŹnh?

KhĂ©o nhận ra ĂŽng chủ mới khỏi bị khĂĄch trần lừa gạt. Thiền sư PhĂĄp Diễn nĂłi:

“Ta cĂł một vật chẳng thuộc phĂ m chẳng thuộc thĂĄnh, chẳng thuộc tĂ  chẳng thuộc chĂĄnh, muĂŽn việc khi đến tự nhiĂȘn hiệu lệnh.”

Ông chủ của chĂ­nh mĂŹnh lĂ  thực thể tuyệt đối, khĂŽng cĂČn thấy cĂł hai bĂȘn phĂ m thĂĄnh chĂĄnh tĂ  đối đĂŁi. Tuy khĂŽng cĂł niệm phĂąn biệt đối đĂŁi, song xĂșc duyĂȘn chạm cảnh liễu tri rĂ nh rĂ”. Ông chủ nĂ y chưa từng sanh chưa từng diệt, nĂȘn gọi lĂ  phĂĄp thĂąn bất diệt. Bởi khĂŽng sanh diệt, nĂȘn chĂąn thật thường hằng, mĂ  khĂŽng cĂł tướng trạng, thường vĂ­ như hư khĂŽng. Từ PhĂĄp thĂąn nhĂŹn ra thĂąn tĂąm vạn vật đều thấy tạm bợ giả dối, khĂŽng cĂł bằng mảy tơ sợi tĂłc nĂ o chĂąn thật, nĂȘn nĂłi: như bọt, bĂłng, sương mĂč, điện chớp... Đi đứng nằm ngồi đều sống với ĂŽng chủ nĂ y lĂ  tu thiền VĂŽ sanh.

Thiền sư Sư Nhan ngồi một mĂŹnh trĂȘn tảng đĂĄ, thỉnh thoảng gọi: “Ông chủ nhĂąn!” Tự đĂĄp: “Dạ!” Bảo: “Phải tỉnh tỉnh đừng để người lừa!”

Tự gọi tự đĂĄp dường như việc đĂča cợt chơi. ChĂ­nh lĂ  lối tu tự nhắc mĂŹnh khĂŽng quĂȘn ĂŽng chủ. Đừng để ngoại cảnh đĂĄnh lừa, hằng tỉnh sĂĄng với ĂŽng chủ ngĂ n đời của mĂŹnh. Quả lĂ  phĂĄp tắc muĂŽn đời cho những người biết sống trở lại mĂŹnh. Biết trở lại mĂŹnh lĂ  về quĂȘ hương, lĂ  đến Bảo sở, lĂ  CĂčng tử được cha trao sự nghiệp, lĂ  Niết-bĂ n, lĂ  giĂĄc ngộ, lĂ  giải thoĂĄt... Trăm ngĂ n danh từ khĂĄc nhau đều chỉ một việc “trở về với mĂŹnh”. ĐĂșng với cĂąu “thiĂȘn thượng thiĂȘn hạ duy ngĂŁ độc tĂŽn”. Bởi vĂŹ trở về được với mĂŹnh, lĂ  muĂŽn việc bĂȘn ngoĂ i đều theo đĂł giải quyết xong.

PhĂĄp thiền nĂ y cĂł đặt thời khĂła tu tập cố định khĂŽng?

Thiền nĂ y khĂŽng đặt nặng thời khĂła (chỉ tĂčy hoĂ n cảnh thuận tiện), mĂ  chĂș trọng tĂąm niệm. Trong tất cả thời, mọi ho&#7841;t động đi đứng ngồi nằm, lĂ m việc nghỉ ngơi, cần thấy rĂ” từng tĂąm niệm của mĂŹnh, để khĂŽng theo, hoặc hằng sống với ĂŽng chủ, khĂŽng bị ngoại duyĂȘn lĂŽi cuốn. Những phĂșt giĂąy nĂ o quĂȘn lửng tĂąm niệm mĂŹnh, coi như phạm tội buĂŽng lung đĂĄng trĂĄch. Cho nĂȘn nĂłi “đi đứng, nĂłi nĂ­n, hĂĄi củi, lặt rau, thổi lửa, nấu cơm đều lĂ  thiền”. Người tu thiền nĂ y, mới nhĂŹn dường như họ thong thả lơi lỏng, thật ra họ miĂȘn mật từng tĂąm niệm. Thiền nĂ y lĂ  cội gốc thĂ nh Phật tĂĄc Tổ.

Một hĂŽm, Vương Thường Thị vĂ o thăm Thiền viện của Tổ LĂąm Tế, đến nhĂ  ĐĂŽng sang nhĂ  TĂąy, thấy chĂșng đĂŽng đảo, ĂŽng hỏi Tổ LĂąm Tế:

- ChĂșng đĂŽng đảo thế nĂ y, cĂł dạy tụng kinh, tọa thiền chăng?

- KhĂŽng.

- Dạy họ lĂ m gĂŹ?

- Dạy họ lĂ m Phật lĂ m Tổ.

Đấy lĂ  phĂĄp tu tinh tế vi mật trong tĂąm niệm, khĂŽng thuộc hĂŹnh thứĂčc bĂȘn ngoĂ i. Tổ LĂąm Tế cũng nĂłi: “Kẻ ngu cười ta, người trĂ­ biết ta.” Kẻ phĂ m ngu khĂł hiểu nổi lối tu nĂ y, bậc trĂ­ giả khả dĩ thĂŽng suốt. Lối tu nĂ y khĂŽng cĂł cấp bậc phương tiện, chỉ một bề sống với lĂœ tĂĄnh chĂąn thật. LĂœ tĂĄnh khĂŽng cĂł tướng mạo, nĂȘn người tu khĂł nhận, khĂł thấy sự tiến bộ của mĂŹnh. Do đĂł, đĂČi hỏi người tu phải lập chĂ­ sắt đĂĄ, mới mong cĂł ngĂ y thĂ nh cĂŽng.

Tuy nhiĂȘn, cũng cĂł những người học lĂłm phĂĄp thiền nĂ y, ngoĂ i miệng nĂłi bĂŽ bĂŽ, mĂ  trong tĂąm khĂŽng khi nĂ o biết thĂșc liễm, chỉ mượn lời Phật Tổ nĂłi, để che lỗi của mĂŹnh. Bọn nĂ y lĂ  kẻ trộm trong Phật phĂĄp mắc tội khĂŽng nhỏ.

- Biện minh.

Đọc phần Thiền tuyệt đối ở trĂȘn, đa số độc giả sanh nghi:

- Đạo Phật chủ trương VĂŽ ngĂŁ, ở đĂąy bảo trở về “Ông chủ của mĂŹnh” lĂ  cĂł ngĂŁ, tức trĂĄi hẳn giĂĄo lĂœ?

- Trong kinh Phật hằng quở chấp Thường chấp Đoạn của ngoại đạo, ở đĂąy nĂłi “Ông chủ thường hằng khĂŽng biến đổi” đĂąu khĂŽng đồng chấp Thường của ngoại đạo?

ChĂșng tĂŽi theo thứ tự giải quyết hai nghi vấn nĂ y:

- Đạo Phật chủ trương vĂŽ ngĂŁ, lĂ  vĂŽ ngĂŁ ngay nơi thĂąn ngũ uẩn nĂ y. Bởi vĂŹ BĂ -la-mĂŽn căn cứ vĂ o thọ tưởng hĂ nh thức chấp lĂ m ngĂŁ, Phật biết rĂ” nĂł lĂ  tướng vĂŽ thường sanh diệt nĂȘn nĂłi vĂŽ ngĂŁ. Phật chia nĂł lĂ m bốn thứ, đặt cĂąu hỏi: Nếu chấp thọ lĂ m ngĂŁ thĂŹ tưởng hĂ nh thức lĂ  cĂĄi gĂŹ? Ngược lại, cĂĄc thứ kia cũng thế. Nhằm trĂȘn năm uẩn chấp lĂ m ngĂŁ, thật sai lầm đĂĄo để. Năm thứ nĂ y lĂ  tướng duyĂȘn hợp, vĂŽ thường sanh diệt, chấp nĂł lĂ  “ta” lĂ m sao khỏi luĂąn hồi sanh tử. VĂŹ thế, kẻ chấp năm uẩn lĂ m ngĂŁ, Phật bảo lĂ  vĂŽ minh, NgĂ i phản đối vĂ  nĂłi lĂ  vĂŽ ngĂŁ.

Ông chủ của thiền nĂ y nĂłi, cũng ngay nơi thĂąn năm uẩn nĂ y, song lĂ  thể chẳng sanh chẳng diệt lặng ngầm trong ấy. Thể nĂ y, khi thọ tưởng hĂ nh thức lặng mất, nĂł mới hiện bĂ y đầy đủ. NĂł chẳng rời thọ tưởng hĂ nh thức, nhưng khi cĂĄc thứ nĂ y hoạt động, tĂŹm nĂł khĂŽng ra. Ông chủ nĂ y lĂ  thể tịch tĩnh giĂĄc tri chưa từng xao động biến hoại. ChĂșng ta thử nghiệm xem, khi ngồi thiền hay ngồi một mĂŹnh chỗ vắng, thọ tưởng hĂ nh thức lặng mất khĂŽng hoạt động, ta vẫn tỉnh sĂĄng mắt tai... vẫn tri giĂĄc như thường. CĂĄi gĂŹ chịu trĂĄch nhiệm tri giĂĄc trong lĂșc nĂ y, nếu khĂŽng phải tĂĄnh giĂĄc tịch tĩnh thường cĂČn bĂȘn trong. Thế nĂȘn, ở đĂąy nĂłi “îng chủ” vẫn khĂŽng trĂĄi với chủ trương vĂŽ ngĂŁ của đạo Phật. CĂł sống thật, chĂșng ta mới thấy rĂ” điều nĂ y, đừng mắc kẹt trĂȘn văn tự cĂŁi lẽ suĂŽng vĂŽ Ă­ch.

- Ngoại đạo chấp “thường” cũng căn cứ trĂȘn thĂąn năm uẩn mĂ  chấp. ThĂąn năm uẩn vốn lĂ  tướng sanh diệt vĂŽ thường, cĂĄi vĂŽ thường mĂ  chấp lĂ  Thường, nĂȘn bị Phật quở trĂĄch. Ông chủ ở đĂąy nĂłi, lĂ  thực thể chưa từng động, chưa từng sanh diệt, khĂŽng cĂł tướng mạo, vượt ngoĂ i đối đĂŁi hai bĂȘn, nĂłi “thường hằng khĂŽng biến đổi” lĂ  gượng gạo mĂ  nĂłi thĂŽi. VĂŹ thực thể tuyệt đối, cĂČn dĂčng ngĂŽn ngữ đối đĂŁi nĂ o phĂŽ diễn nĂł được. CĂł nhận thấy tĂĄnh giĂĄc nĂ y, chĂșng ta mới tin lẽ “thường hằng” của nĂł. PhĂ m cĂĄi gĂŹ cĂł tướng mạo, cĂł sanh diệt đều vĂŽ thường, tĂĄnh giĂĄc thoĂĄt ngoĂ i tướng mạo, sanh diệt lĂ m sao bắt nĂł vĂŽ thường. Nếu khĂŽng cĂł tĂĄnh giĂĄc nĂ y, cĂĄi gĂŹ chứng A-la-hĂĄn, cĂĄi gĂŹ thĂ nh Phật, sau khi thọ tưởng hĂ nh thức đều lặng mất? VĂŹ lẽ đĂł, ở đĂąy nĂłi “Ông chủ thường cĂČn chẳng biến hoại”, khĂŽng trĂĄi với lĂœ vĂŽ thường của Phật nĂłi, cũng khĂŽng thuộc chấp “thường” của ngoại đạo, mĂ  lĂ  chủ yếu của Phật giĂĄo.


KẾT LUẬN

Những vấn đề đĂŁ trĂŹnh bĂ y qua, chĂșng tĂŽi cố gắng cĂŽ đọng trong một khuĂŽn khổ rất nhỏ hẹp, giống như việc “lấy thĂșng Ășp voi”, khĂł trĂĄnh khỏi lỗi khĂł hiểu vĂ  thiếu sĂłt. ChĂșng tĂŽi chỉ mong độc giả nhận được then chốt của mỗi vấn đề, cần đi sĂąu vĂ o chi tiết, sẽ nhờ những quyển kinh sĂĄch khĂĄc, hoặc nhờ sự dắt dẫn của Tăng, Ni hay Thiện hữu. Ôn lại then chốt thiết yếu, cĂł thể nĂłi:

Phật lĂ  người đĂŁ giĂĄc ngộ vĂ  giải thoĂĄt sanh tử, đĂł lĂ  vị trĂ­ căn bản của NgĂ i. ChĂșng ta đừng xĂȘ dịch, đừng tĂŽ điểm, dừng Ă©p buộc NgĂ i phải rời chỗ căn bản ấy.

Phật phĂĄp lĂ  những lời giảng dạy chỉ ra lẽ thật: Lẽ thật trĂȘn hĂŹnh tướng sự vật lĂ  nhĂąn quả, lẽ thật trong sự cấu tạo kết hợp lĂ  duyĂȘn sanh, lẽ thật thầm lặng trong bản thể lĂ  chĂąn khĂŽng hay Phật tĂĄnh.

Học Phật lĂ  tiến bước trĂȘn con đường giĂĄc ngộ, lĂ  nhận hiểu phĂĄn xĂ©t nh919;ng lẽ thật của Phật dạy, đem chỗ nhận hiểu ứng dụng vĂ o cuộc sống con người. Thực hiện được những điều nĂ y, cần nhờ cặp mắt trĂ­ tuệ sĂĄng suốt mới thĂ nh cĂŽng.

Tu Phật lĂ  ứng dụng những lẽ thật đĂŁ nhận xĂ©t được vĂ o cuộc sống hằng ngĂ y của mĂŹnh. Gỡ sạch mọi phiền nĂŁo kiến chấp đang trĂłi buộc khắn chặt trong tĂąm tư chĂșng ta, đem lại sự an lạc ngay trong hiện tại vĂ  miĂȘn viễn ở vị lai. Chẳng những thế, tu Phật cĂČn cĂł nghĩa vượt ra ngoĂ i vĂČng đối đĂŁi sanh diệt, thoĂĄt khỏi mọi khuĂŽn khổ hạn cuộc, lĂ m người tự do tự tại.

Với những điểm chủ yếu trĂȘn, chĂșng ta nhận thức chắc chắn sĂąu xa, lĂ  trong tay đĂŁ cĂł sẵn ngọn đuốc sĂĄng, trĂȘn con đường về quĂȘ ắt khĂŽng đến nỗi lạc lầm. GiĂĄ trị của Phật phĂĄp lĂ  biết để hĂ nh, khĂŽng phải biết để nĂłi. Thực hĂ nh sĂąu chừng nĂ o, cĂ ng thấy giĂĄ trị Phật phĂĄp cao chừng ấy. Biết để nĂłi, lĂ  người trĂŹnh bĂ y đủ mọi thức ăn, mĂ  bụng vẫn đĂłi; lĂ  nhĂąn viĂȘn phĂĄt ngĂąn trong ngĂąn hĂ ng cả ngĂ y đếm tiền, khi ra về chỉ hai tay khĂŽng. ChĂșng tĂŽi ước mong độc giả của quyển sĂĄch nĂ y khĂŽng đến nỗi như thế.

HẾT

FLISAÿÿÿÿÿÿÿÿFCISj à éŽ